Hoằng Dương Luật Học - Dĩ Giới Vi Sư

Hoằng Dương Luật Học - Dĩ Giới Vi Sư

Giới Luật là mạng mạch cuả Phật Pháp Giới Luật còn ắt Phật Pháp còn Chứng minh: HT Luật Sư Thích Minh Thông - Luật chủ Giới Đài Viện Huệ Nghiêm.

Sư Ông Làng Mai và những lời dạy

Nếu chúng ta bình an, chúng ta hạnh phúc, chúng ta có thể cười. Và mọi người trong gia đình, trong xã hội có thể hưởng niềm vui từ chính sự bình an của ta.

#SưÔngLàngMai
#ThichNhatHanh

Phật Sự Online

Trực tiếp Toạ đàm: HÌNH THÀNH - PHÁT TRIỂN & SỰ ĐÓNG GÓP CỦA NI GIỚI ĐỐI VỚI XH NGÀY NAY

Sư Ông Làng Mai và những lời dạy

Đừng nghĩ quá nhiều về việc phải làm ngay điều gì đó cho người khác - cần phải đặt vấn đề cuộc sống của bản thân mình lên trước. Cuộc sống của bạn phải an lành, phải vui vẻ, hạnh phúc. Khi đó bạn mới có thể hành động để tạo ra niềm vui và hạnh phúc.

Thiền Sư Thích Nhất Hạnh

AN CƯ KIẾT HẠ:
XUẤT GIỚI NHƯ THẾ NÀO LÀ ĐÚNG PHÁP?
HT. Thích Minh Thông (Khánh Hòa)

Vừa qua, có một số ý kiến phản ánh về báo Giác Ngộ, trong mùa an cư kiết hạ, sao vẫn thấy một vài chư Tăng Ni đi đây đó, như vậy có đúng với giới luật hay không? Đây cũng là câu hỏi đã được nêu ra tại các khóa bồi dưỡng về giới luật gần đây. Chúng tôi xin giới thiệu ý kiến của HT.Thích Minh Thông (ảnh), Phó Trưởng ban Thường trực BTS GHPGVN tỉnh Khánh Hòa, Hiệu trưởng Trường TCPH Khánh Hòa, một trong những vị giáo phẩm am tường Luật tạng, về vấn đề này.

An cư kiết hạ là một hình thức sinh hoạt đặc thù của chư Tăng. Trong thời gian an cư, đời sống Tăng-già có những Tăng sự mà ngày thường không có như xuất giới, tự tứ… Tất cả những hoạt động Tăng sự như vậy đều được Đức Phật tùy duyên chế định. Việc thực hiện nghiêm túc các pháp ấy, không chỉ là sự phụng hành lời dạy của Ngài “lấy giới luật làm thầy”, mà còn giúp đoàn thể Tăng-già ổn định, trường tồn.

Mỗi năm từ đầu mùa mưa (ở Ấn Độ), theo chế định của Đức Phật, chư Tăng đều phải an cư kiết hạ. Đó là bổn phận và trách nhiệm của một Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni đối với sự tu tập của mình. Bởi đó không chỉ là sự tuân thủ giới luật mà Đức Phật đã đề ra, mà còn là sự “tự nguyện” dành cho mình một khoảng thời gian tu tập, sống chung trong cộng đồng Tăng-già từ các nơi tập trung về. Tất cả đều sống chung trong tinh thần hòa hợp “sáu pháp hòa kính”.

Xuất giới và thọ nhật - được phép ra khỏi nội giới an cư thế nào?

Theo quy định, thời gian an cư 3 tháng tất cả hành giả đều không được ra khỏi cương giới an cư đã quy định, thường là phạm vi đại giới. Trừ trường hợp đi khất thực. Nhưng sau khi xong thì phải trở về ngay lại nội giới. Phạm vi đại giới này tùy theo phạm vi khi kết giới an cư. Đại giới có thể bằng khuôn viên tự viện. Hoặc đại giới có thể kết rộng ra bằng một khu vực nhất định, bằng 10 câu-lô-xá (tương đương 18km hoặc 36km tùy theo cách tính). Khoảng cách này đủ để một người có thể đi về trong ngày.

Tuy nhiên có trường hợp vị xuất giới (tức ra khỏi cương giới quy định) không thể quay về trong ngày, về trước khi ánh sáng mặt trời (minh tướng) xuất hiện. Việc đi qua đêm như vậy phải tác bạch “thọ nhật” như pháp mới được xuất giới. Tất nhiên, việc xuất giới qua đêm như thế phải là những công việc vì Tăng sai, công việc chung của Tăng, việc của cư sĩ, những nhân duyên chính đáng…

Căn nguyên được ghi lại về việc Đức Phật khai cho việc “cấm túc” được ra khỏi nội giới an cư là do có cư sĩ thỉnh mời. Trưởng giả Ưu-đà-diên (Udena) ở Kiều-tát-la (Kosala) thỉnh chư Tăng đến nhà thọ trai và thuyết giảng giáo pháp nhân mùa an cư. Tuy nhiên, do nhà ông ở xa, chư Tăng không thể đi và trở về lại trú xứ an cư trong ngày, nên không thể nhận lời của trưởng giả Ưu-đà-diên. Việc này được thưa thỉnh lên Đức Phật. Ngài đã cho phép chư Tăng được xuất giới trong 7 ngày. Sau đó vì những lý do khác, việc xuất giới được Đức Phật cho phép nới rộng ra 2 tuần, 1 tháng hoặc hơn. Tuy nhiên thời gian không được quá 40 ngày. Trường hợp xuất giới nhiều lần thì tổng số ngày xuất giới cũng không được quá 40 ngày. Nếu vượt số ngày quy định này thì coi như vị đó “phá hạ”.

Nói là 7 ngày hay 40 ngày nhưng thực chất chỉ có 6 ngày hay 39 ngày, vì trong ngày cuối cùng phải về lại nội giới, tức là đêm cuối cùng phải có mặt tại trú xứ an cư. Thời hạn này không thể vượt qua, vì Đức Phật quy định thời gian ở trong nội giới phải nhiều hơn thời gian ở ngoài. Nếu vượt thời hạn này coi như bị phá hạ.

Riêng chư Ni, thời gian quy định có sự khác biệt so với chư Tăng. Theo luật Tứ phần thì chư Ni chỉ được được phép xuất giới trong 7 ngày. Không được vượt quá số ngày này như chư Tăng, tức là tối đa chỉ được 7 ngày trong một lần thọ thất nhật. Ở các bộ luật, chư Ni đều không có pháp yết-ma thọ nhật. Vì chúng ta thọ trì bộ luật Tứ phần nên áp dụng những quy định cho phép chư Ni thọ nhật xuất giới 7 ngày. Và phải trở về nội giới đúng theo quy định, không có trường hợp khai mở.


Tác pháp thọ nhật thế nào mới đúng pháp?

Tùy theo việc thọ nhật xuất giới bao nhiêu ngày mà có thể thức tác pháp. Có hai hình thức xin thọ nhật xuất giới: đối thú thọ nhật và yết-ma thọ nhật (bạch nhị yết-ma).

Theo luật, việc thọ nhật 7 ngày trở lại chỉ cần đối thú trước một Tỳ-kheo, tác pháp xin xuất giới. Trước khi xuất giới, Tỳ-kheo phải tác pháp thọ nhật chứ không thể tự tiện xuất giới đi ra ngoài. Đây là pháp đối thú, không phải bạch Tăng, mà chỉ cần bạch với một vị Tỳ-kheo đang an cư trong cùng một trú xứ là được.

Nếu tại trú xứ không có Tỳ-kheo, cũng có thể nói với Sa-di hoặc cư sĩ việc xuất giới. Trường hợp không có ai thì chỉ “tâm niệm tác pháp”. Tỳ-kheo thọ an cư xuất giới mà không tác pháp thì coi như mất hạ.

Với trường hợp Ni, vì Phật quy định Tỳ-kheo-ni phải ở trong chúng (không được ở một mình ngay cả thường ngày) và nương theo Tăng trong mùa an cư, nên Tỳ-kheo-ni không có pháp nói với Sa-di, cư sĩ và đặc biệt không có “tâm niệm tác pháp” như Tỳ-kheo khi muốn xuất giới 7 ngày.

Theo luật Thập tụng, trường hợp thọ nhật xuất giới 7 ngày nhưng thời hạn hết mà công việc chưa xong, phải trở về lại trú xứ, sau đó tác pháp “Tàn dạ” rồi mới có thể xuất giới trở lại chỗ duyên sự trước đó. Tàn dạ nghĩa là đêm còn dư. Và, cũng tác pháp đối thú như khi xuất giới, nhưng văn tác bạch khác.

Chư Tăng TP.HCM tác pháp an cư tại Việt Nam Quốc Tự - Ảnh Bảo ToànChư Tăng TP.HCM tác pháp an cư tại Việt Nam Quốc Tự - Ảnh: Bảo Toàn

Đối với các trường hợp xuất giới nửa tháng, một tháng hoặc tối đa 40 ngày thì phải bạch Tăng. Sau khi Tăng đã tác pháp yết-ma thọ nhật thì đương sự mới được phép xuất giới. Tỳ-kheo muốn xuất giới thỉnh 4 vị Tỳ-kheo vào giới trường của trú xứ để tác pháp bạch nhị yết-ma. Tỳ-kheo-ni không có pháp này.

Sau khi Tăng đã yết-ma thọ nhật, Tỳ-kheo thọ nhật phải rời khỏi trú xứ trong ngày, không được để cách đêm. Nếu đã bước chân ra khỏi cương giới thì không quay trở lại. Nếu quay trở lại thì phải thỉnh Tăng tác pháp yết-ma thọ nhật lại từ đầu, sau đó mới được xuất giới.

Phá hạ

Phá hạ là hành vi vi phạm các điều quy định trong an cư mà Đức Phật đã chế định. Phá hạ chủ yếu do việc xuất giới - rời khỏi trú xứ an cư. Theo luật, có hai trường hợp phá hạ: phá hạ hợp pháp (không mất hạ) và phá hạ không hợp pháp (mất hạ).

Những Tỳ-kheo tự mình bước ra khỏi cương giới phạm vi trú xứ an cư mà không có duyên sự chính đáng, không tác pháp đúng pháp cho những trường hợp 7 ngày hoặc quá 7 ngày thì phá hạ. Tỳ-kheo-ni cũng vậy, không tác pháp đối thú thọ thất nhật mà đi ra khỏi nội giới thì phá hạ. Hoặc xin thọ nhật 7 ngày nhưng đi vượt quá số ngày đó thì cũng bị phá hạ. Những vị ấy coi như mất hạ của mùa an cư năm đó.

Trường hợp phá hạ hợp pháp là do những tai nạn xảy ra bất ngờ. Hoặc khi thọ nhật xuất giới đã hết hạn mà tai nạn xảy đến với đương sự và không thể trở về lại nội giới an cư đúng thời hạn. Trường hợp tại trú xứ có nạn, phải rời đi đến trú xứ khác tiếp tục an cư thì không coi là phá hạ. Nếu rời đi mà không tiếp tục an cư ở trú xứ khác thì coi như phá hạ.

Theo luật, có 8 trường hợp tai nạn được coi là phá hạ hợp pháp: 1- Nguy hiểm phạm hạnh: tại trú xứ an cư, Tỳ-kheo có thể bị người quyền thế ép buộc phá giới, những người nữ thường đến quyến rũ phá giới, cha mẹ thân quyến thuyết phục phá giới. Để đảm bảo đời sống xuất gia và tịnh hạnh, Tỳ-kheo có thể rời trú xứ. 2- Nguy hiểm vì kho tàng: sau khi an cư, biết tại trú xứ có kho tàng có thể xảy ra nguy hiểm, Tỳ-kheo có thể rời trú xứ. 3- Quỷ phá hoại: tại trú xứ thường bị ma quỷ quấy phá, đe dọa sinh mạng, Tỳ-kheo có thể rời trú xứ. 4- Rắn độc đe dọa sinh mạng. 5- Thú dữ đe dọa sinh mạng. 6- Giặc cướp đe dọa sinh mạng. 7- Thiếu thốn các nhu cầu tối thiểu: ăn uống, thuốc men hoặc không có người giúp đỡ. 8- Phá Tăng: Tăng tại trú xứ an cư không hòa hợp, đang có sự chia rẽ, Tỳ-kheo không muốn bị lôi cuốn vào các phe phái tạo ra tranh chấp, không thể hòa hợp; Tỳ-kheo có thể rời bỏ trú xứ.

Khai Đạo Giới Tử

giacngo.vn

HT.Minh Thông nói nhân duyên Phật định chế việc an cư

giacngo.vn GNO - Theo đó, trên trang Sự kiện - Vấn đề, PV báo Giác Ngộ đã có cuộc hầu chuyện với HT.Thích Minh Thông...

giacngo.vn

HT.Thích Minh Thông: An cư kiết hạ là trách nhiệm của Tăng sĩ

giacngo.vn GN - An cư của Tăng đoàn là một hình thức sinh hoạt đặc thù, được Đức Phật quy định trong giới luật.

[07/06/17]   Tăng sĩ trẻ thời hiện đại và việc giữ gìn giới luật như thế nào?
Là Tăng sĩ, việc “thượng cầu hạ hóa” đưa đạo vào đời là hoài bảo, song việc dụng tâm giữ gìn phạm hạnh không bị đồng hóa bởi thế tục là điều luôn luôn canh cánh bên lòng. Hai chữ “tùy duyên” được chúng ta thực hiện sao cho nó có ý nghĩa tích cực: “tùy thuận chúng sanh, dĩ văn tải đạo” đừng để nó bị biểu thị theo nghĩa “phan duyên trần cảnh, ô nhiễm thân tâm”.
Tuy nhiên với một xã hội hiện đại hóa, văn minh và phát triển, thì chúng ta cũng dùng chút phương tiện giáo hóa thế gian, mới hòa nhập vào cuộc sống của mỗi cá nhân, gia đình và xã hội một cách hợp lý và đầy trí tuệ.
Nhưng với hình thức nào, phương tiện ra sao,căn bản của người xuất gia thì không thể phương tiện được, nói rõ hơn cái gì thuộc về giới tánh, giới thể cái đó không thể phương tiện được.
Nhưng người xuất gia có quyền hòa nhập vào cuộc đời bởi vì “Phật pháp bất ly thế gian giác”. Nhưng không cho nó hòa hợp và hòa tan một cách dễ dàng, ta không nên phương tiện quá khiến mình trở nên thế tục hóa lúc nào không hay.
Với người xuất gia trẻ thời nay có đầy đủ khả năng làm cho Phật pháp hưng thịnh và phát triển mạnh, song bên cạnh đó cũng không ít thành phần tham gia phá hoại làm cho Phật pháp ngày một giảm đi. Mặc dù Phật giáo chú trọng về tâm, về tánh không đặt nặng về tướng lắm, nhưng một con sâu làm rầu nồi canh, một đống phân nhỏ có thể làm ô uế căn nhà rộng, do đó ta không thể xem thường được.
Nhiều người xuất gia trẻ thời bây giờ dễ rơi vào trường hợp này, nhưng họ không hề hay biết vì cho rằng phương tiện hóa. Ở đây chúng tôi không tiện nói rõ ra, nhưng hy vọng rằng họ sẽ tỉnh thức trong một mai, cho dù hành vi đó trong giới điều của Phật không có nhưng nó rất nguy hiểm cho Phật giáo chúng ta.
Sống trong một cộng đồng, thường thường cái gì được cho là tốt đẹp thì tập trung phát triển mạnh, điều đó cũng xảy ra không ít phiền toái. Phật giáo đang phát triển trên khắp năm châu bốn bể, nhưng chúng ta đừng sớm hãnh diện và chủ quan mà phải nỗ lực, phấn đấu để bảo vệ Phật pháp ngày càng trong sáng và lành mạnh hơn, vì Phật giáo chúng ta là đạo trí tuệ, đạo bình đẳng, là đạo sống cho nhân loại, không để cho một vết nhơ mà nhòa cả trang giấy trắng.
Trong kinh đức Phật dạy rằng: “tất cả các ma vương ngoại đạo, không ai có thể phá hoại được giáo pháp của ta, chỉ có đệ tử ta mới làm cho giáo pháp ta bị hủy diệt”. “Chỉ có trùng trong thân sư tử mới ăn được thịt sư tử mà thôi”.[33]
Trích : "Giới Luật Phật Giáo Và Những Vấn Đề Xã Hội" - Thích Ngộ An

Báo Giác Ngộ

Chư Tăng & chư Ni có được bố-tát chung hay không?

http://giacngo.vn/vanhoa/2017/07/04/5E50C9/

Báo Giác Ngộ

Phải chăng Tạng Luật là “bí tạng” chỉ dành riêng cho các vị Tỳ-kheo?

GN - “Tạng Luật phải chăng là bí tạng dành riêng cho các vị Tỳ-kheo, các chúng khác không có quyền biết đến?”, HT.Thích Phước Sơn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học VN, một trong những vị giáo phẩm uyên thâm Luật tạng đã khẳng định ý kiến đó không có cơ sở theo tinh thần Phật giáo.

http://giacngo.vn/phathoc/luockhao/2017/07/05/5A40C9/

BÁT KỈNH PHÁP - Tám pháp thành tựu của Tỳ-kheo Ni
Hòa Thượng Luật Sư Thích Minh Thông
Một trong những vai trò phục hưng xã hội và cách mạng văn hóa của Đức Phật, điều mà đôi khi bị các sử gia lãng quên, đó là giải phóng phụ nữ. Đức Phật phát huy một cuộc cách mạng trong tư tưởng và trong lối cảm xúc của đại chúng bằng cách công khai và can đảm tuyên bố rằng người nữ có thể đạt đến mức tiến bộ tuyệt đỉnh, thành tựu trí tuệ thâm sâu dẫn tới Niết bàn. Tuyên ngôn này đã gây một biến động lớn lao trong giới tôn giáo thời bấy giờ vì đó là trực tiếp đương đầu với niềm tin đã ăn sâu vững chắc trong dân gian. Sự kiện Đức Phật chấp nhận thành lập giáo hội Tỳ kheo ni (*), nâng vị trí người nữ đến mức quan trọng nhất, là việc làm duy nhất và chưa từng thấy trong lịch sử tôn giáo cũng như các trường phái tư tưởng được biết trước và ngay thời Đức Phật. Đây là một sự canh tân mới lạ phi thường vì nó chấp nhận cho hàng phụ nữ đặc quyền tiếp thụ một bản chất cao quý, một sức mạnh kiên cố vững chắc trong nền đạo lý, một khả năng thấm nhuần trí tuệ thâm sâu ngang hàng với nam giới. Và hơn 25 thế kỷ đã trôi qua, mặc dù nhiều hệ thống tôn giáo khác đã phát triển cực thịnh, nhưng vẫn chưa thấy có thêm một tôn giáo nào thành lập một giáo hội cho hàng nữ tu sĩ. Cho nên có thể nói rằng hàng phụ nữ trên thế giới vẫn chịu một món nợ trường cửu đối với Đức Phật vì Ngài đã nâng cao họ từ địa vị thấp kém và nhục nhã nhất trong xã hội lên hàng danh dự này.

Thế nhưng, cũng chính sự việc thành lập giáo hội Tỳ kheo ni mà người nữ xuất gia giữa thời đại tiến bộ hiện nay lại miễn cưỡng trong niềm hạnh phúc lớn lao đó, vì họ ngờ vực Đức Phật chưa thực sự triệt để trong việc nâng cao vị trí của họ ngang hàng danh dự với nam giới, đã chế ra tám điều cần phải cung kính. Tám điều kiện ấy có thực sự quan trọng làm tăng ích cho giáo hội Tỳ kheo ni tồn tại hay chỉ có tính khả thi trong hoàn cảnh xã hội đương thời?

Tưởng cần nhắc lại sự việc thành lập giáo hội Tỳ kheo ni và nguyên nhân Đức Phật chế ra tám điều kiện cần phải cung kỉnh. Sau khi vua Suddhodana (Tịnh Phạn) băng hà, bà Mahà Pajàpati Gotami (Ma Ha Ba Xà Ba Đề – Kiều Đàm Di) nhàm chán sự giả tạm của kiếp phù du, quyết định trở về nương tựa đời sống xuất gia giải thoát. Một lần, khi Đức Phật về lại kinh thành Kapilavattu (Ca Tỳ La Vệ) để giảng hòa một cuộc tranh chấp dữ dội giữa hai dân tộc Sakyan và Koliyan, đang giành quyền sử dụng nước của dòng sông Rohini. Sau khi cuộc cãi vã cay đắng đã được dàn xếp ổn thỏa và hai bên dịu giọng, như thường lệ, Đức Thế Tôn mở lời thuyết giảng giáo pháp, và sau thời pháp đó một số đông người trai trẻ Sakyan xin gia nhập vào giáo hội chư Tỳ kheo. Các bà vợ của những vị ấy, do bà Mahà Pajàpati Gotami hướng dẫn đến chỗ Đức Phật khẩn khoản xin được xuất gia: “Bạch Đức Thế Tôn, thật là một đại hạnh cho nữ giới nếu hàng phụ nữ chúng con được chấp nhận gia nhập vào Tăng đoàn để khép mình trong khuôn khổ của giáo pháp và giới luật mà Ngài công bố”. Đức Phật không sẵn sàng khích lệ thỉnh nguyện của bà Gotami và trả lời: “Đủ rồi, này Gotami, Như Lai không thể làm vừa lòng bà và chấp nhận như vậy”. Lần thứ nhì, rồi lần thứ ba, bà Gotami lặp lại lời thỉnh cầu, nhưng mỗi lần đều bị từ chối. Sau đó Đức Thế Tôn lần hồi sang thành Vesali (Phệ Xá Ly) và ngự trong một đền thờ trên đỉnh núi. Bà Gotami vẫn không nao núng ngã lòng vì những đợt thỉnh nguyện bất thành, mà bền gan cam chịu mọi khổ nhọc và đương đầu nghịch cảnh, quyết định theo chân Đức Thế Tôn đến Vesali cùng với một số đông mệnh phụ phu nhân có niềm tin nơi bà (có nơi nói cùng với 500 người nữ giòng họ Xá Di). Cắt bỏ chùm tóc đẹp thuở nào, vứt bỏ nữ trang lộng lẫy, tự khoác lên mình tấm y thô thiển, các bà cam chịu khổ nhọc đi bộ, trải qua đoạn đường dài 150 dặm đến Vesali, mình mẩy lấm lem bụi bặm, y phục rách rưới tả tơi, chân cẳng sưng vù đau nhức. Thế mà, ba lần kiên nhẫn nhờ thầy thị giả A Nan tha thiết trình bày nguyện vọng, Đức Phật vẫn một mực chối từ. Song, dưới sự nài nỉ nồng nhiệt của Tôn giả A Nan, sự tinh tế chọn điểm tế nhị là vấn đề biết ơn đối với Di mẫu Gotami và đặc biệt là gợi mở khả năng của người nữ có thể chứng nhập bốn quả Thánh nên Đức Phật đã thuận lòng. Tuy nhiên, với trí tuệ nhìn xa và hiểu rộng, Đức Thế Tôn có thể thấy những hiểm họa và những khuyết điểm không thể tránh trong việc điều hành song song hai giáo hội Tăng già cùng một lúc. Do đó, Ngài ban hành tám điều qui định cho giáo hội Tỳ kheo ni nhằm giữ gìn và bảo vệ tương lai cho cả hai giáo hội.

1 Một Tỳ kheo ni, dầu có trăm tuổi hạ khi gặp thầy Tỳ kheo mới thọ giới Cụ túc cũng phải chào hỏi, đảnh lễ và thực hành tất cả những bổn phận thích nghi đối với vị Tỳ kheo.

2- Một Tỳ kheo ni không được khiển trách hay nặng lời đối với một vị Tỳ kheo trong bất kỳ trường hợp nào.

3- Tỳ kheo ni không được ngăn Tỳ kheo xét tội, thuyết giới, tự tứ hay nói lỗi của Tỳ kheo. Trái lại, Tỳ kheo được quyền cử tội Tỳ kheo ni.

4- Muốn thọ trì Cụ túc giới phải thông qua hai bộ Tăng: Tỳ kheo ni và Tỳ kheo

5- Nếu Tỳ kheo ni phạm tội hữu dư (Tăng tàn) thì phải đến trước hai bộ Tăng thực hành pháp Ý hỷ (Ma na đỏa) trong thời gian nửa tháng.

6- Nửa tháng phải đến bên Tỳ kheo tăng cần cầu dạy bảo.

7- Không được an cư kiết hạ ở địa phương nào không có Tỳ kheo ở.

8- Khi an cư xong, phải đến Tỳ kheo tăng cầu ba sự tự tứ: thấy, nghe và nghi.

Tôn giả A Nan trao truyền lại tám điều giới pháp ấy cho bà Mahà Pajàpati Gotami. Bà vui mừng khôn xiết, hoan hỷ lãnh thọ và nguyện kính giữ trọn đời không vi phạm. Sau khi giáo hội Tỳ kheo ni thành lập dưới sự lãnh đạo của bà Gotami – Đại Ái Đạo, từ các nẻo đường cuộc sống, mọi tầng lớp trong xã hội đến gia nhập vào giáo hội và công trình nỗ lực tiến tới mục tiêu giải thoát hoàn toàn của các bà đã để lại trong văn học Phật giáo những trang vẻ vang chói lọi bằng khúc ca khải hoàn, Therigàthà (những Thánh thi của chư Tỳ kheo ni).

Không còn nghi ngờ gì nữa về sự ra đời và tồn tại đến nay của giáo hội Tỳ kheo ni khắp nơi trên thế giới. Chúng ta thấy được tuệ giác gì nơi Đức Phật khi năm lần bảy lượt Ngài mới tán thành việc thành lập giáo hội Tỳ kheo ni và đặt chế tám điều kiện trước khi cho ra đời thêm một giáo hội nữa? Sự kiện Đức Phật thông hiểu tiềm năng sâu ẩn và khả năng hoàn mãn những thành tựu vĩ đại và cao thâm của hàng phụ nữ không làm cho Ngài mù quáng không thấy những khuyết điểm về kết cấu tâm sinh lý của người nữ. Khuynh hướng nhẹ dạ yếu mềm của người nữ dễ dàng rơi vào tội lỗi, dễ bị khuyến dụ đi trên con đường kém đạo Đức. Chính điểm đặc thù ấy là một trở ngại lớn lao cho phẩm hạnh cốt yếu của người sống độc thân, vốn dĩ rất cần thiết cho sự điều hành suôn sẻ của một cộng đồng. Đó là thiên tánh. Đức Phật vạch rõ yếu kém và khuyết điểm của hàng phụ nữ không phải để chế nhạo hay cười khinh, mà Ngài nhắm đến mục tiêu cao quý là giúp họ nhận định những khó khăn gây trở ngại cho những nỗ lực thành tựu mục tiêu của mình và khuyến khích họ thận trọng canh phòng các cuộc tấn công của những khát vọng, các cuộc đột kích của những cám dỗ. Đức Phật không vì sự trở ngại đó mà không tạo điều kiện cho họ vượt lên ngang hàng với vị trí mà nam giới có thể tới, chứng đắc quả giải thoát. Song, thái độ do dự trước khi chấp nhận người nữ vào giáo pháp là hồi chuông cảnh báo con đường tiến bộ của họ đầy dẫy sự hiểm nguy và ảnh hưởng đến sự tồn vinh Phật pháp.

Rõ ràng trong thiên tánh người nữ đã không thể so sánh với người nam, mặc dù dù khả năng tiến bộ và thành tựu mục tiêu Niết bàn có ngang nhau. Nhưng làm sao để người nữ luôn khắc ghi sâu vào lòng bài học tự mình uốn nắn tâm tánh, diệt trừ bản ngã mãnh liệt để thành đạt mục tiêu tối hậu là một công trình vĩ đại, là thành trì phải được bảo vệ kiên cố hơn người nam tiến tu gấp nhiều lần. Làm sao để người nữ xuất gia luôn thấy rằng việc thành lập cho giáo hội Tỳ kheo ni sở dĩ thành tựu là từ sự có mặt vững chãi trước đó khoảng 20 năm của giáo hội Tỳ kheo (Căn bản tạp sự – Q.37, Kinh Trường A Hàm) làm điểm tựa. Làm thế nào để Tỳ kheo ni hiểu rằng sự thành lập giáo hội của họ từ giai đoạn sơ khai đã mang theo với nó một vài yếu tố hiểm nguy, và nếu không có những phương sách dự phòng, trong tương lai có thể xảy ra những bất trắc khó lường. Vì thế, Đức Phật ban hành ra tám điều giới hay tám điều kiện bảo vệ. Chính tám điều giới này tạo điều kiện để điều hành tốt đẹp hai cơ quan trong tinh thần trang nghiêm và thích đáng với bản tánh tự nhiên. Nó giữ chư Ni trong vị trí thích hợp với tâm tánh người nữ. Cũng chính tám điều giới này đã hỗ trợ trạng thái điều hòa và thuận thảo, đem lại tình giao hảo thích nghi giữa Tỳ kheo và Tỳ kheo ni.

Người nữ học giới ngày nay lẽ nào không thấy được giá trị thiết thực tám điều giới làm khuôn phép tiến tu và điều kiện cần thiết cho sự tồn tại giáo hội Tỳ kheo ni mà lại không muốn tuân thủ, cho là lỗi thời? Lẽ nào Tỳ kheo tăng ngày nay không đáng cung kính? Tăng thì luôn luôn thanh tịnh và hòa hợp, vì Tăng là chỉ số gồm có 4 vị Tỳ kheo trở lên. Nếu cho rằng Tăng không đáng cung kính vì thiếu sự thanh tịnh và hòa hợp, giáo giới Ni chúng sẽ không hợp căn cơ, không làm cho Ni chúng vui thích mà không cầu giáo thọ hay không đến Đại Tăng cầu thọ cụ túc giới thì nhất định không tồn tại tánh Tỳ kheo ni. Có thể vì một vài cá nhân Tỳ kheo nào đó bê bối không đủ phạm hạnh khiến chư Ni bất nhẫn không muốn cung kính, nhưng đừng vì thế mà quên rằng việc cầu giáo thọ hay cầu thọ đại giới là cầu với Tăng chứ không phải cầu với cá nhân. Song, cho dù cá nhân vị Tỳ kheo đó có như thế nào đi nữa thì đó cũng thuộc phạm vi của giáo hội chư Tỳ kheo, Tỳ kheo ni phải luôn nhớ trong tám điều không thể vượt qua đó đã ghi rõ không được khiển trách hay nặng lời đối với Tỳ kheo, không được chê bai nói rằng: Thầy phá giới, phá kiến, phá oai nghi (Luật Tứ Phần, Ngũ Phần, Ma Ha Tăng Kỳ – Q.3). Đủ thấy, tám điều giới pháp là linh hồn của giáo hội Tỳ kheo ni không thể không bảo trọng, như trong Luật Tứ Phần – Tỳ kheo ni ghi : “Như vậy đó A Nan! Ta nay đã nói tám kỉnh pháp suốt đời tôn trọng không được trái phạm, nếu người nữ nào thực hành được thì tức là được thọ giới. Cũng ví như có người muốn qua dòng nước lớn, phải bắc cầu mà đi qua”. Chiếc cầu lợi ích qua dòng sông sanh tử đó ai muốn bỏ vì thấy ràng buộc thì tùy. Nhưng hãy nên nhớ một điều nếu không có tám pháp cung kính đó thì chắc chắn không có giáo hội Tỳ kheo ni hình thành và cũng không có ai là thật tánh Tỳ kheo ni.

Vấn đề sự xuất hiện Tỳ kheo ni đã làm chánh pháp mất đi một nửa có liên quan gì đến Bát kỉnh pháp? Chúng ta có thể lý giải điều này là do sự song hành vận động của hai giáo hội là điều kiện thuận lợi cho hai hệ phái vốn còn mang nhiễm tính “cọ xát”. Sự qua lại thuận tiện gần như “hợp thức hóa” giữa Tăng và Ni, tính yếu mếm cần được chở che của Tỳ kheo ni, sự phô trương đức tính tùng bách hiên ngang nâng đỡ của hàng Tỳ kheo đã là nội dung chính yếu cho ngọn lửa ái nhiễm bốc cháy. Tất nhiên chánh pháp có đổi sang tượng pháp là do người tu chứng ngộ ít dần chứ không thể đổ thừa do sự xuất hiện của Tỳ kheo ni.

Nhưng xét kỹ nguyên nhân không chứng nhập Niết bàn là hành giả không phát huy được định tuệ. Định tuệ có từ giới. Khả năng hư hại giới pháp của các thầy Tỳ kheo không gì khác hơn là nữ sắc, mà trong đó Tỳ kheo ni là khả năng nhiều nhất. Vì thế, Bát kỉnh pháp đối với Tỳ kheo ni là điều nhất định không thể vượt qua, để duy trì một nửa chánh pháp còn lại, để giữ gìn sự thanh khiết và thánh thiện giữa hai giáo hội hiện tại và tương lai.

Tóm lại, có thể nói tám giới trọng yếu đó là nền tảng vững chắc làm nền để xây dựng kiến trúc đồ sộ và công trình sinh hoạt chảy trôi suôn sẻ của hai giáo hội.

(*) Bây giờ gọi là Ni bộ, danh từ Giáo hội chỉ sử dụng chung cho cả hai bộ.

Want your school to be the top-listed School/college in Ho Chi Minh City?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Videos (show all)

Location

Address


239 Nam Kì Khởi Nghĩa
Ho Chi Minh City
Other Ho Chi Minh City schools & colleges (show all)
Mogust Mogust
A1B/56 Ấp 1B, Xã Vĩnh Lộc B, Huyện Bình Chánh
Ho Chi Minh City, 084

AnnA Organic was born after a long-term researching process which will surprise all consumers about its effectiveness parallel with its pure ingredients.

Trung tâm gia sư Đức trí- Gia sư uy tín Trung tâm gia sư Đức trí- Gia sư uy tín
261/7 Chu Văn An, Phường 12, Bình Thạnh
Ho Chi Minh City, 70000

Trung tâm gia sư - Gia sư giỏi

Ethos Language Institute Ethos Language Institute
36 Đường TX52, Phường Thạnh Xuân, Q12
Ho Chi Minh City

Tổng đại lý miền nam, Chuyên phân phối Nhụy hoa nghệ tây Saffron Iran. Chuyên phân phối sỉ và lẻ Saffron organic Negin chính hãng - Hàng loại 1. LH: 0915 35 98 11

Thuephonghoctphcm Thuephonghoctphcm
79 Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3
Ho Chi Minh City, 760000

Cho thuê phòng học TP HCM, phòng hội trường TP HCM chuyên nghiệp, đầy đủ tiện nghi Wifi + nước uống ... tại địa chỉ 79 Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3

CIS - The Canadian International School Vietnam CIS - The Canadian International School Vietnam
No.7&86, Road 23, Phu My Hung, Tan Phu Ward, District 7
Ho Chi Minh City, 70000

The Canadian International School became IB World School in March 2015, offering the Diploma Programme.

Edulife Vietnam Edulife Vietnam
Việt Nam
Ho Chi Minh City, VIỆT NAM

Edulife sẽ cùng bạn "học nữa, học mãi" và tạo dựng tương lai

Tri Tue Viet Kindergarten Tri Tue Viet Kindergarten
112 Đường Số 4, Phường Tam Phú, Quận Thủ Đức
Ho Chi Minh City, 70000

GLEE PTNK GLEE PTNK
Ho Chi Minh City, 700000

vừa đẫn đờ trước màn hình máy tính gần 6 phút 9 giây vì chẳng biết viết gì?

Trường PTTH Lê Quý Đôn Trường PTTH Lê Quý Đôn
110 Nguyễn Thị Minh Khai, P.6, Q.3
Ho Chi Minh City, 700000

110 Nguyễn Thị Minh Khai Phường 6, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh Điện thoại: (08)39306562

Mr. Cải TOEIC Mr. Cải TOEIC
59/9 đường 47, Thảo Điền, Quận 2
Ho Chi Minh City

Mr. Cải TOEIC (http://mrcaitoeic.com) - môi trường luyện thi TOEIC chất lượng, tiết kiệm tại Thảo Điền, Q.2.

Bộ môn Công nghệ kỹ thuật Ô tô - Đại học Nông lâm TPHCM Bộ môn Công nghệ kỹ thuật Ô tô - Đại học Nông lâm TPHCM
Ho Chi Minh City, 70000

Bộ môn Công nghệ kỹ thuật Ô tô - Trường Đại học Nông lâm Tp HCM

Mầm Non Gấu Bông Mầm Non Gấu Bông
405/10 Trường Chinh, P.14, Q.Tân Bình
Ho Chi Minh City