Hoằng Dương Luật Học - Dĩ Giới Vi Sư

Hoằng Dương Luật Học - Dĩ Giới Vi Sư

Comments

THỰC HÀNH TU GIỚI TRỌN VẸN THÀNH TỰU
THÌ KHI TÁC Ý HƯỚNG TÂM,
TÂM SẼ VÀO ĐỊNH THEO Ý MÌNH MUỐN.

THẾ NÀO GỌI LÀ PHÁP HÀNH GIỚI?

http://www.trungtamhotong.org/NoiDung/ThuVien/HanhGioi/HanhGioiLoiNoiDau.htm

BÀI GIẢNG VỀ TU THỰC HÀNH GIỚI

https://docs.google.com/file/d/1tTtRCBjtNUtUtc7eEiPPo5leUTLGUzO9/edit?filetype=msword

https://www.youtube.com/playlist?list=PL9VpI0x4oBev__0PHXa8tZk7YTJY9HJqW

NỀN TẢNG PHẬT GIÁO
(MŪLABUDDHASĀSANA)
QUYỂN III
HÀNH GIỚI (SÌLACÀRÀ)
Soạn giả: Tỳ khưu Hộ Pháp
(Dhammarakkhita Bhikkhu

Link nghe sách

https://www.youtube.com/playlist?list=PLcwC7RbS5zS9tYVOcnVkAAsqqHZ8WP2ga

Pháp hành giới là tác ý thiện (kusalacetanā) giữ gìn các điều giới của mình, tránh xa mọi thân ác nghiệp, khẩu ác nghiệp; đồng thời thành tựu thân hành thiện, khẩu hành thiện; và hành 14 pháp hành phận sự([1]) đầy đủ đối với bậc xuất gia Sadi, Tỳ khưu... gọi là pháp hành giới.

Pháp nào gọi là giới?

Trong bộ Paṭisambhidāmagga có trình bày 4 pháp gọi là giới:

1- Cetanāsīla: Tác ý gọi là giới.

2- Cetasikasīla: Tâm sở tiết chế (viraticetasika) gọi là giới.

3- Saṃvarasīla: Thu thúc không để tâm ác phát sinh gọi là giới.

4- Avītikkamasīla: Không phạm điều giới gọi là giới.

1- Cetanāsīla: Tác ý gọi là giới như thế nào?

Tác ý thiện (kusalacetanā) tránh xa mọi thân ác nghiệp, khẩu ác nghiệp; và tác ý thiện làm tròn phận sự 14 pháp hành... gọi là tác ý giới.

2- Cetasikasīla: Tâm sở tiết chế gọi là giới như thế nào?

Tâm sở tiết chế (viraticetasika) có 3 loại:

─ Chánh ngữ (sammāvācā): Lời nói chân chánh, đó là tránh xa sự nói dối, tránh xa sự nói lời chia rẽ, tránh xa sự nói lời thô tục (chửi rủa, mắng nhiếc) và tránh xa sự nói lời vô ích.

─ Chánh nghiệp (sammākammanta): Hành nghiệp chân chánh đó là tránh xa sự sát sinh, tránh xa sự trộm cắp, tránh xa sự tà dâm.

─ Chánh mạng (sammāājīva): Nuôi mạng chân chánh đó là tránh xa cách sống tà mạng do thân hành ác, khẩu hành ác.

Tiết chế (virati) gọi là giới có 3 trường hợp:

─ Sampattavirati: Tiết chế tránh xa ác nghiệp khi gặp đối tượng đang hiện hữu.

─ Samādānavirati: Tiết chế tránh xa ác nghiệp do đã thọ trì giới.

─ Samucchedavirati: Tiết chế tránh xa ác nghiệp một cách đoạn tuyệt do năng lực của Thánh Đạo Tuệ của bậc Thánh Nhân.

* Sampattavirati: Tiết chế tránh xa ác nghiệp khi gặp đối tượng đang hiện hữu như thế nào?

Trường hợp một người chưa xin thọ trì giới, đến khi gặp phải đối tượng có thể làm cho phạm giới; người ấy vốn là bậc thiện trí học nhiều hiểu rộng, có trí tuệ sáng suốt, biết tự răn dạy mình rằng:

“Ta chớ nên tạo ác nghiệp, bởi vì ác nghiệp chỉ làm khổ mình, khổ chúng sinh khác mà thôi”.

Sở dĩ người ấy có sự nhận thức đúng đắn như vậy là nhờ sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống đạo đức, được giáo dục tốt. Đến khi trưởng thành nên người, là người có học thức và đạo đức tốt.

Ví dụ: Tích cậu Cakkana([2] ) ở đảo Sihaḷa (nướcSrilankā), được tóm lược như sau:

Mẹ của cậu Cakkana bị lâm bệnh, người anh sai bảo cậu Cakkana vào rừng săn bắt một con thỏ đem về để làm thuốc chữa bệnh cho mẹ. Cậu Cakkana vâng lời mang lưới vào rừng, giăng lưới bắt thỏ. Thấy một con thỏ đang đi ăn cỏ, cậu liền vây đuổi làm cho con thỏ hoảng sợ cắm đầu chạy về phía trước để lánh nạn, nó bị mắc lưới, kêu: ‘kiri! kiri!’ vùng vẫy sợ chết. Cậu Cakkana nghe tiếng thỏ kêu, chạy đến bắt con thỏ và nghĩ rằng: “Ta đem con thỏ này về làm thuốc chữa bệnh cho mẹ”. Nhìn thấy con thỏ đau khổ, sợ chết, cậu phát sinh tâm bi nghĩ lại rằng:

“Chúng sinh đều muốn bảo vệ sinh mạng, sợ chết. Vậy ta không nên sát hại con thỏ này để làm thuốc trị bệnh cho mẹ ta”.

Cậu Cakkana buông thả con thỏ để nó chạy trở lại vào rừng, rồi trở về với tâm thanh thản và nhẹ nhàng. Thấy cậu, người anh liền hỏi:

─ Sao em không bắt được con thỏ nào?

Cậu thuật lại sự việc đã xảy ra, liền bị người anh trách mắng. Cậu đến bên cạnh người mẹ hiền, phát nguyện bằng lời chân thật rằng:

“Từ khi con sinh ra, trưởng thành, cho đến hôm nay, con chưa từng có tác ý sát hại một chúng sinh nào. Do lời chân thật này, xin cho mẹ hiền hết bệnh”.

Thật là lạ thường! Do năng lực lời phát nguyện chân thật của cậu, bệnh tình của người mẹ chẳng bao lâu đã khỏi hẳn.

Đó là trường hợp tiết chế tránh xa ác nghiệp, khi gặp đối tượng đang hiện hữu.

* Samādānavirati: Tiết chế tránh xa ác nghiệp do đã thọ trì giới như thế nào?

Trường hợp một người đã xin thọ trì giới, sau đó, gặp phải đối tượng có thể làm cho bị phạm giới; nhưng người ấy niệm tưởng lại giới mà mình đã thọ trì, quyết tâm giữ gìn giới cho trong sạch trọn vẹn, dù phải hy sinh sinh mạng, chứ không để phạm giới.

Ví dụ: Tích chuyện người cận sự nam tên Uttaravaḍḍha-māna([1]), được tóm lược như sau:

Một buổi sáng, cận sự nam Uttaravaḍḍhamāna đến đảnh lễ Ngài Đại đức Buddharakkhita, xin thọ phép quy y Tam Bảo và thọ trì ngũ giới xong, xin phép Ngài trở về nhà, dắt bò ra đồng cày ruộng. Cày xong, ông thả bò cho đi ăn cỏ, chẳng may con bò đi lạc đường. Người cận sự nam đi tìm theo giấu chân bò dọc theo ven núi, chẳng may bị một con trăn lớn siết chặt vào người. Lúc bấy giờ, trong người cận sự nam có mang theo một con dao bén và nhọn, ông bèn nghĩ rằng: “Ta rút con dao này cắt cổ con trăn”. Nhưng ông chợt nhớ lại rằng: “Sáng hôm nay ta đã thọ phép quy y Tam Bảo và ngũ giới nơi Ngài Đại đức Buddharakkhita; ta nên giữ gìn ngũ giới cho trong sạch và đầy đủ, không nên phạm điều giới sát sinh”.

Con trăn càng lúc càng xiết mạnh, làm cho thân mình ông vô cùng đau đớn, ông lại nghĩ đến việc rút con dao bén giết hại con trăn, để cứu sinh mạng của mình. Nhưng ông lại nghĩ như lần trước, nên không giết chết con trăn. Mãi cho đến lần thứ ba, lần này ông suy xét rằng: “Sở dĩ, bao nhiêu lần ta định giết hại con trăn này, là vì ta ỷ lại trong mình ta có con dao”.

Nghĩ vậy, người cận sự nam rút con dao ném ra xa, rồi phát nguyện rằng: “Thà rằng ta chịu hy sinh sinh mạng để giữ gìn giới cho được trong sạch và trọn vẹn, quyết tâm không để phạm giới”.

Do năng lực của giới, khiến con trăn từ từ buông ra khỏi mình ông, rồi bò vào rừng.

Đó là trường hợp tiết chế tránh xa ác nghiệp do đã thọ trì ngũ giới.

* Samucchedavirati: Tiết chế tránh xa ác nghiệp một cách đoạn tuyệt như thế nào?

Trường hợp hành giả thực hành thiền tuệ, trí tuệ thiền tuệ phát sinh theo tuần tự đến trí tuệ thứ 14 gọi là Thánh Đạo Tuệ có Niết Bàn làm đối tượng, nên diệt được phiền não một cách đoạn tuyệt. Loại phiền não nào đã bị diệt đoạn tuyệt do năng lực của Thánh Đạo Tuệ rồi, loại phiền não ấy vĩnh viễn không bao giờ phát sinh trở lại được nữa.

Bậc Thánh Nhập Lưu có giới đức hoàn toàn trong sạch và trọn vẹn.

3- Saṃvarasīla: Thu thúc, giữ gìn thân, khẩu, ý không để ác tâm phát sinh gọi là giới như thế nào?

Thu thúc, giữ gìn thân, khẩu, ý không để ác tâm phát sinh có 5 loại:

- Pātimokkhasaṃvara: Thu thúc với tác ý giữ gìn 227 điều giới trong giới bổn Tỳ khưu (Bhikkhupātimokkha) bằng đức tin.

- Satisaṃvara: Thu thúc, giữ gìn bằng chánh niệm trong 6 môn: Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý không để phiền não phát sinh (thuộc về giới giữ gìn 6 môn).

- Ñāṇasaṃvara: Thu thúc, giữ gìn bằng trí tuệ ngăn chặn phiền não tham, sân, si,… không cho phát sinh trong tâm (thuộc về giới quán tưởng 4 thứ vật dụng hằng ngày đêm).

- Khantisaṃvara: Thu thúc, giữ gìn bằng tâm nhẫn nại, khi gặp thời tiết nóng, lạnh, cảnh đói, khát, những đối tượng trái ý nghịch lòng, v.v... mà sân tâm không phát sinh, chỉ có thiện tâm phát sinh mà thôi.

- Vīriyasaṃvara: Thu thúc, giữ gìn bằng tinh tấn ngăn ác pháp chưa phát sinh thì không cho phát sinh; tinh tấn diệt ác pháp đã sinh; tinh tấn làm cho thiện pháp chưa phát sinh thì phát sinh; và tinh tấn làm phát triển thiện pháp đã sinh (thuộc về giới nuôi mạng thanh tịnh).

4- Avītikkamasīla: Không phạm điều giới gọi là giới như thế nào?

Sau khi đã thọ trì giới xong rồi, hành giả có đức tin trong sạch, có tác ý thiện giữ gìn giới của mình cho được trong sạch và trọn vẹn; dù phải hy sinh sinh mạng của mình, quyết tâm giữ gìn, bảo vệ giới cho trong sạch và trọn vẹn, không để phạm giới.

Như vậy, thu thúc, giữ gìn bảo vệ điều giới không để bị phạm gọi là giới.

Trong bộ Paṭisambhidāmagga trình bày giới có 3 loại:

- Kusalasīla: Giới thiện đó là tâm sở tác ý đồng sinh với thiện tâm.

- Akusalasīla: Giới bất thiện (giới ác) đó là tác ý tâm sở đồng sinh với bất thiện tâm (ác tâm).

- Abyākatasīla: Giới không thiện không ác đó là tác ý tâm sở đồng sinh với tâm quả và tâm duy tác.

Trong 3 loại giới này, giới cần giữ gìn cho được trong sạch và trọn vẹn thuộc giới thiện, đó là tác ý tâm sở đồng sinh với dục giới đại thiện tâm.

Ý Nghĩa Của Giới (Sīla)

Giới có nhiều ý nghĩa

* Sīla: Giới có ý nghĩa là sīlana: Hành.

─ Sīlana: Hành có 2 ý nghĩa.

1- Samādhāna: Hành giới làm cho thân và khẩu được tự nhiên đàng hoàng. Người hành giới có thân hành thiện, khẩu nói thiện, nên cử chỉ hành động của thân đàng hoàng tự nhiên đáng kính, nói năng nhã nhặn đáng yêu.

2- Upadhāraṇa: Hành giới trong sạch để làm nền tảng cho pháp hành thiền định, pháp hành thiền tuệ.

Pháp hành đầu tiên là pháp hành giới có khả năng diệt phiền não loại thô (vītikkama-kilesa) nơi thân và khẩu, cho nên giới được thanh tịnh.

Giới thanh tịnh làm nền tảng cho pháp hành thiền địnhđược phát triển. Pháp hành thiền định có khả năng diệt phiền não loại trung (pariyuṭṭhānakisela) ở trong tâm, để chứng đắc các bậc thiền hữu sắc và các bậc thiền vô sắc.

Giới thanh tịnh làm nền tảng cho pháp hành thiền tuệđược phát triển từ trí tuệ thiền tuệ tam giới (lokiyavipassanā) cho đến trí tuệ thiền tuệ Siêu tam giới (Lokuttaravipassanā) chứng đắc Thánh Đạo - Thánh Quả và Niết Bàn, có khả năng diệt đoạn tuyệt được phiền não loại vi tế (anusayakilesa) ngấm ngầm trong tâm.

Như vậy ‘giới’ có thể ví như ‘đất’. Đất là nơi nương nhờ của các loại thảo mộc để phát sinh và phát triển.

Định và tuệ cũng có thể ví như các giống cây ăn trái cần phải nương nhờ nơi đất để phát sinh và phát triển, rồi đơm hoa kết trái.

* Sīla: Giới còn có các ý nghĩa khác như:

─ Sīla: Giới có nghĩa là sira: Cái đầu.

Trong thân thể mỗi chúng sinh nói chung, mỗi người nói riêng, cái đầu là phần quan trọng nhất. Thật vậy, trong thân thể con người, dù bị chặt tay, chặt chân,… người ấy vẫn còn sinh mạng (còn sống); nhưng nếu người ấy bị đứt đầu, thì đồng thời mất sinh mạng (chết). Cũng như vậy, giới dẫn đầu, giới là nền tảng cho mọi thiện pháp được phát triển tốt, từ dục giới thiện pháp, sắc giới thiện pháp, vô sắc giới thiện pháp cho đến Siêu tam giới thiện pháp. Nếu không có giới hoặc giới bị đứt, thì tất cả mọi thiện pháp không có nơi nương nhờ để phát triển; cũng như nếu không có đất, thì tất cả cây cối, v.v... không có nơi nương nhờ để sinh trưởng.

─ Sīla: Giới có nghĩa là sītala: Mát mẻ, thanh tịnh.

Phiền não làm cho tâm nóng nảy, rồi làm cho khẩu nóng nảy, thân nóng nảy. Hành giả có tác ý thiện giữ gìn giới, nên chế ngự, đè nén, diệt được phiền não loại thô không thể phát sinh ra nơi thân và khẩu. Do đó, giữ gìn giới làm cho thân và khẩu được mát mẻ, thanh tịnh.

─ Sīla: Giới có ý là pakati([3]): Thường, thói quen.

Chữ sīla ghép vào những danh từ như:

- Ayaṃ sukhasīlo: Người này thường được an lạc.

- Ayaṃ dukkhasīlo: Người này thường chịu đau khổ.

- Ayaṃ kalahasīlo: Người này có thói quen hay cãi cọ.

- Ayaṃ maṇḍanasīlo: Người này có thói quen thích trang điểm.

* Sīlabbata (sīla + vata): Hành vi cách sống theo thói quen của loài bò, loài chó,...

* Sīlabbatupādāna (sīla + vata + upādāna): Tà kiến chấp thủ trong hành vi theo thói quen của loài bò, loài chó,… Nghĩa là một số người bắt chước hành theo thói quen của loài bò, loài chó,... như ăn, uống, đi, đứng, v.v... có tà kiến chấp thủ trong cách sống theo thói quen ấy, rồi cho rằng sẽ được tái sinh lên cõi trời, sẽ giải thoát khổ,...

* Sīlabbataparāmāsa (sīla +vata + parāmāsa ): Tà kiến thấy sai, chấp lầm trong hành vi cách sống theo thói quen của loài bò, loài chó,... như ăn, uống, đi, đứng, v.v... có tà kiến thấy sai, chấp lầm trong cách sống theo thói quen ấy, rồi cho rằng sẽ được tái sinh lên cõi trời, sẽ giải thoát khổ... gọi là chấp thủ pháp thường hành.

4 Tính Chất Của Giới

Để nhận thức rõ về giới, cần phải căn cứ vào 4 tính chất của giới:

1- Trạng thái của giới (lakkhaṇa).

2- Phận sự của giới (rasa).

3- Quả hiện hữu của giới (paccupaṭṭhāna).

4- Nhân gần của giới (padaṭṭhāna).

* Trạng thái của giới như thế nào?

Giới tuy có nhiều loại, nhưng đều có chung 2 trạng thái:

- Trạng thái giữ gìn thân, khẩu hành thiện đàng hoàng.

- Trạng thái làm nền tảng cho mọi thiện pháp, nhất là pháp hành thiền định, pháp hành thiền tuệ được phát triển và tăng trưởng tốt.

* Phận sự của giới như thế nào?

Giới có 2 phận sự:

- Có phận sự diệt trừ sự phạm giới.

- Có phận sự giúp làm cho đầy đủ các đức.

* Quả hiện hữu của giới như thế nào?

Quả hiện hữu của giới là thân hành thiện, khẩu nói thiện, ý nghĩ thiện; thân, khẩu, ý trong sạch thanh tịnh.

* Nhân gần của giới như thế nào?

Giới được phát sinh do 2 nhân gần:

─ Hiri: Biết hổ thẹn tội lỗi: Tự mình biết hổ thẹn tội lỗi, cho nên tránh xa mọi ác nghiệp, tinh tấn hành mọi thiện nghiệp.

─ Ottappa: Biết ghê sợ tội lỗi: Biết sợ các bậc thiện trí chê trách, sợ khổ trong 4 cõi ác giới (địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sinh), do đó, nên tránh xa mọi ác nghiệp, tinh tấn hành mọi thiện nghiệp.

Quả Báu Của Người Có Giới (Sīlavanta ānisaṃsa)([4])

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang ngự tại làng Pāṭaligāma, dân làng Pāṭali đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn xong, ngồi một nơi hợp lẽ. Khi ấy, Đức Thế Tôn bèn gọi dân làng Pāṭali mà dạy rằng:

─ Này các gia chủ, có 5 quả báu của người có giới, người giữ gìn giới đầy đủ trọn vẹn. 5 quả báu ấy là:

1- Này các gia chủ, trong đời này, người có giới, người giữ gìn giới đầy đủ trọn vẹn, có được nhiều của cải lớn lao, do nhờ nhân không dể duôi.

Đó là quả báu thứ nhất của người có giới, người giữ gìn giới đầy đủ trọn vẹn.

2- Này các gia chủ, còn điều này, người có giới, người giữ gìn giới đầy đủ trọn vẹn, có được danh thơm tiếng tốt lan truyền khắp mọi nơi.

Đó là quả báu thứ nhì của người có giới, người giữ gìn giới đầy đủ trọn vẹn.

3- Này các gia chủ, còn điều này, người có giới, người giữ gìn giới đầy đủ trọn vẹn, có tâm dũng cảm, không rụt rè e thẹn khi đi vào nơi hội đoàn Hoàng gia, hội đoàn gia chủ, hội đoàn Samôn, hội đoàn Bàlamôn…

Đó là quả báu thứ ba của người có giới, người giữ gìn giới đầy đủ trọn vẹn.

4- Này các gia chủ, còn điều này, người có giới, người giữ gìn giới đầy đủ trọn vẹn, phát sinh tâm không mê muội, tâm trí sáng suốt lúc lâm chung.

Đó là quả báu thứ tư của người có giới, người giữ gìn giới đầy đủ trọn vẹn.

5- Này các gia chủ, còn điều này, người có giới, người giữ gìn giới đầy đủ trọn vẹn, sau khi chết, thiện nghiệp giữ giới cho quả tái sinh cõi thiện dục giới (cõi người, cõi trời dục giới).

Đó là quả báu thứ năm của người có giới, người giữ gìn giới đầy đủ trọn vẹn.

─ Này các gia chủ, đó là 5 quả báu của người có giới, người giữ gìn giới đầy đủ trọn vẹn như vậy.

Các Loại Giới

Giới của 2 hạng người:

1- Gahaṭṭhasīla: Giới của người tại gia.

2- Pabbajitasīla: Giới của bậc xuất gia.

1- Giới của người tại gia: Có nhiều loại

- Ngũ giới.

- Bát giới.

- Cửu giới.

- Thập giới…

2- Giới của bậc xuất gia: Giới của Sadi và giới của Tỳ khưu

* Giới của Sadi: Sadi có các giới như:

- 10 giới Sadi.

- 10 giới hoại phạm hạnh Sadi.

- 10 giới hành phạt Sadi.

- 75 điều giới hành của Sadi.

- 14 pháp hành của Sadi, Tỳ khưu.

* Giới của Tỳ khưu: Tỳ khưu có 4 giới thanh tịnh:

- Thu thúc trong giới bổn Tỳ khưu bằng đức tin giữ gìn 227 điều giới.

- Giới thu thúc lục căn thanh tịnh bằng chánh niệm trong 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý).

- Giới nuôi mạng chân chính bằng tinh tấn đi khất thực.

- Giới suy xét các thứ vật dụng bằng trí tuệ thấy rõ thực chất của nó khi dùng.

[1] 14 pháp hành phận sự của Sadi, Tỳ khưu trong quyển “Gương Bậc Xuất Gia” cùng một soạn giả.

[2] Chú giải M.Mūlapaṇṇāsaṭṭhakathā, kinh Sammādiṭṭhivaṇṇanā.

[1] Chú giải M.Mūlapaṇṇāsaṭṭhakathā, kinh Sammādiṭṭhivaṇṇanā.

[3] Chú giải bộ Paṭisambhidāmagga, phần Sīlamayañāṇaniddesa.

[4] Dī. Mahāvagga, kinh Mahāparinibbānasutta, đoạn Sīlavanta ānisaṃsa.

[1] Bộ Chú giải Dī. Mahāvaggaṭṭhakathā, kinh Sakkapañhasutta.

[1] Vinayapiṭaka, Parivārapāḷi, Cūḷasaṅgāma (288).

🌺🌺🌺🌺🌺

NỀN TẢNG PHẬT GIÁO
(MŪLABUDDHASĀSANA)
QUYỂN III
HÀNH GIỚI (SÌLACÀRÀ)
Soạn giả: Tỳ khưu Hộ Pháp
(Dhammarakkhita Bhikkhu

Lời Nói Đầu

Bộ Nền Tảng Phật Giáo gồm có 9 chương, được chia làm 7 quyển.

Quyển I: Tam Bảo (Ratanattaya)

Gồm có 2 chương: Chương thứ nhất và chương thứ nhì.

* Chương thứ nhất: Ba Ngôi Cao Cả (Tiyagga)

- Đức Phật (Buddha)

- Đức Pháp (Dhamma)

- Đức Tăng (Saṃgha)

* Chương thứ nhì: Tam Bảo (Ratanattaya)

- Đức Phật Bảo (Buddharatana)

- Đức Pháp Bảo (Dhammaratana)

- Đức Tăng Bảo (Saṃgharatana)

Quyển II: Quy Y Tam Bảo (Tisaraṇa)

Gồm có hai chương: Chương thứ ba và chương thứ tư.

* Chương thứ ba: Ân Đức Tam Bảo (Ratanattayaguṇa)

- Ân Đức Phật (Buddhaguṇa)

- Ân Đức Pháp (Dhammaguṇa)

- Ân Đức Tăng (Saṃghaguṇa)

* Chương thứ tư: Quy Y Tam Bảo (Tisaraṇa)

- Quy y Phật Bảo (Buddhasaraṇa)

- Quy y Pháp Bảo (Dhammasaraṇa)

- Quy y Tăng Bảo (Saṃghasaraṇa)

Hai quyển này đã ấn hành xong, tiếp đến chương thứ V hành giới (sīlācāra) sẽ được trình bày trong quyển III.

Quyển III: Hành Giới (Sīlācāra)

Gồm có một chương: Chương thứ năm.

* Chương thứ năm: Hành Giới (Sīlācāra)

- Giới của người tại gia cư sĩ (Gahaṭṭhasīla)

- Giới của bậc xuất gia tu sĩ (Pabbajitasīla)

Hành giới là thế nào?

Theo truyền thống Phật giáo, đối với các hàng tại gia cư sĩ là người cận sự nam, cận sự nữ, sau khi thọ phép quy y Tam Bảo xong, tiếp theo thọ trì giới.

Giới của các hàng tại gia có nhiều loại giới như:

* Ngũ giới cho tất cả mọi người tại gia.

* Ngũ giới hành phạm hạnh cho bậc Thánh Bất Lai tại gia.

* Bát giới ājīvaṭṭhamakasīla cho tất cả mọi người tại gia và bậc xuất gia.

3 loại giới này nên được giữ gìn cho được trong sạch và trọn vẹn suốt ngày đêm.

* Bát giới uposathasīla và cửu giới uposathasīla mỗi tháng quy định có 4 ngày, hoặc 6 ngày, hoặc 8 ngày giới... Nếu người cận sự nam, cận sự nữ nào có khả năng, thì thọ trì bát giới uposathasīla, hoặc cửu giới uposathasīla trong những ngày đó. Nếu không có khả năng, thì không bắt buộc phải thọ trì giới ấy.

* Thập giới của người tại gia, đối với người tại gia là cận sự nam, cận sự nữ có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, chưa có cơ hội xuất gia lâu dài, mà chỉ có rảnh rỗi thời gian ngắn, người ấy đến chùa xin thọ phép quy y Tam Bảo và thọ trì thập giới của người tại gia trong khoảng thời gian ngắn.

* Thập giới của bậc xuất gia Sadi, đối với vị Sadi, thập giới này là giới cần phải giữ gìn cho được trong sạch và trọn vẹn suốt ngày đêm trong cả cuộc đời của vị Sadi.

* Giới của bậc xuất gia Tỳ khưu không phải thọ trì như các hàng tại gia cư sĩ và bậc xuất gia Sadi. Giới của Tỳ khưu được thành tựu đồng thời một lúc với lễ thọ Tỳ khưu tụng Ñatticatutthakammavācā xong.

Hành giới như thế nào?

Người có tác ý thiện tâm giữ gìn, bảo vệ những điều giới của mình cho được trong sạch và trọn vẹn, nghĩa là tác ý thiện tâm giữ gìn thân tránh xa mọi ác nghiệp và giữ gìn khẩu tránh xa mọi ác nghiệp, đồng thời thành tựu thân thiện nghiệp, khẩu thiện nghiệp.

Giới trong sạch nghĩa là tác ý thiện tâm giữ gìn bảo vệ giới của mình không bị ô nhiễm bởi phiền não.

Và trọn vẹn nghĩa là giữ gìn các điều giới mà mình đã thọ trì được trong sạch và đầy đủ, không để giới bị đứt, giới bị thủng, giới bị đốm, giới bị đứt lan.

Người có tác ý thiện tâm giữ gìn giới của mình được trong sạch và trọn vẹn, có nghĩa là giữ gìn, bảo vệ nhân cách trong sạch của mình, tôn trọng nhân phẩm con người của mình.

Thật ra, người ta có thể biết người khác là người thiện hay kẻ ác do nhờ giới của người ấy được biểu hiện nơi thân và khẩu.

Người có giới là người thiện, bởi do tác ý thiện đã tạo thân thiện nghiệp là tránh xa sự sát sinh, tránh xa sự trộm cắp, tránh xa sự tà dâm; và đã tạo khẩu thiện nghiệp là tránh xa sự nói dối, tránh xa sự nói lời chia rẽ, tránh xa sự nói lời thô tục (chửi rủa, mắng nhiếc), tránh xa sự nói lời vô ích...

Người phạm giới là người ác, bởi do tác ý ác đã tạo thân ác nghiệp là sát sinh, trộm cắp, tà dâm; và đã tạo khẩu ác nghiệp là nói dối, nói lời chia rẽ, nói lời thô tục (chửi rủa, mắng nhiếc), nói lời vô ích...

* Người có giới hưởng được 5 quả báu tốt lành:

- Có nhiều của cải quý giá do không có tính dể duôi.

- Có danh thơm, tiếng tốt lan truyền khắp cả 10 phương.

- Có tâm thiện dũng cảm, không e ngại sợ sệt khi đi vào nơi hội đoàn gia chủ, hội đoàn Vua Chúa, hội đoàn Samôn, hội đoàn Bàlamôn.

- Có tâm thiện bình tĩnh sáng suốt lúc lâm chung.

- Sau khi chết, thiện nghiệp cho quả tái sinh trong cõi thiện giới là: Cõi người, các cõi trời dục giới.

* Người phạm giới, người không có giới phải chịu 5 quả xấu:

- Của cải bị tiêu hao, khánh kiệt do tính dể duôi.

- Có tiếng xấu lan truyền khắp cả 10 phương.

- Có tâm e ngại, sợ sệt khi đi vào hội đoàn gia chủ, hội đoàn Vua Chúa, hội đoàn Samôn, hội đoàn Bàlamôn.

- Có tâm ác tối tăm, mê muội lúc lâm chung.

- Sau khi chết, ác nghiệp cho quả tái sinh trong cõi ác giới: Cõi địa ngục, cõi atula, cõi ngạ quỷ, cõi súc sinh.

Trong Chú giải bài kinh Sakkapañhasutta, có đoạn đề cập đến những người có giới trong sạch có thể lựa chọn được cảnh tái sinh 1 trong 6 cõi trời dục giới như:

“Parisuddhasīlā nāma chasu devalokesu yatthicchanti, tattha nibbattanti”.[1].

(Những người có giới trong sạch, lúc lâm chung tâm muốn tái sinh vào cõi trời nào trong 6 cõi trời dục giới, sau khi chết, do thiện nghiệp có giới ấy cho quả tái sinh trong cõi trời ấy, và hưởng được mọi sự an lạc trong cõi trời ấy cho đến hết tuổi thọ).

Muốn tái sinh lên các cõi trời sắc giới hoặc cõi trời vô sắc giới, hành giả không những có giới trong sạch mà còn phải chứng đắc các bậc thiền hữu sắc, hoặc bậc thiền vô sắc. Sau khi chết, chính bậc thiền cao nhất mà hành giả đã chứng đắc sẽ cho quả tái sinh lên cõi trời sắc giới hoặc cõi trời vô sắc giới, tùy theo bậc thiền sở đắc của hành giả.

Người phạm giới, người không có giới sẽ có tâm mê muội lúc lâm chung. Sau khi chết, ác nghiệp cho quả tái sinh trong cõi ác giới: Cõi địa ngục, hoặc cõi atula, hoặc cõi ngạ quỷ, hoặc cõi súc sinh tùy theo quả của ác nghiệp mà họ đã tạo, phải chịu khổ trong cõi ác giới ấy cho đến khi mãn quả của ác nghiệp ấy. Nếu thiện nghiệp chưa có cơ hội cho quả thì ác nghiệp lại cho quả tái sinh trở lại trong cõi ác giới.

Như vậy, người có giới trong sạch hưởng được quả báu tốt lành trong kiếp hiện tại lẫn nhiều kiếp vị lai. Ngược lại, người phạm giới, người không có giới phải chịu quả xấu, quả khổ ngay trong kiếp hiện tại lẫn nhiều kiếp vị lai.Vậy chúng ta nên suy xét rằng: “Sự giữ gìn giới cho trong sạch và sự phạm giới, trong 2 sự việc này, sự việc nào dễ làm và sự việc nào khó làm?”.

Để giải đáp vấn đề này một cách trung thực và khách quan, chúng ta nên phân tích ra từng mỗi giới, rồi suy xét kỹ mỗi sự việc, lúc đó, mới có được một nhận thức đúng đắn, trung thực và khách quan.

Ví dụ phân tích về ngũ giới

1- Giới tránh xa sự sát sinh

a) Người có tác ý thiện tâm tránh xa sự sát sinh, nghĩa là không sát sinh, không cố gắng sát hại sinh mạng một chúng sinh nào dù lớn dù nhỏ, biết tôn trọng sinh mạng của mỗi chúng sinh như biết tôn trọng sinh mạng của mình. Do tự suy xét rằng: “Chính ta không muốn ai sát hại sinh mạng của ta, thì ta cũng không nên sát hại sinh mạng của chúng sinh khác, với bất cứ hình thức nào”. Đó là lẽ công bằng giữa mình với chúng sinh khác.

Như vậy, người có tác ý thiện tâm tránh xa sự sát sinh, không sát hại sinh mạng của chúng sinh. Đó là việc thiện dễ làm hay là việc thiện khó làm?

b) Người có tác ý bất thiện, rồi cố gắng suy tính tìm mọi cách để sát hại chúng sinh, bằng cách tự mình giết hại sinh mạng chúng sinh, hoặc sai khiến người khác sát hại sinh mạng chúng sinh,... Chúng sinh ấy chết do bởi sự cố gắng của mình.

Như vậy, người có tác ý bất thiện sát hại sinh mạng của chúng sinh khác, dù lớn dù nhỏ. Đó là việc ác dễ làm hay là việc ác khó làm?

2- Giới tránh xa sự trộm cắp tài sản của người khác

a) Người có tác ý thiện tâm tránh xa sự trộm cắp tài sản của người khác, không trộm cắp tài sản của riêng một người nào, hoặc của chung một công ty, hoặc của nhà nước (như trốn thuế, chiếm đoạt tài sản nhà nước, v.v...), biết tôn trọng tài sản của người như biết tôn trọng tài sản của chính mình. Do tự suy xét rằng: “Chính ta không muốn ai đến chiếm đoạt tài sản của ta, thì ta cũng không nên chiếm đoạt tài sản của người khác một cách phi pháp”. Đó là lẽ công bằng giữa mình với mọi người.

Như vậy, người có tác ý thiện tâm tránh xa sự trộm cắp tài sản của riêng cá nhân, hoặc của chung (công ty, nhà nước...). Đó là việc thiện dễ làm hay là việc thiện khó làm?

b) Người có tác ý bất thiện, rồi cố gắng suy nghĩ tìm mọi cách để trộm cắp tài sản của cá nhân, hoặc của chung một công ty, hoặc của nhà nước (như trốn thuế, chiếm đoạt tài sản của nhà nước, v.v...), bằng cách tự mình trộm cắp, hoặc sai khiến người khác trộm cắp tài sản đem về cho mình.

Như vậy, người có tác ý bất thiện trộm cắp tài sản dù ít dù nhiều. Đó là việc ác dễ làm hay là việc ác khó làm?

3- Giới tránh xa sự tà dâm

a) Người có tác ý thiện tâm tránh xa sự tà dâm với vợ hoặc chồng, hoặc con cái của người khác, không phải là vợ hoặc chồng của mình, biết tôn trọng hạnh phúc gia đình của người khác như tôn trọng hạnh phúc của gia đình mình; có tính tự trọng một lòng thủy chung với vợ hoặc chồng của mình, không ngoại tình, không quan hệ tình dục bất chính với vợ hoặc chồng của người khác. Do tự suy xét rằng: “Chính ta không muốn ai đến phá hoại hạnh phúc gia đình ta, thì ta cũng không nên đi phá hoại hạnh phúc gia đình người khác”. Đó là lẽ công bằng giữa mình với mọi người.

Như vậy, người có tác ý thiện tâm tránh xa sự tà dâm với vợ hoặc chồng, hoặc con cái của người khác. Đó là việc thiện dễ làm hay là việc thiện khó làm?

b) Người có tác ý bất thiện, rồi cố gắng suy nghĩ tìm mưu này kế khác để dụ dỗ vợ hoặc chồng, hoặc con cái của người khác, phạm giới tà dâm với vợ hoặc chồng của người khác, cố gắng phá hoại hạnh phúc gia đình của mình và gia đình của người khác, là con người vô liêm sĩ, không biết tự trọng, mất lòng thủy chung với vợ hoặc chồng của mình...

Như vậy, người có tác ý bất thiện phạm giới tà dâm với vợ hoặc chồng, con cái của người khác. Đó là việc ác dễ làm hay là việc ác khó làm?

4- Giới tránh xa sự nói dối

a) Người có tác ý thiện tâm tránh xa sự nói dối, chỉ nói lời chân thật mà thôi, nghĩa là:

- Khi mắt thấy như thế nào, thì nói như thế ấy.

- Khi không thấy, thì nói không thấy.

- Khi tai nghe như thế nào, thì nói như thế ấy.

- Khi không nghe, thì nói không nghe.

- Khi ngửi, khi nếm, khi xúc giác như thế nào, thì nói như thế ấy.

- Khi không ngửi, không nếm, không xúc giác, thì nói không ngửi, không nếm, không xúc giác.

- Khi tâm biết thế nào, thì nói thế ấy.

- Khi không biết điều ấy, thì nói không biết...

Do tự suy xét rằng: “Chính ta không muốn ai đến nói dối, lừa gạt ta, thì ta cũng không nên nói dối, lừa gạt người khác” Đó là lẽ công bằng giữa mình với mọi người.

Người có tác ý thiện tâm tránh xa sự nói dối, mà chỉ nói lời chân thật như vậy. Đó là việc thiện dễ nói hay là việc thiện khó nói?

b) Người có tác ý bất thiện nói dối để lừa dối, lừa đảo, lừa gạt... người khác cốt để gây sự tai hại cho người khác, để đem lại sự lợi ích cho mình như:

- Khi mắt thấy, thì nói không thấy.

- Khi không thấy, thì nói thấy.

- Khi tai nghe, thì nói không nghe.

- Khi không nghe, thì nói nghe.

- Khi ngửi, khi nếm, khi xúc giác, thì nói không được ngửi, không được nếm, không được xúc giác.

- Khi không ngửi, không nếm, không xúc giác, thì nói có ngửi, có nếm, có xúc giác.

- Khi tâm biết rõ điều ấy, thì nói không biết.

- Khi không biết rõ điều ấy, thì nói biết...

Người có tác ý bất thiện nói dối để lừa dối, lừa đảo, lừa gạt,... người khác, họ cần phải cố gắng suy nghĩ tìm ra mưu kế thâm độc khiến cho người nghe phải tin theo, đồng thời che giấu được lời giả dối của mình... Đó là việc ác dễ nói hay là việc ác khó nói?

5- Giới tránh xa sự uống rượu và các chất say

a) Người có tác ý tránh xa sự uống rượu và các chất say là nhân sinh sự dể duôi, chỉ uống nước chín, nước lọc, nước ngọt,... những thứ nước này nhà nào cũng có, nơi nào cũng có. Uống các thứ nước này là chỉ để khỏi khát nước, lúc cơ thể cần có nước, giúp duy trì mạng sống được an lạc. Và tránh xa các chất say, chỉ dùng những chất bổ dưỡng cho sức khỏe con người, giúp cho con người khỏe mạnh, có trí tuệ sáng suốt, có sự tinh tấn trong mọi công việc, để đem lại sự lợi ích cho mình và cho mọi người... Đó là việc thiện dễ làm hay là việc thiện khó làm?

b) Người có tác ý bất thiện muốn uống rượu và các chất say là nhân sinh sự dể duôi. Người muốn uống rượu phải đi tìm rượu, lựa chọn thứ rượu mà mình thích, không phải nơi nào cũng có, chỉ có bán nơi các tiệm bán rượu mà thôi. Khi người ấy uống rượu vào rồi, làm cho người ấy say sưa, ngây ngất, không còn tự chủ, mất trí, cuồng điên, si mê tăm tối không phân biệt được thiện - ác, chánh - tà, làm khổ mình, làm khổ người khác. Và người muốn dùng các chất say như thuốc phiện, ma túy, cần sa, thuốc lá... Đó là những chất say, chất nghiện mà người đã dùng nó rồi sẽ khiến cho người ấy say ngây ngất, có khi kích thích cho người ấy có sức lực bạo dạn làm điều ác.

Khi người nào đã dùng các chất say trở thành người nghiện, mỗi khi lên cơn nghiện, người ấy cảm thấy khao khát, thèm muốn cực độ, không còn biết tự chủ nữa, dám làm những điều ác mà không biết hổ thẹn tội lỗi, không biết ghê sợ tội lỗi, tự làm khổ mình, làm khổ người khác...

Người uống rượu và các chất say lâu ngày sẽ sinh ra các thứ bệnh nan y khó có thể chữa trị được.

Như vậy, người có tác ý bất thiện uống rượu và các chất say là nhân sinh sự dể duôi. Đó là việc ác dễ làm hay là việc ác khó làm?

Mỗi giới đã được phân tích, độc giả là bậc thiện trí có trí tuệ sáng suốt, suy cho kỹ, xét cho cùng để có một nhận thức đúng đắn rằng:

- Người có tác ý thiện tâm giữ gìn ngũ giới cho được trong sạch và trọn vẹn, không cố ý phạm ngũ giới, đó là việc thiện dễ làm hay là việc thiện khó làm?

- Người có tác ý bất thiện, cố gắng phạm giới, đó là việc ác dễ làm hay là việc ác khó làm?

Hành giới thuộc về pháp hành

Trong Phật giáo, pháp hành có 3 pháp chính:

* Pháp hành giới: Hành giả có tác ý thiện tâm giữ gìn giới mà mình đã thọ trì cho được trong sạch và trọn vẹn.

* Pháp hành định đó là pháp hành thiền định: Hành giả thực hành pháp hành thiền định để dẫn đến chứng đắc các bậc thiền hữu sắc, các bậc thiền vô sắc.

* Pháp hành tuệ đó là pháp hành thiền tuệ: Hành giả thực hành pháp hành thiền tuệ dẫn đến phát sinh trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ thực tánh của danh pháp - sắc pháp; thấy rõ, biết rõ sự sinh sự diệt của danh pháp - sắc pháp; thấy rõ, biết rõ trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã của danh pháp - sắc pháp, để chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, diệt đoạn tuyệt mọi phiền não, mọi tham ái, trở thành bậc Thánh Arahán cao thượng.

3 pháp hành này phát sinh theo tuần tự trước - sau, có nhân và quả liên quan với nhau:

─ Pháp hành giới là pháp hành ở phần đầu. Khi pháp hành giới được giữ gìn trong sạch và trọn vẹn, sẽ làm nền tảng để cho pháp hành định, pháp hành thiền định được phát triển.

─ Pháp hành định, pháp hành thiền định là pháp hành ở phần giữa. Khi pháp hành thiền định được phát triển, định tâm vững chắc trong đối tượng thiền định, có khả năng chứng đắc các bậc thiền hữu sắc, và các bậc thiền vô sắc, sẽ làm nền tảng để cho pháp hành tuệ, pháp hành thiền tuệ được phát triển.

─ Pháp hành tuệ, pháp hành thiền tuệ là pháp hành ở phần cuối. Khi pháp hành thiền tuệ được phát triển sẽ dẫn đến chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, diệt đoạn tuyệt mọi tham ái, mọi phiền não không còn dư sót.

Như vậy, pháp hành giới là nhân thì pháp hành định là quả; pháp hành định là nhân thì pháp hành tuệ là quả; nhân với quả luôn luôn liên quan với nhau.

Pháp hành giới ví như thửa đất tốt.

Pháp hành định ví như giống cây ăn trái.

Pháp hành tuệ ví như hoa và quả.

Thửa đất tốt, màu mỡ làm nơi nương nhờ để cho các giống cây ăn trái phát sinh và phát triển; khi các giống cây ăn trái phát triển thì sẽ đơm hoa kết trái, rồi chín tới ngon ngọt bổ dưỡng.

Nếu không có thửa đất tốt, màu mỡ làm nơi nương nhờ thì các giống cây ăn trái không có nơi nương nhờ để phát sinh, đương nhiên cũng không có hy vọng có trái cây ngon ngọt bổ dưỡng.

Cũng như vậy, khi hành giới là giữ gìn giới của mình cho được trong sạch và trọn vẹn, làm nền tảng cho pháp hành thiền định được phát triển; khi pháp hành thiền định được phát triển, tâm định được phát triển, tâm định vững chắc trong đối tượng làm nền tảng cho pháp hành thiền tuệ phát triển.

Nếu không có giới trong sạch và trọn vẹn thì pháp hành thiền định không có nơi nương để phát sinh, thì không thể có pháp hành thiền tuệ được.

Như vậy, hành giới, giữ gìn giới của mình cho được trong sạch và trọn vẹn có một tầm quan trọng rất lớn, là làm nền tảng cho pháp hành thiền định và pháp hành thiền tuệ được phát sinh và phát triển. Cho nên, hành giả cần phải biết tôn trọng giới, bảo vệ giới của mình hơn bảo vệ sinh mạng của mình. Bởi vì giới trong sạch và trọn vẹn còn làm nền tảng cho mọi thiện pháp được phát sinh như dục giới thiện pháp, sắc giới thiện pháp, vô sắc giới thiện pháp cho đến Siêu tam giới thiện pháp (4 Tâm Thánh Đạo). Tất cả mọi thiện pháp ấy đều nương nhờ nơi giới trong sạch và trọn vẹn để phát sinh và phát triển.

Giới có 2 loại:

1- Lokiyasīla: Giới trong tam giới thiện tâm có đối tượng tam giới.

2- Lokuttarasīla: Giới trong Siêu tam giới tâm thiện có đối tượng Niết Bàn Siêu tam giới.

Trong Tạng Luật, bộ Parivārapāḷi, Đức Phật dạy rằng:

“Vinayo saṃvaratthāya, saṃvaro avippaṭisāratthāya, avippaṭisāro pāmujjatthāya...... yadidaṃ anupādācittassa vimokkho’ti”([1]).

“Giới luật là để giữ gìn, bảo vệ những điều giới được trong sạch.

Điều giới được giữ gìn bảo vệ trong sạch là để cho tâm được mát mẻ (không nóng nảy).

Tâm mát mẻ là để phát sinh tâm hài lòng hoan hỷ.

Tâm hài lòng hoan hỷ là để phát sinh pháp hỷ.

Pháp hỷ là để phát sinh thân an tịnh, tâm an tịnh.

Thân, tâm an tịnh là để phát sinh tâm an lạc.

Tâm an lạc là để phát sinh tâm thiền định.

Tâm thiền định là để phát sinh trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ thực tánh của danh pháp - sắc pháp.

Trí tuệ thấy rõ, biết rõ thực tánh của danh pháp - sắc pháp là để phát sinh trí tuệ thiền tuệ nhàm chán danh pháp - sắc pháp.

Trí tuệ nhàm chán danh pháp - sắc pháp là để phát sinh pháp ly dục (Thánh Đạo).

Pháp ly dục (Thánh Đạo) là để cho quả giải thoát khổ (Arahán Thánh Quả).

Pháp giải thoát khổ (Arahán Thánh Quả) là để phát sinh trí tuệ quán xét 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, đã diệt đoạn tuyệt mọi phiền não không còn dư sót nữa”.

Pháp giải thoát khổ hoàn toàn là Arahán Thánh Đạo - Arahán Thánh Quả và Niết Bàn.

Những điều giới làm nền tảng để cho các pháp phát sinh từ nhân này đến quả kia liên hoàn với nhau từ tam giới đến Siêu tam giới.

Vì thế, giới là nguồn gốc của mọi thiện pháp. Do đó, người nào có giới thì người ấy có thể có mọi thiện pháp. Và trái lại, người nào không có giới thì người ấy không có thiện pháp, mà có ác pháp. Cho nên, giữ gìn, bảo vệ giới của mình cho được trong sạch và trọn vẹn là điều thiết yếu để làm nền tảng cho mọi thiện pháp phát sinh.

Muốn cho giới của mình được trong sạch và trọn vẹn, hành giả cần phải có đức tin. Nhờ có đức tin hỗ trợ tác ý thiện tâm giữ gìn giới mới được trong sạch và trọn vẹn.

Trong quyển “Hành Giới” này có trình bày các loại giới của người tại gia cư sĩ như: Ngũ giới, ngũ giới hành phạm hạnh, bát giới ājīvaṭṭhamakasīla, bát giới uposathasīla, cửu giới uposathasīla, thập giới của người tại gia. Trong tất cả các loại giới này, ngũ giới và bát giới ājīvaṭṭhamakasīla là thường giới của người tại gia. Người tại gia phải nên giữ gìn 2 loại giới này suốt ngày đêm cho được trong sạch và trọn vẹn. Bởi vì, nếu phạm điều giới nào thì cũng đem lại sự tai hại trong kiếp hiện tại và những kiếp vị lai.

Ngoài 2 giới ấy ra, người cận sự nam, cận sự nữ nào có khả năng thọ trì và giữ gìn bát giới uposathasīla, cửu giới uposathasīla, thập giới của người tại gia. cho được trong sạch và trọn vẹn, thì người ấy chắc chắn sẽ được nhiều phước thiện đặc biệt và quả báu cũng đặc biệt hơn ngũ giới.

Về phần giới của bậc xuất gia Sadi và Tỳ khưu, thì trong quyển sách này chỉ trình bày tóm tắt mà thôi, bởi vì giới của Sadi và giới của Tỳ khưu có rất nhiều loại. Cho nên, trong quyển sách nhỏ này không thể trình bày đầy đủ được.

Trong quyển sách “Hành Giới” này, bần sư đã cố gắng hết sức để sưu tầm, góp nhặt những tài liệu về giới từ Tam Tạng Pāḷi (Tạng Luật, Tạng Kinh, Tạng Vi Diệu Pháp) và các Chú giải Pāḷi chỉ được bấy nhiêu thôi! Tuy bần sư đã cố gắng hết mình giảng giải để giúp cho độc giả tìm hiểu rõ về giới, nhưng thật ra, giới là một đề tài rộng lớn và rất vi tế. Do khả năng của bần sư có hạn, nên chắc chắn không sao tránh khỏi những điều sơ sót, thậm chí còn có chỗ sai ngoài khả năng hiểu biết của bần sư.

Để lần sau tái bản được hoàn thiện hơn, kính mong chư bậc thiện trí từ bi chỉ giáo, góp ý chân tình.

Kính xin quý vị xem soạn phẩm này như là của chung, mà mỗi người trong chúng ta, ai cũng có bổn phận đóng góp xây dựng, để cho soạn phẩm này được hoàn hảo, hầu mong đem lại sự lợi ích chung, sự tiến hóa, sự an lạc cho phần đông chúng ta. Bần sư kính cẩn đón nhận những lời đóng góp phê bình xây dựng ấy của chư bậc thiện trí và kính xin quý Ngài ghi nhận nơi đây lòng chân thành biết ơn sâu sắc của bần sư.

Quyển sách “Hành Giới” này được hoàn thành do nhờ có nhiều người giúp sức như: Dhammacitta Bhikkhu (Tỳ khưu Tâm Pháp), cô Sumittā, cô Dhammanandā xem bản thảo; đệ tử Sīlācāra (Giới Hạnh) đã tận tình đánh máy vi tính, dàn trang, làm thành quyển; các thí chủ trong nước và ngoài nước có đức tin trong sạch lo ấn hành là: Pháp đệ Tịnh Đức cùng nhóm Phật tử chùa Đạo Quang (Hoa Kỳ), Pháp đệ Bửu Đức cùng nhóm Phật tử chùa Hương Đạo (Hoa Kỳ), gia đình anh Đinh Vạn Xuân cùng nhóm Phật tử ở Úc, gia đình cô Dhammanandā (Pháp), các nhóm Phật tử ở Mỹ, Pháp, Thụy Sĩ, Canada, Úc..., gia đình Hoàng Quang Chung, gia đình Đinh Thị Phương Mai,... và đã được Nhà xuất bản Tôn Giáo cho phép ấn hành. Bần sư vô cùng hoan hỷ và biết ơn tất cả quý vị.

Nhân dịp này, con là Dhammarakkhita Bhikkhu (Tỳ khưu Hộ Pháp) thành kính dâng phần pháp thí thanh cao này đến Ngài Vaṃsarakkhitamahāthera (Cố Đại Trưởng Lão Hộ Tông) là sư phụ của con, đồng thời đến quý Ngài Cố Đại Trưởng Lão Thiện Luật, Ngài Cố Đại Trưởng Lão Bửu Chơn, Ngài Cố Đại Trưởng Lão Giới Nghiêm, Ngài Cố Đại Trưởng Lão Hộ Giác (chùa Từ Quang) cùng chư Đại Trưởng Lão, Đại đức khác đã dày công đem Phật giáo Nguyên Thủy (Theravāda) về truyền bá trên quê hương Việt Nam thân yêu, và xin kính dâng đến chư Đại Trưởng Lão ở nước Thái Lan, nước Myanmar (Miến Điện), đã có công dạy dỗ con về pháp học và pháp hành.

Con kính mong quý Ngài hoan hỷ.

Idaṃ no ñātinaṃ hotu, sukhitā hontu ñātayo.

Phước thiện pháp thí thanh cao này, xin hồi hướng đến tất cả thân quyến của chúng con, từ kiếp hiện tại cho đến vô lượng kiếp trong quá khứ, cầu mong quý vị hoan hỷ thọ nhận phần phước thiện này để thoát khỏi cảnh khổ, được an lạc lâu dài.

Imaṃ puññābhāgaṃ mātāpitu-ācariya-ñāti-mittānañceva sesasabbasattānañca dema, sabbepi te puññapattiṃ laddhāna sukhitā hontu.

Chúng con thành tâm hồi hướng, chia phước đến ông bà, cha mẹ, thầy tổ, thân quyến, bạn hữu cùng tất cả chúng sinh từ cõi địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sinh, nhân loại, chư thiên trong các cõi trời dục giới, chư phạm thiên trong các cõi trời sắc giới... tất cả quý vị hoan hỷ thọ nhận phần phước thiện pháp thí thanh cao này, cầu mong quý vị thoát khỏi mọi sự khổ, được an lạc lâu dài.

Idaṃ me dhammadānaṃ āsavakkhayāvahaṃ hotu.

Phước thiện pháp thí thanh cao này của mỗi người chúng con, xin làm duyên lành dẫn dắt mỗi người chúng con đến chứng đắc Arahán Thánh Đạo - Arahán Thánh Quả và Niết Bàn, diệt đoạn tuyệt mọi phiền não trầm luân, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong ba giới bốn loài.

Nếu mỗi người trong chúng con chưa diệt đoạn tuyệt được phiền não trầm luân, chưa giải thoát khổ sinh, vẫn còn tiếp tục tử sinh luân hồi, thì do năng lực phước thiện pháp thí thanh cao này ngăn cản mọi ác nghiệp không có cơ hội cho quả tái sinh trong 4 cõi ác giới: Địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sinh; và cũng do năng lực pháp thiện này chỉ hỗ trợ thiện nghiệp cho quả tái sinh trong cõi thiện giới... mà thôi. Được sinh kiếp nào, mỗi người trong chúng con là người có chánh kiến, có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, tin nghiệp và quả của nghiệp, có duyên lành được gần gũi thân cận với bậc thiện trí, có đức tin trong sạch nơi bậc thiện trí, cố gắng tinh tấn hành theo lời giáo huấn của bậc thiện trí, không ngừng tạo mọi pháp hạnh ba-la-mật cho sớm được đầy đủ trọn vẹn, để mong sớm chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, mong diệt đoạn tuyệt mọi phiền não trầm luân, trở thành bậc Thánh Arahán.

Trong vòng tử sinh luân hồi, mỗi khi chúng con được nghe tin lành Đức Phật, Đức Pháp, Đức Tăng ngự nơi nào, dù gần dù xa, chúng con liền phát sinh tâm hỷ lạc, có đức tin trong sạch nơi Đức Phật, Đức Pháp, Đức Tăng; quyết tâm tìm đến nơi ấy, để hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, hoặc chư Thánh Thanh Văn đệ tử của Ngài, lắng nghe chánh pháp, cố gắng tinh tấn hành theo chánh pháp của Ngài, để mong chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, diệt đoạn tuyệt mọi phiền não, mọi tham ái, mọi ác pháp, trở thành bậc Thánh Arahán sẽ tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt tử sinh luân hồi trong ba giới bốn loài.

Do nhờ năng lực phước thiện pháp thí thanh cao này hỗ trợ, nhắc nhở cho mỗi người chúng con, khi thành tựu quả báu ở cõi người (manussasampatti) như thế nào, cũng không đắm say trong cõi người; hoặc khi thành tựu quả báu ở cõi trời (devasampatti) hưởng được an lạc như thế nào, cũng không đắm say trong cõi trời. Bởi vì mục đích cứu cánh cao cả của mỗi chúng con là cầu mong sớm thành tựu quả báu chứng ngộ Niết Bàn (Nibbānasampatti), giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong ba giới bốn loài.

Icchitaṃ patthitaṃ amhaṃ,

Khippameva samijjatu.

Điều mong ước, ý nguyện của chúng con,

Cầu mong sớm được thành tựu như ý.

Mùa an cư nhập hạ Pl. 2550
Thiền viện Viên Không,
Xã Tóc Tiên, huyện Tân Thành
Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Tỳ khưu Hộ Pháp
(Dhammarakkhita Bhikkhu)

Giới Luật là mạng mạch cuả Phật Pháp
Giới Luật còn ắt Phật Pháp còn

Chứn

Operating as usual

05/08/2023

Lạy đức Bồ Tát Quán Thế Âm, chúng con xin học theo hạnh Bồ Tát, biết lắng tai nghe cho cuộc đời bớt khổ. Ngài là trái tim biết nghe và biết hiểu. Chúng con xin tập ngồi nghe với tất cả sự chú tâm và thành khẩn của chúng con. Chúng con xin tập ngồi nghe với tâm không thành kiến. Chúng con xin tập ngồi nghe mà không phán xét, không phản ứng. Chúng con nguyện tập ngồi nghe để hiểu. Chúng con xin nguyện ngồi nghe chăm chú để có thể hiểu được những điều đang nghe và cả những điều không nói. Chúng con biết chỉ cần lắng nghe thôi, chúng con cũng đã làm vơi bớt rất nhiều khổ đau của kẻ khác rồi.

Nam Mô Bồ Tát Quán Thế Âm

23/04/2019

Nếu chúng ta bình an, chúng ta hạnh phúc, chúng ta có thể cười. Và mọi người trong gia đình, trong xã hội có thể hưởng niềm vui từ chính sự bình an của ta.


14/10/2018

Đừng nghĩ quá nhiều về việc phải làm ngay điều gì đó cho người khác - cần phải đặt vấn đề cuộc sống của bản thân mình lên trước. Cuộc sống của bạn phải an lành, phải vui vẻ, hạnh phúc. Khi đó bạn mới có thể hành động để tạo ra niềm vui và hạnh phúc.

Thiền Sư Thích Nhất Hạnh

29/03/2018

AN CƯ KIẾT HẠ:
XUẤT GIỚI NHƯ THẾ NÀO LÀ ĐÚNG PHÁP?
HT. Thích Minh Thông (Khánh Hòa)

Vừa qua, có một số ý kiến phản ánh về báo Giác Ngộ, trong mùa an cư kiết hạ, sao vẫn thấy một vài chư Tăng Ni đi đây đó, như vậy có đúng với giới luật hay không? Đây cũng là câu hỏi đã được nêu ra tại các khóa bồi dưỡng về giới luật gần đây. Chúng tôi xin giới thiệu ý kiến của HT.Thích Minh Thông (ảnh), Phó Trưởng ban Thường trực BTS GHPGVN tỉnh Khánh Hòa, Hiệu trưởng Trường TCPH Khánh Hòa, một trong những vị giáo phẩm am tường Luật tạng, về vấn đề này.

An cư kiết hạ là một hình thức sinh hoạt đặc thù của chư Tăng. Trong thời gian an cư, đời sống Tăng-già có những Tăng sự mà ngày thường không có như xuất giới, tự tứ… Tất cả những hoạt động Tăng sự như vậy đều được Đức Phật tùy duyên chế định. Việc thực hiện nghiêm túc các pháp ấy, không chỉ là sự phụng hành lời dạy của Ngài “lấy giới luật làm thầy”, mà còn giúp đoàn thể Tăng-già ổn định, trường tồn.

Mỗi năm từ đầu mùa mưa (ở Ấn Độ), theo chế định của Đức Phật, chư Tăng đều phải an cư kiết hạ. Đó là bổn phận và trách nhiệm của một Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni đối với sự tu tập của mình. Bởi đó không chỉ là sự tuân thủ giới luật mà Đức Phật đã đề ra, mà còn là sự “tự nguyện” dành cho mình một khoảng thời gian tu tập, sống chung trong cộng đồng Tăng-già từ các nơi tập trung về. Tất cả đều sống chung trong tinh thần hòa hợp “sáu pháp hòa kính”.

Xuất giới và thọ nhật - được phép ra khỏi nội giới an cư thế nào?

Theo quy định, thời gian an cư 3 tháng tất cả hành giả đều không được ra khỏi cương giới an cư đã quy định, thường là phạm vi đại giới. Trừ trường hợp đi khất thực. Nhưng sau khi xong thì phải trở về ngay lại nội giới. Phạm vi đại giới này tùy theo phạm vi khi kết giới an cư. Đại giới có thể bằng khuôn viên tự viện. Hoặc đại giới có thể kết rộng ra bằng một khu vực nhất định, bằng 10 câu-lô-xá (tương đương 18km hoặc 36km tùy theo cách tính). Khoảng cách này đủ để một người có thể đi về trong ngày.

Tuy nhiên có trường hợp vị xuất giới (tức ra khỏi cương giới quy định) không thể quay về trong ngày, về trước khi ánh sáng mặt trời (minh tướng) xuất hiện. Việc đi qua đêm như vậy phải tác bạch “thọ nhật” như pháp mới được xuất giới. Tất nhiên, việc xuất giới qua đêm như thế phải là những công việc vì Tăng sai, công việc chung của Tăng, việc của cư sĩ, những nhân duyên chính đáng…

Căn nguyên được ghi lại về việc Đức Phật khai cho việc “cấm túc” được ra khỏi nội giới an cư là do có cư sĩ thỉnh mời. Trưởng giả Ưu-đà-diên (Udena) ở Kiều-tát-la (Kosala) thỉnh chư Tăng đến nhà thọ trai và thuyết giảng giáo pháp nhân mùa an cư. Tuy nhiên, do nhà ông ở xa, chư Tăng không thể đi và trở về lại trú xứ an cư trong ngày, nên không thể nhận lời của trưởng giả Ưu-đà-diên. Việc này được thưa thỉnh lên Đức Phật. Ngài đã cho phép chư Tăng được xuất giới trong 7 ngày. Sau đó vì những lý do khác, việc xuất giới được Đức Phật cho phép nới rộng ra 2 tuần, 1 tháng hoặc hơn. Tuy nhiên thời gian không được quá 40 ngày. Trường hợp xuất giới nhiều lần thì tổng số ngày xuất giới cũng không được quá 40 ngày. Nếu vượt số ngày quy định này thì coi như vị đó “phá hạ”.

Nói là 7 ngày hay 40 ngày nhưng thực chất chỉ có 6 ngày hay 39 ngày, vì trong ngày cuối cùng phải về lại nội giới, tức là đêm cuối cùng phải có mặt tại trú xứ an cư. Thời hạn này không thể vượt qua, vì Đức Phật quy định thời gian ở trong nội giới phải nhiều hơn thời gian ở ngoài. Nếu vượt thời hạn này coi như bị phá hạ.

Riêng chư Ni, thời gian quy định có sự khác biệt so với chư Tăng. Theo luật Tứ phần thì chư Ni chỉ được được phép xuất giới trong 7 ngày. Không được vượt quá số ngày này như chư Tăng, tức là tối đa chỉ được 7 ngày trong một lần thọ thất nhật. Ở các bộ luật, chư Ni đều không có pháp yết-ma thọ nhật. Vì chúng ta thọ trì bộ luật Tứ phần nên áp dụng những quy định cho phép chư Ni thọ nhật xuất giới 7 ngày. Và phải trở về nội giới đúng theo quy định, không có trường hợp khai mở.


Tác pháp thọ nhật thế nào mới đúng pháp?

Tùy theo việc thọ nhật xuất giới bao nhiêu ngày mà có thể thức tác pháp. Có hai hình thức xin thọ nhật xuất giới: đối thú thọ nhật và yết-ma thọ nhật (bạch nhị yết-ma).

Theo luật, việc thọ nhật 7 ngày trở lại chỉ cần đối thú trước một Tỳ-kheo, tác pháp xin xuất giới. Trước khi xuất giới, Tỳ-kheo phải tác pháp thọ nhật chứ không thể tự tiện xuất giới đi ra ngoài. Đây là pháp đối thú, không phải bạch Tăng, mà chỉ cần bạch với một vị Tỳ-kheo đang an cư trong cùng một trú xứ là được.

Nếu tại trú xứ không có Tỳ-kheo, cũng có thể nói với Sa-di hoặc cư sĩ việc xuất giới. Trường hợp không có ai thì chỉ “tâm niệm tác pháp”. Tỳ-kheo thọ an cư xuất giới mà không tác pháp thì coi như mất hạ.

Với trường hợp Ni, vì Phật quy định Tỳ-kheo-ni phải ở trong chúng (không được ở một mình ngay cả thường ngày) và nương theo Tăng trong mùa an cư, nên Tỳ-kheo-ni không có pháp nói với Sa-di, cư sĩ và đặc biệt không có “tâm niệm tác pháp” như Tỳ-kheo khi muốn xuất giới 7 ngày.

Theo luật Thập tụng, trường hợp thọ nhật xuất giới 7 ngày nhưng thời hạn hết mà công việc chưa xong, phải trở về lại trú xứ, sau đó tác pháp “Tàn dạ” rồi mới có thể xuất giới trở lại chỗ duyên sự trước đó. Tàn dạ nghĩa là đêm còn dư. Và, cũng tác pháp đối thú như khi xuất giới, nhưng văn tác bạch khác.

Chư Tăng TP.HCM tác pháp an cư tại Việt Nam Quốc Tự - Ảnh Bảo ToànChư Tăng TP.HCM tác pháp an cư tại Việt Nam Quốc Tự - Ảnh: Bảo Toàn

Đối với các trường hợp xuất giới nửa tháng, một tháng hoặc tối đa 40 ngày thì phải bạch Tăng. Sau khi Tăng đã tác pháp yết-ma thọ nhật thì đương sự mới được phép xuất giới. Tỳ-kheo muốn xuất giới thỉnh 4 vị Tỳ-kheo vào giới trường của trú xứ để tác pháp bạch nhị yết-ma. Tỳ-kheo-ni không có pháp này.

Sau khi Tăng đã yết-ma thọ nhật, Tỳ-kheo thọ nhật phải rời khỏi trú xứ trong ngày, không được để cách đêm. Nếu đã bước chân ra khỏi cương giới thì không quay trở lại. Nếu quay trở lại thì phải thỉnh Tăng tác pháp yết-ma thọ nhật lại từ đầu, sau đó mới được xuất giới.

Phá hạ

Phá hạ là hành vi vi phạm các điều quy định trong an cư mà Đức Phật đã chế định. Phá hạ chủ yếu do việc xuất giới - rời khỏi trú xứ an cư. Theo luật, có hai trường hợp phá hạ: phá hạ hợp pháp (không mất hạ) và phá hạ không hợp pháp (mất hạ).

Những Tỳ-kheo tự mình bước ra khỏi cương giới phạm vi trú xứ an cư mà không có duyên sự chính đáng, không tác pháp đúng pháp cho những trường hợp 7 ngày hoặc quá 7 ngày thì phá hạ. Tỳ-kheo-ni cũng vậy, không tác pháp đối thú thọ thất nhật mà đi ra khỏi nội giới thì phá hạ. Hoặc xin thọ nhật 7 ngày nhưng đi vượt quá số ngày đó thì cũng bị phá hạ. Những vị ấy coi như mất hạ của mùa an cư năm đó.

Trường hợp phá hạ hợp pháp là do những tai nạn xảy ra bất ngờ. Hoặc khi thọ nhật xuất giới đã hết hạn mà tai nạn xảy đến với đương sự và không thể trở về lại nội giới an cư đúng thời hạn. Trường hợp tại trú xứ có nạn, phải rời đi đến trú xứ khác tiếp tục an cư thì không coi là phá hạ. Nếu rời đi mà không tiếp tục an cư ở trú xứ khác thì coi như phá hạ.

Theo luật, có 8 trường hợp tai nạn được coi là phá hạ hợp pháp: 1- Nguy hiểm phạm hạnh: tại trú xứ an cư, Tỳ-kheo có thể bị người quyền thế ép buộc phá giới, những người nữ thường đến quyến rũ phá giới, cha mẹ thân quyến thuyết phục phá giới. Để đảm bảo đời sống xuất gia và tịnh hạnh, Tỳ-kheo có thể rời trú xứ. 2- Nguy hiểm vì kho tàng: sau khi an cư, biết tại trú xứ có kho tàng có thể xảy ra nguy hiểm, Tỳ-kheo có thể rời trú xứ. 3- Quỷ phá hoại: tại trú xứ thường bị ma quỷ quấy phá, đe dọa sinh mạng, Tỳ-kheo có thể rời trú xứ. 4- Rắn độc đe dọa sinh mạng. 5- Thú dữ đe dọa sinh mạng. 6- Giặc cướp đe dọa sinh mạng. 7- Thiếu thốn các nhu cầu tối thiểu: ăn uống, thuốc men hoặc không có người giúp đỡ. 8- Phá Tăng: Tăng tại trú xứ an cư không hòa hợp, đang có sự chia rẽ, Tỳ-kheo không muốn bị lôi cuốn vào các phe phái tạo ra tranh chấp, không thể hòa hợp; Tỳ-kheo có thể rời bỏ trú xứ.

04/11/2017

Khai Đạo Giới Tử

06/07/2017

Tăng sĩ trẻ thời hiện đại và việc giữ gìn giới luật như thế nào?
Là Tăng sĩ, việc “thượng cầu hạ hóa” đưa đạo vào đời là hoài bảo, song việc dụng tâm giữ gìn phạm hạnh không bị đồng hóa bởi thế tục là điều luôn luôn canh cánh bên lòng. Hai chữ “tùy duyên” được chúng ta thực hiện sao cho nó có ý nghĩa tích cực: “tùy thuận chúng sanh, dĩ văn tải đạo” đừng để nó bị biểu thị theo nghĩa “phan duyên trần cảnh, ô nhiễm thân tâm”.
Tuy nhiên với một xã hội hiện đại hóa, văn minh và phát triển, thì chúng ta cũng dùng chút phương tiện giáo hóa thế gian, mới hòa nhập vào cuộc sống của mỗi cá nhân, gia đình và xã hội một cách hợp lý và đầy trí tuệ.
Nhưng với hình thức nào, phương tiện ra sao,căn bản của người xuất gia thì không thể phương tiện được, nói rõ hơn cái gì thuộc về giới tánh, giới thể cái đó không thể phương tiện được.
Nhưng người xuất gia có quyền hòa nhập vào cuộc đời bởi vì “Phật pháp bất ly thế gian giác”. Nhưng không cho nó hòa hợp và hòa tan một cách dễ dàng, ta không nên phương tiện quá khiến mình trở nên thế tục hóa lúc nào không hay.
Với người xuất gia trẻ thời nay có đầy đủ khả năng làm cho Phật pháp hưng thịnh và phát triển mạnh, song bên cạnh đó cũng không ít thành phần tham gia phá hoại làm cho Phật pháp ngày một giảm đi. Mặc dù Phật giáo chú trọng về tâm, về tánh không đặt nặng về tướng lắm, nhưng một con sâu làm rầu nồi canh, một đống phân nhỏ có thể làm ô uế căn nhà rộng, do đó ta không thể xem thường được.
Nhiều người xuất gia trẻ thời bây giờ dễ rơi vào trường hợp này, nhưng họ không hề hay biết vì cho rằng phương tiện hóa. Ở đây chúng tôi không tiện nói rõ ra, nhưng hy vọng rằng họ sẽ tỉnh thức trong một mai, cho dù hành vi đó trong giới điều của Phật không có nhưng nó rất nguy hiểm cho Phật giáo chúng ta.
Sống trong một cộng đồng, thường thường cái gì được cho là tốt đẹp thì tập trung phát triển mạnh, điều đó cũng xảy ra không ít phiền toái. Phật giáo đang phát triển trên khắp năm châu bốn bể, nhưng chúng ta đừng sớm hãnh diện và chủ quan mà phải nỗ lực, phấn đấu để bảo vệ Phật pháp ngày càng trong sáng và lành mạnh hơn, vì Phật giáo chúng ta là đạo trí tuệ, đạo bình đẳng, là đạo sống cho nhân loại, không để cho một vết nhơ mà nhòa cả trang giấy trắng.
Trong kinh đức Phật dạy rằng: “tất cả các ma vương ngoại đạo, không ai có thể phá hoại được giáo pháp của ta, chỉ có đệ tử ta mới làm cho giáo pháp ta bị hủy diệt”. “Chỉ có trùng trong thân sư tử mới ăn được thịt sư tử mà thôi”.[33]
Trích : "Giới Luật Phật Giáo Và Những Vấn Đề Xã Hội" - Thích Ngộ An

Timeline photos 22/05/2017

BÁT KỈNH PHÁP - Tám pháp thành tựu của Tỳ-kheo Ni
Hòa Thượng Luật Sư Thích Minh Thông
Một trong những vai trò phục hưng xã hội và cách mạng văn hóa của Đức Phật, điều mà đôi khi bị các sử gia lãng quên, đó là giải phóng phụ nữ. Đức Phật phát huy một cuộc cách mạng trong tư tưởng và trong lối cảm xúc của đại chúng bằng cách công khai và can đảm tuyên bố rằng người nữ có thể đạt đến mức tiến bộ tuyệt đỉnh, thành tựu trí tuệ thâm sâu dẫn tới Niết bàn. Tuyên ngôn này đã gây một biến động lớn lao trong giới tôn giáo thời bấy giờ vì đó là trực tiếp đương đầu với niềm tin đã ăn sâu vững chắc trong dân gian. Sự kiện Đức Phật chấp nhận thành lập giáo hội Tỳ kheo ni (*), nâng vị trí người nữ đến mức quan trọng nhất, là việc làm duy nhất và chưa từng thấy trong lịch sử tôn giáo cũng như các trường phái tư tưởng được biết trước và ngay thời Đức Phật. Đây là một sự canh tân mới lạ phi thường vì nó chấp nhận cho hàng phụ nữ đặc quyền tiếp thụ một bản chất cao quý, một sức mạnh kiên cố vững chắc trong nền đạo lý, một khả năng thấm nhuần trí tuệ thâm sâu ngang hàng với nam giới. Và hơn 25 thế kỷ đã trôi qua, mặc dù nhiều hệ thống tôn giáo khác đã phát triển cực thịnh, nhưng vẫn chưa thấy có thêm một tôn giáo nào thành lập một giáo hội cho hàng nữ tu sĩ. Cho nên có thể nói rằng hàng phụ nữ trên thế giới vẫn chịu một món nợ trường cửu đối với Đức Phật vì Ngài đã nâng cao họ từ địa vị thấp kém và nhục nhã nhất trong xã hội lên hàng danh dự này.

Thế nhưng, cũng chính sự việc thành lập giáo hội Tỳ kheo ni mà người nữ xuất gia giữa thời đại tiến bộ hiện nay lại miễn cưỡng trong niềm hạnh phúc lớn lao đó, vì họ ngờ vực Đức Phật chưa thực sự triệt để trong việc nâng cao vị trí của họ ngang hàng danh dự với nam giới, đã chế ra tám điều cần phải cung kính. Tám điều kiện ấy có thực sự quan trọng làm tăng ích cho giáo hội Tỳ kheo ni tồn tại hay chỉ có tính khả thi trong hoàn cảnh xã hội đương thời?

Tưởng cần nhắc lại sự việc thành lập giáo hội Tỳ kheo ni và nguyên nhân Đức Phật chế ra tám điều kiện cần phải cung kỉnh. Sau khi vua Suddhodana (Tịnh Phạn) băng hà, bà Mahà Pajàpati Gotami (Ma Ha Ba Xà Ba Đề – Kiều Đàm Di) nhàm chán sự giả tạm của kiếp phù du, quyết định trở về nương tựa đời sống xuất gia giải thoát. Một lần, khi Đức Phật về lại kinh thành Kapilavattu (Ca Tỳ La Vệ) để giảng hòa một cuộc tranh chấp dữ dội giữa hai dân tộc Sakyan và Koliyan, đang giành quyền sử dụng nước của dòng sông Rohini. Sau khi cuộc cãi vã cay đắng đã được dàn xếp ổn thỏa và hai bên dịu giọng, như thường lệ, Đức Thế Tôn mở lời thuyết giảng giáo pháp, và sau thời pháp đó một số đông người trai trẻ Sakyan xin gia nhập vào giáo hội chư Tỳ kheo. Các bà vợ của những vị ấy, do bà Mahà Pajàpati Gotami hướng dẫn đến chỗ Đức Phật khẩn khoản xin được xuất gia: “Bạch Đức Thế Tôn, thật là một đại hạnh cho nữ giới nếu hàng phụ nữ chúng con được chấp nhận gia nhập vào Tăng đoàn để khép mình trong khuôn khổ của giáo pháp và giới luật mà Ngài công bố”. Đức Phật không sẵn sàng khích lệ thỉnh nguyện của bà Gotami và trả lời: “Đủ rồi, này Gotami, Như Lai không thể làm vừa lòng bà và chấp nhận như vậy”. Lần thứ nhì, rồi lần thứ ba, bà Gotami lặp lại lời thỉnh cầu, nhưng mỗi lần đều bị từ chối. Sau đó Đức Thế Tôn lần hồi sang thành Vesali (Phệ Xá Ly) và ngự trong một đền thờ trên đỉnh núi. Bà Gotami vẫn không nao núng ngã lòng vì những đợt thỉnh nguyện bất thành, mà bền gan cam chịu mọi khổ nhọc và đương đầu nghịch cảnh, quyết định theo chân Đức Thế Tôn đến Vesali cùng với một số đông mệnh phụ phu nhân có niềm tin nơi bà (có nơi nói cùng với 500 người nữ giòng họ Xá Di). Cắt bỏ chùm tóc đẹp thuở nào, vứt bỏ nữ trang lộng lẫy, tự khoác lên mình tấm y thô thiển, các bà cam chịu khổ nhọc đi bộ, trải qua đoạn đường dài 150 dặm đến Vesali, mình mẩy lấm lem bụi bặm, y phục rách rưới tả tơi, chân cẳng sưng vù đau nhức. Thế mà, ba lần kiên nhẫn nhờ thầy thị giả A Nan tha thiết trình bày nguyện vọng, Đức Phật vẫn một mực chối từ. Song, dưới sự nài nỉ nồng nhiệt của Tôn giả A Nan, sự tinh tế chọn điểm tế nhị là vấn đề biết ơn đối với Di mẫu Gotami và đặc biệt là gợi mở khả năng của người nữ có thể chứng nhập bốn quả Thánh nên Đức Phật đã thuận lòng. Tuy nhiên, với trí tuệ nhìn xa và hiểu rộng, Đức Thế Tôn có thể thấy những hiểm họa và những khuyết điểm không thể tránh trong việc điều hành song song hai giáo hội Tăng già cùng một lúc. Do đó, Ngài ban hành tám điều qui định cho giáo hội Tỳ kheo ni nhằm giữ gìn và bảo vệ tương lai cho cả hai giáo hội.

1 Một Tỳ kheo ni, dầu có trăm tuổi hạ khi gặp thầy Tỳ kheo mới thọ giới Cụ túc cũng phải chào hỏi, đảnh lễ và thực hành tất cả những bổn phận thích nghi đối với vị Tỳ kheo.

2- Một Tỳ kheo ni không được khiển trách hay nặng lời đối với một vị Tỳ kheo trong bất kỳ trường hợp nào.

3- Tỳ kheo ni không được ngăn Tỳ kheo xét tội, thuyết giới, tự tứ hay nói lỗi của Tỳ kheo. Trái lại, Tỳ kheo được quyền cử tội Tỳ kheo ni.

4- Muốn thọ trì Cụ túc giới phải thông qua hai bộ Tăng: Tỳ kheo ni và Tỳ kheo

5- Nếu Tỳ kheo ni phạm tội hữu dư (Tăng tàn) thì phải đến trước hai bộ Tăng thực hành pháp Ý hỷ (Ma na đỏa) trong thời gian nửa tháng.

6- Nửa tháng phải đến bên Tỳ kheo tăng cần cầu dạy bảo.

7- Không được an cư kiết hạ ở địa phương nào không có Tỳ kheo ở.

8- Khi an cư xong, phải đến Tỳ kheo tăng cầu ba sự tự tứ: thấy, nghe và nghi.

Tôn giả A Nan trao truyền lại tám điều giới pháp ấy cho bà Mahà Pajàpati Gotami. Bà vui mừng khôn xiết, hoan hỷ lãnh thọ và nguyện kính giữ trọn đời không vi phạm. Sau khi giáo hội Tỳ kheo ni thành lập dưới sự lãnh đạo của bà Gotami – Đại Ái Đạo, từ các nẻo đường cuộc sống, mọi tầng lớp trong xã hội đến gia nhập vào giáo hội và công trình nỗ lực tiến tới mục tiêu giải thoát hoàn toàn của các bà đã để lại trong văn học Phật giáo những trang vẻ vang chói lọi bằng khúc ca khải hoàn, Therigàthà (những Thánh thi của chư Tỳ kheo ni).

Không còn nghi ngờ gì nữa về sự ra đời và tồn tại đến nay của giáo hội Tỳ kheo ni khắp nơi trên thế giới. Chúng ta thấy được tuệ giác gì nơi Đức Phật khi năm lần bảy lượt Ngài mới tán thành việc thành lập giáo hội Tỳ kheo ni và đặt chế tám điều kiện trước khi cho ra đời thêm một giáo hội nữa? Sự kiện Đức Phật thông hiểu tiềm năng sâu ẩn và khả năng hoàn mãn những thành tựu vĩ đại và cao thâm của hàng phụ nữ không làm cho Ngài mù quáng không thấy những khuyết điểm về kết cấu tâm sinh lý của người nữ. Khuynh hướng nhẹ dạ yếu mềm của người nữ dễ dàng rơi vào tội lỗi, dễ bị khuyến dụ đi trên con đường kém đạo Đức. Chính điểm đặc thù ấy là một trở ngại lớn lao cho phẩm hạnh cốt yếu của người sống độc thân, vốn dĩ rất cần thiết cho sự điều hành suôn sẻ của một cộng đồng. Đó là thiên tánh. Đức Phật vạch rõ yếu kém và khuyết điểm của hàng phụ nữ không phải để chế nhạo hay cười khinh, mà Ngài nhắm đến mục tiêu cao quý là giúp họ nhận định những khó khăn gây trở ngại cho những nỗ lực thành tựu mục tiêu của mình và khuyến khích họ thận trọng canh phòng các cuộc tấn công của những khát vọng, các cuộc đột kích của những cám dỗ. Đức Phật không vì sự trở ngại đó mà không tạo điều kiện cho họ vượt lên ngang hàng với vị trí mà nam giới có thể tới, chứng đắc quả giải thoát. Song, thái độ do dự trước khi chấp nhận người nữ vào giáo pháp là hồi chuông cảnh báo con đường tiến bộ của họ đầy dẫy sự hiểm nguy và ảnh hưởng đến sự tồn vinh Phật pháp.

Rõ ràng trong thiên tánh người nữ đã không thể so sánh với người nam, mặc dù dù khả năng tiến bộ và thành tựu mục tiêu Niết bàn có ngang nhau. Nhưng làm sao để người nữ luôn khắc ghi sâu vào lòng bài học tự mình uốn nắn tâm tánh, diệt trừ bản ngã mãnh liệt để thành đạt mục tiêu tối hậu là một công trình vĩ đại, là thành trì phải được bảo vệ kiên cố hơn người nam tiến tu gấp nhiều lần. Làm sao để người nữ xuất gia luôn thấy rằng việc thành lập cho giáo hội Tỳ kheo ni sở dĩ thành tựu là từ sự có mặt vững chãi trước đó khoảng 20 năm của giáo hội Tỳ kheo (Căn bản tạp sự – Q.37, Kinh Trường A Hàm) làm điểm tựa. Làm thế nào để Tỳ kheo ni hiểu rằng sự thành lập giáo hội của họ từ giai đoạn sơ khai đã mang theo với nó một vài yếu tố hiểm nguy, và nếu không có những phương sách dự phòng, trong tương lai có thể xảy ra những bất trắc khó lường. Vì thế, Đức Phật ban hành ra tám điều giới hay tám điều kiện bảo vệ. Chính tám điều giới này tạo điều kiện để điều hành tốt đẹp hai cơ quan trong tinh thần trang nghiêm và thích đáng với bản tánh tự nhiên. Nó giữ chư Ni trong vị trí thích hợp với tâm tánh người nữ. Cũng chính tám điều giới này đã hỗ trợ trạng thái điều hòa và thuận thảo, đem lại tình giao hảo thích nghi giữa Tỳ kheo và Tỳ kheo ni.

Người nữ học giới ngày nay lẽ nào không thấy được giá trị thiết thực tám điều giới làm khuôn phép tiến tu và điều kiện cần thiết cho sự tồn tại giáo hội Tỳ kheo ni mà lại không muốn tuân thủ, cho là lỗi thời? Lẽ nào Tỳ kheo tăng ngày nay không đáng cung kính? Tăng thì luôn luôn thanh tịnh và hòa hợp, vì Tăng là chỉ số gồm có 4 vị Tỳ kheo trở lên. Nếu cho rằng Tăng không đáng cung kính vì thiếu sự thanh tịnh và hòa hợp, giáo giới Ni chúng sẽ không hợp căn cơ, không làm cho Ni chúng vui thích mà không cầu giáo thọ hay không đến Đại Tăng cầu thọ cụ túc giới thì nhất định không tồn tại tánh Tỳ kheo ni. Có thể vì một vài cá nhân Tỳ kheo nào đó bê bối không đủ phạm hạnh khiến chư Ni bất nhẫn không muốn cung kính, nhưng đừng vì thế mà quên rằng việc cầu giáo thọ hay cầu thọ đại giới là cầu với Tăng chứ không phải cầu với cá nhân. Song, cho dù cá nhân vị Tỳ kheo đó có như thế nào đi nữa thì đó cũng thuộc phạm vi của giáo hội chư Tỳ kheo, Tỳ kheo ni phải luôn nhớ trong tám điều không thể vượt qua đó đã ghi rõ không được khiển trách hay nặng lời đối với Tỳ kheo, không được chê bai nói rằng: Thầy phá giới, phá kiến, phá oai nghi (Luật Tứ Phần, Ngũ Phần, Ma Ha Tăng Kỳ – Q.3). Đủ thấy, tám điều giới pháp là linh hồn của giáo hội Tỳ kheo ni không thể không bảo trọng, như trong Luật Tứ Phần – Tỳ kheo ni ghi : “Như vậy đó A Nan! Ta nay đã nói tám kỉnh pháp suốt đời tôn trọng không được trái phạm, nếu người nữ nào thực hành được thì tức là được thọ giới. Cũng ví như có người muốn qua dòng nước lớn, phải bắc cầu mà đi qua”. Chiếc cầu lợi ích qua dòng sông sanh tử đó ai muốn bỏ vì thấy ràng buộc thì tùy. Nhưng hãy nên nhớ một điều nếu không có tám pháp cung kính đó thì chắc chắn không có giáo hội Tỳ kheo ni hình thành và cũng không có ai là thật tánh Tỳ kheo ni.

Vấn đề sự xuất hiện Tỳ kheo ni đã làm chánh pháp mất đi một nửa có liên quan gì đến Bát kỉnh pháp? Chúng ta có thể lý giải điều này là do sự song hành vận động của hai giáo hội là điều kiện thuận lợi cho hai hệ phái vốn còn mang nhiễm tính “cọ xát”. Sự qua lại thuận tiện gần như “hợp thức hóa” giữa Tăng và Ni, tính yếu mếm cần được chở che của Tỳ kheo ni, sự phô trương đức tính tùng bách hiên ngang nâng đỡ của hàng Tỳ kheo đã là nội dung chính yếu cho ngọn lửa ái nhiễm bốc cháy. Tất nhiên chánh pháp có đổi sang tượng pháp là do người tu chứng ngộ ít dần chứ không thể đổ thừa do sự xuất hiện của Tỳ kheo ni.

Nhưng xét kỹ nguyên nhân không chứng nhập Niết bàn là hành giả không phát huy được định tuệ. Định tuệ có từ giới. Khả năng hư hại giới pháp của các thầy Tỳ kheo không gì khác hơn là nữ sắc, mà trong đó Tỳ kheo ni là khả năng nhiều nhất. Vì thế, Bát kỉnh pháp đối với Tỳ kheo ni là điều nhất định không thể vượt qua, để duy trì một nửa chánh pháp còn lại, để giữ gìn sự thanh khiết và thánh thiện giữa hai giáo hội hiện tại và tương lai.

Tóm lại, có thể nói tám giới trọng yếu đó là nền tảng vững chắc làm nền để xây dựng kiến trúc đồ sộ và công trình sinh hoạt chảy trôi suôn sẻ của hai giáo hội.

(*) Bây giờ gọi là Ni bộ, danh từ Giáo hội chỉ sử dụng chung cho cả hai bộ.

Photos from Pháp Bụt và lời dạy Sư Ông's post 15/05/2017
Timeline photos 19/04/2017

Nếu bạn nhìn thật sâu vào lòng bàn tay mình, bạn sẽ nhìn thấy cha mẹ và tất cả những thế hệ tổ tiên của bạn. Tất cả họ vẫn đang sống trong khoảnh khắc này. Mỗi một người đều hiện diện trong cơ thể bạn. Bạn là sự tiếp nối của mỗi người trong số đó.

If you look deeply into the palm of your hand, you will see your parents and all generations of your ancestors. All of them are alive in this moment. Each is present in your body. You are the continuation of each of these people.

Sư Ông Làng Mai

24/03/2017

Pháp y ( khái niệm - ý nghĩa và công đức)
Giáo Thọ Sư : Thích Thiện Chơn Thich Thien Chon

Timeline photos 07/03/2017

TP.HCM: Sẽ khai giảng khóa Giới luật, nghi lễ nâng cao

Theo nguồn tin của Báo Giác Ngộ: nhằm đáp ứng nhu cầu nâng cao kiến thức giới luật và nghi lễ thiền môn của Tăng Ni, Ban Thường trực Ban Trị sự GHPGVN TP.Hồ Chí Minh chỉ đạo Ban Tăng sự, Ban nghi lễ GHPGVN TP tổ chức khóa học nâng cao kiến thức về giới luật và nghi lễ thiền môn cho Tăng Ni đại chúng (đã tham dự khóa bồi dưỡng kiến thức giới luật và nghi lễ năm 2016).

Thời gian: Từ 7 giờ đến 10 giờ, thứ Bảy và Chủ nhật hàng tuần, từ ngày 25-3-2017 đến ngày 7-5-2017 (nhằm ngày 28-2 đến 12-4-Đinh Dậu).

Địa điểm: Chùa Huê Nghiêm, 299B Lương Định Của, P.Bình Khánh, Q.2, TP.HCM.

Nội dung: Giới Luật (các pháp Yết-ma) do HT.Thích Minh Thông, Trưởng ban Tăng sự GHPGVN TP phụ trách; Nghi lễ Phật giáo do TT.Thích Lệ Trang, Trưởng ban Nghi lễ GHPGVN TP phụ trách.

Ban Trị sự GHPGVN quận, huyện triển khai tinh thần thông báo trên đến toàn thể Tăng Ni tại địa phương để được tri tường và đăng ký tham dự, đồng thời lập danh sách gởi về Văn phòng Ban Tăng sự (Việt Nam Quốc Tự, 242-244 đường 3/2, phường 12, quận 10), kể từ ngày ra thông báo đến hết ngày 17-3-2017 (nhằm ngày 20-2-Đinh Dậu).

Được biết, khóa học sẽ khai giảng vào lúc 7 giờ, thứ Bảy, ngày 25-3-2017 (nhằm ngày 28-2-Đinh Dậu), Tăng Ni tham dự khóa học có mặt tại chùa Huê Nghiêm (Q.2) vào lúc 6 giờ 30 ngày khai giảng để làm thủ tục nhận thẻ học viên. Tăng Ni không có thẻ sẽ không được vào lớp, vắng mặt 2 buổi học hoặc đến lớp trễ giờ sẽ không được cấp giấy chứng nhận của Ban Tổ chức.

Timeline photos 23/02/2017

Ý NGHĨA VÀ NGHI THỨC PHÁT LỘ SÁM HỐI TRƯỚC KHI THỌ ĐẠI GIỚI

Trong bảy chúng, Tỳ kheo là bậc nhất. Trong ba tụ giới, Cụ Túc là đứng đầu. Người học Phật lấy giới luật làm nền tảng căn bản, là thềm thang đầu tiên để hướng chí đến quả vị giải thoát. Nếu không nghiêm trì Tịnh giới cho chuyên cẩn, thì cũng giống như đứng ở ngoài cửa mà chưa bước vào trong nhà Phật pháp. Giới luật không chỉ ngăn ngừa các điều ác chưa phát sanh, mà còn làm tăng trưởng thiện căn nơi hành giả. Vì thế, Tuyển Phật Trường là nơi chọn ra được những vị Sa di có bình cam lồ thật sạch để ngày mai đây tiếp nhận dòng nước giới pháp mà giới sư truyền trao.

Nghi Thức Giới Tử Phát Lộ Sám Hối được xuất phát trên nền tảng căn bản của Giới Thanh Văn – Các Tội danh đều phải sám hối trên Tướng trước 1 vị Tỳ Kheo thanh tịnh. Vậy nên, Các Giới tử thọ Tỳ kheo giới sẽ cung thỉnh chư vị giáo thọ A-xà-lê để được phát lộ sám hối như thật về 10 giới Sa di mình đã giữ.

Mỗi vị Giới tử sẽ quỳ trước một vị A-Xà-Lê trả lời về 10 điều giới, Giới nào phạm thì thành thật tỏ bày tường tận không che giấu về duyên khởi phạm, cách thức phạm, thời gian, địa điểm , phạm bao nhiêu lần để từ đó Giáo Thọ A- Xà-Lê sẽ định tội và phân tích lỗi phạm . Giới nào không phạm thì trả lời Không Phạm. Tuần tự cho tới khi hết 10 Giới , Vị Giáo thọ sẽ dạy: ” Giới tử đã sanh tâm hổ thẹn, không che giấu, một lòng phát lồ sám hối. Nay các vị sắp đăng đàn thọ Cụ túc, cần giữ thân tâm cho thanh tịnh, để đắc giới thể “. Nhờ vào pháp Đối thú phát lộ này mà Giới tử trừ diệt được tâm nghi hoặc, hoàn toàn thanh tịnh để chuẩn bị thọ đại giới.

Luận Tát-bà-đa ghi:” Người nào phạm những giới trọng trong mười giới sa di nếu không sám hối thì không được thọ Tỳ kheo giới. Vì giới sa di là nền tảng của giới Tỳ Kheo“. Giống như cây lớn, có bộ rễ sum suê thì hoa quả mới trĩu cành, nền móng vững chắc mới xây được lầu gác. Do đó, Lễ phát lồ sám hối là dịp để hàng Sa di đối trước 1 vị Tỳ Kheo thanh tịnh mà tỏ bày tất cả các giới đã phạm.

Bộ Truyền Giới Chánh Phạm nói :” Các vị sa Sa di cần phải theo từng câu hỏi của Giáo thọ A xà lê lần lượt mà trả lời thật, không lấy có nói không, lấy nặng nói nhẹ, không một niệm che giấu. Cho nên mỗi giới tử phải phát khởi lòng tin kiên cố, sanh tâm sợ hãi lớn, sanh tâm hổ thẹn lớn, nghĩ đến nỗi khổ trong đường ác mà phát tâm Bồ Đề, chí thành phát lồ, thiết tha sám hối. Giống như cát, đã đã lọc sạch mới tìm ra vàng, mài sạch vết nhơ không còn tì vết thì thành ngọc tốt”.

Vì vậy , để thân tâm hoàn toàn thanh tịnh, hàng giới tử Sa di đã y như Luật mà chí thành phát lộ sám hối, để khi nhận lãnh được giới pháp mà hàng Thập sư truyền trao, sẽ chánh thức trở thành bậc Chúng Trung Tôn, kế thừa và cửu trụ Phật pháp.

2. CÁCH THỨC PHÁT LỒ SÁM HỐI CỦA GIỚI TỬ TỲ-KHEO

Giới tử đảnh lễ 1 lạy , quỳ thẳng chắp tay tác bạch :

Bạch Đại Đức nhất tâm niệm , còn Sa Di pháp danh là …nay thỉnh Đại đức làm A-xà-lê cho con được phát lồ sám hối. Con xin nương theo Đại Đức mà được sám hối như thật, thanh tịnh để được thọ giới Tỳ Kheo. Xin Đại Đức thương xót .

Thầy A-xà-lê hỏi :

Hôm nay tôi hỏi 10 giới cấm các vị đã thọ . Các vị theo từng câu hỏi dưới đây mà thành thật trả lời, không được có một niệm che giấu.

Hỏi : Giới thứ nhất không sát sanh có phạm không ?

Hỏi : Giới thứ hai không trộm cắp có phạm không ?

Hỏi : Giới thứ ba không dâm dục có phạm không ?

Hỏi : Giới thứ tư không vọng ngữ có phạm không ?

Hỏi : Giới thứ năm không uống rượu, bia có phạm không ?

Hỏi : Giới thứ sáu không trang sức , không dùng nước hoa có phạm không ?

Hỏi : Giới thứ bảy không ca vũ, hát xướng, cố đi xem nghe có phạm không ?

Hỏi : Giới thứ tám không ngồi giường cao tốt, rộng có phạm không ?

Hỏi: Giới thứ chín không ăn phi thời có phạm không ?

Hỏi: Giới thứ mười không giữ tiền, vàng bạc châu báu có phạm không ?

Giáo Thọ A Xà Lê dạy : ” Giới tử đã sanh tâm hổ thẹn, không che giấu, một lòng phát lồ sám hối. Nay các vị sắp đăng đàn thọ Cụ túc, cần giữ thân tâm cho thanh tịnh, để đắc giới thể

2. CÁCH THỨC TÁC BẠCH VÀ PHÁT LỒ GIỚI TỬ TỲ KHEO NI

Giới tử đảnh lễ 1 lạy , quỳ thẳng chắp tay tác bạch :

Bạch Đại Đức Ni nhất tâm niệm , còn Thức Xoa Ma Na pháp danh là ………nay thỉnh Đại đức Ni làm A-xà-lê cho con được phát lồ sám hối. Con xin nương theo Đại Đức Ni mà được sám hối như thật, thanh tịnh để được thọ giới Tỳ Kheo Ni. Xin Đại Đức Ni thương xót .

Thầy A-xà-lê hỏi :

Hôm nay tôi hỏi 6 học giới các vị đã thọ . Các vị theo từng câu hỏi dưới đây mà thành thật trả lời, không được có một niệm che giấu.

Hỏi : Giới xúc chạm thân nam với tâm nhiêm ô có phạm không ?

Hỏi : Giới trộm cắp dưới 5 tiền có phạm không ?

Hỏi : Giới sát hại mạng súc sanh có phạm không ?

Hỏi : Giới cố ý vọng ngữ có phạm không ?
Hỏi: Giới không ăn phi thời có phạm không ?

Hỏi: Giới uống rượu có phạm không ?

Thầy A Xà Lê dạy :” Giới tử đã sanh tâm hổ thẹn, không che giấu, một lòng phát lồ sám hối. Nay các vị sắp đăng đàn thọ Cụ túc, cần giữ thân tâm cho thanh tịnh, để đắc giới thể “.
(Sưu tầm)

Want your school to be the top-listed School/college in Ho Chi Minh City?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Videos (show all)

Location

Website

Address


239 Nam Kì Khởi Nghĩa
Ho Chi Minh City
Other Ho Chi Minh City schools & colleges (show all)
Trường THPT Gia Định Trường THPT Gia Định
Quận Bình Thạnh/thành Phố Hồ Chí Minh
Ho Chi Minh City, 700000

Trường THPT Gia Định - Quận Bình Thạnh - TPHCM Email: [email protected]

Đội Công Tác Xã Hội - Trường ĐH Văn Lang Đội Công Tác Xã Hội - Trường ĐH Văn Lang
233A, Phan Văn Trị, Phường 11, Quận Bình Thạnh
Ho Chi Minh City

Đội Công Tác Xã Hội Trường Đại học Văn Lang

Executive MBA - MCI Executive MBA - MCI
Phòng 401, Tòa Nhà A4 268 Lý Thường Kiệt, Quận 10
Ho Chi Minh City, 700000

MBA-MCI® là một trong những chương trình MBA tiên phong trên thế giới đào tạo Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh chuyên ngành Tư vấn Quản lý và khởi nghiệp

Trường Đại học Ngoại ngữ - Tin học TP. HCM - HUFLIT Trường Đại học Ngoại ngữ - Tin học TP. HCM - HUFLIT
828 Sư Vạn Hạnh, Phường 13, Quận 10
Ho Chi Minh City, 7000

Kênh thông tin Facebook chính thức và duy nhất của Trường Đại học Ngoại Ngữ - Tin Học Thành phố HCM

Đoàn Khoa QTKD - IUH Đoàn Khoa QTKD - IUH
12 Nguyễn Văn Bảo/Gò Vấp, Lầu 3-Khu D
Ho Chi Minh City, 700000

Fanpage chính thức của Đoàn Khoa Quản Trị Kinh Doanh - Trường Đại Học Công Nghiệp TP. Hồ Chí Minh

Trường THCS Lê Quý Đôn Trường THCS Lê Quý Đôn
2 Lê Qúy Đôn, Phường 6, Quận 3
Ho Chi Minh City, 700000

Đây ngôi nhà chung của tất cả học sinh đã và đang và sẽ theo học tại ngôi tr

Information Technology - HCMUS Information Technology - HCMUS
227 Nguyen Van Cu, District 5
Ho Chi Minh City, 70000

Trang Facebook chính thức của Khoa Công nghệ Thông tin, Trường ĐH KHTN, ĐHQG-HCM. Cập nhật thường xuy

CLB Cựu học sinh Lê Quí Đôn Sài Gòn CLB Cựu học sinh Lê Quí Đôn Sài Gòn
110 Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3
Ho Chi Minh City

Trường Trung Học Phổ Thông Lê Quý Đôn là trường trung học xưa nhất thành phố

Khoa Sinh học - Công nghệ Sinh học, Trường ĐH KHTN, ĐHQG HCM Khoa Sinh học - Công nghệ Sinh học, Trường ĐH KHTN, ĐHQG HCM
227 Nguyen Van Cu
Ho Chi Minh City, 700000

Trang Facebook chính thức của Khoa Sinh học - Công nghệ sinh học, Trường ĐH. Khoa học tự nhiên, ĐH. Q

Le Quy Don High School Alumni Le Quy Don High School Alumni
110 Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3
Ho Chi Minh City

Trường Trung Học Phổ Thông Lê Quý Đôn là trường trung học xưa nhất thành phố