Bảng liệt kê danh mục kỹ thuật Kiều thủ
Lưu ý: có nhiều lưu phái Vịnh Xuân quyền có các cách diễn giải khác nhau đối với cùng một thao tác kỹ pháp, ví dụ như:
1. động tác đè tay hay ấn tay được diễn giải thành 6 tên khác nhau là Trất thủ, Khấm thủ, Nại thủ, Án thủ, Chẩm thủ, Trầm thủ;
2. động tác dùng cạnh bàn tay chém gạt mạnh hay thọc thẳng vào mục tiêu được diễn giải thành 2 tên khác nhau là Quát thủ, Sạn thủ và cùng được dịch nghĩa sang tiếng Anh là Shaving-hand hay Scraping-hand;
3. động tác dùng lưng cổ tay ngoài nâng lên đỡ gạt được diễn giải thành Đề thủ, Đỉnh thủ (Hạc Đỉnh thủ)
4. động tác dùng cạnh bàn tay chém mạnh vào yết hầu (cổ họng) được diễn giải thành Tỏa Hầu thủ, Tiêu thủ (Phiêu thủ), Sát Cảnh Thủ.
5. động tác xoay tròn cổ tay hay cùi chỏ tay được diễn giải thành Khuyên thủ, Quyển thủ, trong chữ Hán âm Khuyên và Quyển đọc giống nhau là quān/ quán 圈 theo âm Quan Thoại (nếu phiên ra theo âm của chữ Latin đọc là Chian), đọc theo âm Quảng Đông được Latin hóa là Huen hay Huyn.
6. động tác đỡ chặn tay đối phương được diễn giải thành Phong thủ, Lan thủ đều có ý nghĩa giống nhau.
7. động tác dùng tay kéo cổ đối phương được diễn giải thành Trì Cảnh thủ, Phan Cảnh thủ đều là một nghĩa.
8. động tác phẩy hay ve vẩy cánh tay và cổ tay khi tấn công vào đối phương được diễn giải thành Sủy thủ, Đoái thủ, Phất thủ(thấy rỗ nhất trong Sil Nim tau dòng Diệp Vấn).
9. động tác đưa tay ra thăm dò nội kình của đối phương được diễn giải thành Tầm Kiều, Lao thủ, Vấn thủ.
10. động tác Cổn thủ, Khổn thủ và Bàn thủ có điểm giống nhau khi thực hành động tác vì đều xoay khớp cùi chỏ.
11. động tác dùng tay ngăn chặn đòn tay của đối phương được diễn giải thành Lan thủ, Phong thủ.
12. Vấn thủ: tay đưa tới trước tiếp xúc với đòn địch để hất qua bên, thường dùng hóa giải những thế từ trên đánh xuống, trong bài Mộc Nhân (dòng Diệp Vấn), tay chém vào nách địch là Vấn thủ, trong thực tế là chém vào cổ địch.
13. Sạn thủ: thế giống như Hoành Chưởng, nhưng đánh bằng cạnh bàn tay.
14. Tỏa Hầu thủ: có chi nhánh Vịnh Xuân có thế này là bóp cổ địch nhân.
15. Quát thủ: là đỡ xuống dưới và ra ngoài, tên khác là Cảnh thủ.
16. Cổn thủ: tay trên là Than thủ, tay dưới là Hạ Bàng thủ, gọi là Khổn thủ là sai, vì Khổn là trói, trong danh từ võ thuật, Khổn chỉ những thế dùng để trói tay địch nhân khi nhập nội.
17. Thoát thủ: còn gọi là Đoái thủ, tay mình bị chụp, tay kia dùng hất ra, mấy thế cuối của mấy bài Vịnh Xuân có thế chót trước khi Khuyên thủ, là Thoát thủ (chém 2 tay ra liên tục).
18. Trầm thủ, Trất thủ, Khấm thủ đều là thế ấn tay địch xuống nhưng mỗi thế có công dụng đặc biệt.
19. Tiêu chỉ, Tiêu thủ: xỉa đầu ngón tay tới nhắm vào cổ họng, mắt.
20. Tầm kiều: thăm dò kình lực địch nhân bằng cách đưa tay tìm tay địch (danh từ miền Bắc là Tiếp thủ), còn Lao thủ đưa 2 tay nâng lên, giống như Thác thủ trong bài Mộc Nhân.
21. Bàn thủ: khi mới bắt tay vào Song Li thủ (Niêm thủ, Khuyên thủ), 2 tay mình liền dính với 2 tay địch, chuyển động từ Phục thủ-Than thủ qua Phục thủ-Bàng thủ thì gọi là Bàn thủ (quay cánh tay).
22. Sát Cảnh thủ: chém sấp cạnh bàn tay vào cổ địch nhân.
23. Bão Bài Chưởng: giống Phá Bài Chưởng của Hồng gia, còn gọi là Hồ Điệp Chưởng.
Chú giải: Danh từ Kiều Thủ trong ngôn ngữ Trung Hoa được dịch thành 2 thuật ngữ: Bridge Hand và Bridge Arm. Thật ra dịch là Bridge Arm thì đúng hơn vì Kiều Thủ đây là ám chỉ chủ yếu từ khớp xương cùi chỏ đến cổ tay nên phải dịch là Arm nghĩa là phần Cẳng tay, trong khi Hand trong tiếng Anh tương đương tiếng Trung Hoa là Chưởng nghĩa là bàn tay, nếu dịchBridge Hand thì phải gọi là Kiều Chưởng mới đúng, nhưng Thủ trong tiếng Trung Hoa lại vừa có nghĩa là cẳng tay và cả bàn tay.
VÕ ĐƯỜNG VỊNH XUÂN DÒNG PHẬT SƠN
Chào mừng bạn đến với trang chính thức của Võ Đường Vịnh Xuân Dòng Phật Sơn
28/04/2016
Hướng dẫn cách sử dụng kỹ thuật Phục thủ
“Phục thủ” là kỹ thuật như tên gọi của nó là khuất phục, khống chế, kiểm soát và giam hãm các bộ vị tạo lực trong đòn công của đối phương như cổ tay, eo, cổ…Cùng với Than thủ, Bàng thủ, thì Phục thủ là một trong ba kỹ thuật cơ bản nhất và được sử dụng nhiều nhất trong các kỹ thuật Vịnh Xuân quyền như trong các bài tập Tiểu niệm đầu, Tiêu chỉ, Niêm thủ và 116 Mộc nhân…
Sau đây xin giới thiệu chi tiết kỹ thuật và cách sử dụng.
1. Gập bàn tay vào tạo thành một cái móc vuông góc (90 độ) so với chiều đứng của thân nhằm để móc cổ tay, cổ, eo đối phương…Về góc độ thì cũng như Than thủ, nhưng có sự khác nhau là Phục thủ luôn đi từ ngoài vào trong và từ trên xuống, trong khi Than thủ là ngược lại: luôn đi từ trong ra ngoài và từ dưới lên.
2. Giữ trỏ khép sát thân như khi tập bài Tiểu niệm đầu vậy. Vì chỉ cần cùi trỏ hở ra 2 centimet thì một cú đấm thẳng của đối phương đã có thể xuyên vào thân một cách dễ dàng.
3. Phần phía trong cổ tay Phục được dùng để giữ, lái, hướng các đòn đánh qua cơ thể, trong khi lực co phía ngoài bàn tay thì gập lại để kiểm soát và làm ngừng lại các đòn tấn công vào mặt, ngực… Cách lý tưởng nhất để dùng được Phục thủ trong Vịnh Xuân là khóa, móc các đòn tấn công thẳng và thấp hơn tầm cao của đầu.
Phục thủ là một trong ba kỹ thuật trọng yếu nhất trong Niêm thủ, vì khi bắt đầu tập Niêm thủ thì một tay đã luôn bắt đầu bằng Phục thủ, đây là cách tốt nhất và an toàn nhất để nghe ngóng và kiểm soát không cho đối phương dễ dàng thực hiện các đòn tấn công. Chú ý “Phục thủ” khi dùng thường được nối tiếp và biến thành Phách thủ, Lập thủ, Trất thủ và Khấm thủ…
28/04/2016
Kỹ thuật Than thủ trong Vịnh Xuân
“Than thủ” (tản ra, gạt ra) được dùng đưa ra phía trước để gạt ra khi nhận hay tiếp xúc với tay đối phương, là kỹ thuật cơ bản nhất mà để từ đó có thể biến ra hầu hết các kỹ thuật tay khác trong Vịnh Xuân. Kỹ thuật này được dùng hầu hết trong bài Tiểu niệm đầu rồi Tầm kiều, Niêm thủ, và sau này là 116 Mộc nhân… Học Vịnh Xuân không thể không biết cách dùng Than thủ, từ xưa đã có câu “trong thiên hạ Than thủ là bất khả chiến bại”. Nổi tiếng nhất thời trước trong việc vận dụng kỹ thuật Than thủ có Trương Thủ Ngũ (hay Than Thủ Ngũ), về sau là Lương Tán, và đặc biệt là Diệp Vấn nổi tiếng khi người ta nhìn thấy ông tập bài Tiểu niệm đầu với phần than thủ thường mất ít nhất hơn một giờ đồng hồ. Sau đây xin giới thiệu cách dùng Than thủ:
1/ Tập kỹ thuật Than thủ cơ bản (xem hình vẽ minh họa kèm giải thích):
Tư thế chuẩn bị:
Đầu tiên nắm ngửa tay bên nách, xòe bàn tay, khép các ngón rồi từ từ đưa ra giữa ngực.
Tay và trỏ kẹp sát thân và đưa ra trước tạo thành một góc vuông (90 độ) so với thân.
Độ cao của bàn tay đưa ra là ngang cằm đối phương.
Bàn tay và ngón tay khép và thẳng, cổ tay cong một cách tự nhiên.
Kỹ thuật dùng than thủ sẽ hiệu quả hơn nếu kết hợp với xoay thân, chuyển mã bộ (xem thêm phần mã bộ Vịnh Xuân).
Việc xoay thân và chuyển mã sẽ tạo thêm rất nhiều lực và sức mạnh cho việc dùng Than thủ, và còn làm cho việc gạt ra được dễ dàng hơn. Ngoài ra, khi xoay còn giúp cơ thể tránh được mối nguy hiểm từ đòn đánh thẳng đến từ đối phương, trong khi tay Than thủ lại gạt được và phân tán lực đánh của đối phương sang một hướng khác, đồng thời lại giúp tạo thêm lực cho đòn đánh ra sau hoặc đồng thời với Than thủ.
2/ Tập kỹ thuật Than thủ cao cấp (xem hình vẽ minh họa kèm giải thích)
Tập kỹ phần sau của bài Tiểu niệm đầu sẽ thấy kỹ thuật cao cấp Than thủ là còn dùng để tìm tay, tìm kiều và xóa kiều của đối phương, hoặc phá bất cứ đòn tấn công nào nhắm vào trung lộ.
Than thủ cũng còn được để tập khí và xuất kình, phát lực trong các kỹ thuật cao cấp về sau. Đặc biệt có thể thấy kỹ thuật Than thủ cao cấp trong phần cuối bài 116 Mộc nhân, sau khi đánh ba lần bằng hạ Bàng thủ là cú phát lực, xoay thân với thế Than thủ, kỹ thuật này đòi hỏi người tập cân biết kiểm soát trung lộ, đánh đúng tay, thì sẽ tránh được chấn thương các ngón tay và gây đau lên cổ tay khi dùng Than thủ phát lực…
*Chú ý luôn nhớ rằng ứng dụng trong thực tế Than thủ không phải là cố định, là bất biến, quan trọng là phải biết xoay, vặn tương ứng với đòn tấn công của đối phương, như khi gặp đối thủ cao lớn hơn tất nhiên dùng Than thủ phải cao hơn bình thường…
28/04/2016
Linh giác là linh hồn của Vĩnh Xuân
Là sự cảm nhận của cơ thể qua tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp, đó chính là linh giác. Khi nhắm mắt lại, bạn cảm nhận được mọi thứ xung quanh bạn đang chuyển động hoặc đứng yên, đó chính là linh giác. Khi giao đấu, bạn cảm nhận được phương thức ra đòn tiếp theo của đối phương, đó chính là linh giác.
Vì đơn giản linh giác chính là sự cảm nhận không giới hạn mà người tập Vĩnh Xuân có thể đạt tới (đây là theo cách suy nghĩ của mình). Ví dụ đơn giản thế này, bạn vô tình quơ tay ra đằng sau mà không hề biết đằng sau đó có 1 chiếc cốc bằng thủy tinh, một phản xạ tuyệt vời mà bạn sẽ làm ngay sau đó là lập tức vòng tay xuống dưới để đỡ lấy chiếc cốc vì nó sẽ bị rơi và bị bể. Làm sao bạn có được phản xạ đó, và nếu như bạn biết chiếc cốc này không thể rơi thì bạn có làm cái việc thừa thãi là đưa tay ra đỡ không?
Khi tay của bạn bất ngờ chạm vào chiếc cốc cũng chính là lúc bạn cảm nhận thấy sự khác biệt trong kết quả của hành động quơ tay của bạn. Sự việc chỉ xảy ra trong một khoảng thời gian cực kì ngắn nhưng cũng đủ để cho bạn đưa ra quyết định phóng tay xuống dưới để đỡ đón chiếc cốc. Bạn có 1 linh giác tuyệt vời.!
28/04/2016
Li thủ – Phép dính tay trong Vịnh Xuân Quyền
Li Thủ/Chi Sao (Dính tay/gắn bó tay) là một công phu đặc biệt riêng của Vịnh Xuân Quyền. Chi-Sao cho phép học viên để tích hợp các khía cạnh khác nhau của hệ thống Vịnh Xuân. Đó là lần đầu tiên và quan trọng nhất một bài tập nhạy cảm tràn đầy năng lượng. Thông qua các vị trí cánh tay theo quy định, cơ cấu và di chuyển, bạn có thể bắt đầu lên dây đàn với năng lượng của đối tác luyện tập với bạn. Bạn bắt đầu tập trung và cảm nhận được năng lượng (nghe?dính). Các kết nối qua sự tiếp xúc cánh tay là cổng thông tin trong đó mỗi người học làm thế nào để cảm nhận sâu sắc và cảm nhận chuyển động, căng thẳng và năng lượng từ đối tác của bạn.
Chi-Sao là một “công cụ” duy nhất mà Vịnh Xuân đã sáng tạo ra, nó có nét tương đồng phép dính tay trong Thái Cực/Tai chi. Nó là rất “trái tim và linh hồn” của hệ thống Vịnh Xuân Diệp Vấn, “Không có Chi-Sao, Không có Vịnh Xuân” như Diệp Tôn Sư đã nói. Luyện tập Chi-Sao theo thời gian sẽ phta triển phản xạ liền lạc. Nhiều kỹ thuật Chi-Sao không áp dụng cho chiến đấu thực tế, tuy nhiên khi đã được đào tạo trong các võ đường Vịnh Xuân, các võ sư sẽ phát triển các kỹ năng cơ bản của phản xạ tiếp xúc đó là chìa khóa để chiến thắng trong cuộc chiến đấu. Những lợi ích khác của Chi-Sao là gần khoảng cách khi phối hợp các kỹ thuật, tập trung với đôi mắt, tính di động, sự cân bằng, thời gian, tính chính xác, kiểm soát cân bằng của đối phương, và quyền lực Khí Công. Quá trình đào tạo được mô tả ngắn gọn như sau:
1. Một tay là Đơn Li Thủ trong thế Kiềm Dương(Dan Chi-Sao/Yee Chi Kim Yeung Ma)
2. Lạp Thủ khi Chuyển Mã (Lop sao /Juen Ma)
3. Di chuyển một cánh tay khi đang dính với sự phối hợp của bước chân(Chi-Sao/Foot walk)
4. Hai tay Chi-Sao chuyển hóa liên tục/Bàn Thủ trong thế đứng Kiềm Dương(Yee Chi Kim Yeung Ma / P**n Sao)
5. Di chuyển hai cánh tay Chi-Sao với phối hợp những cách thức dụng chân(Chi-Sao/Gerk)
6. Hai cánh tay Chi-Sao cả trên mặt đất và trên Ngũ hành Mai Hoa Thung…và bịt mắt khi Chi-Sao.
Đương nhiên, phía bên phải của bộ não con người điều khiển phía bên trái của cơ thể, và ở phía bên trái của não bộ điều khiển bên phải của cơ thể. Vì vậy, Chi-Sao đào tạo cả hai bên của bộ não con người để giảm thiểu quá trình suy nghĩ và cho phép bàn tay của bạn để làm chệch hướng và chuyển hướng tấn công của đối phương. Học sinh học cách sử dụng cả hai cánh tay phụ thuộc lẫn nhau. Chi-Sao là một phương pháp chuyên ngành đào tạo phát triển cảm ứng hoặc phản xạ liên lạc và phối hợp của các chi, trong khi cải thiện sự cân bằng, gần phạm vi tập trung của mắt, và phát triển năng lượng nội bộ cho tấn công ở cự ly gần.Nó cải thiện động tác chân cho độ chính xác ở cự ly gần, di động nổi bật, và khả năng kiểm soát sự cân bằng của đối thủ từ điểm tiếp xúc với năng lượng về phía trước.
Thay vì cọ xát, Chi-Sao cho hai học viên cơ hội để thử nghiệm và khám phá các điểm mạnh và điểm yếu của nhau, cho phép một quá trình học tập độc đáo và không có kế hoạch sẽ diễn ra. Chi-Sao giúp để trau dồi phối hợp bước chân, phản xạ, định vị, kỹ thuật, năng lượng và phản ứng tự động bất kỳ tình huống nào, mà Vịnh Xuân đã trở thành chủ đề của truyền thuyết.
Thư giãn ở cẳng tay tạo ra một lợi thế trong Chi-Sao. Người học viên không có ý thức suy nghĩ, như cánh tay tự động hướng dẫn để tạo thành những cấu trúc kế tiếp. Tất cả các kỹ thuật Vịnh Xuân đã học được trong các hình thức cần phải được dần dần và có hệ thống khoan trong thời trang thực tế chiến đấu, đầu tiên chống lại các đối tác không hợp tác hợp tác và sau đó chống lại trong cả hai tay Chi-Sao và cọ xát tự nhiên. Chi-Sao là cầu nối liên kết tất cả các kỹ thuật định vị từ tay tất cả các hình thức Vịnh Xuân vào chuỗi vô hạn một trong những phương là rất khó khăn để đánh bại.
Chi-Sao trong bản chất dạy và cảm nhận vào hệ thống thần kinh cơ bắp. Sự cảm nhận, phản ứng và theo sát với cuộc tấn công, năng lượng ở lại với các tay tấn công khi nó trở về và lợi thế dọc theo một con đường mở khi bàn tay là tự nhiên.
Học viên Vịnh Xuân thường có quan niệm sai lầm rằng Chi-Sao là giống như chiến đấu. Nhưng đây không phải là vậy. Chi-Sao là một quá trình học tập và rèn luyện, trong khi chiến đấu về chiến thắng và thua, về việc chống lại các cuộc đình công và gõ một ai đó xuống. Khi một người không thể phân biệt sự khác biệt giữa Chi-Sao, chữa cháy, sau đó rắc rối phát sinh. Do đó các câu hỏi nên được đặt ra cho các học viên Vịnh Xuân không phải là: “Làm thế nào chiến thắng được nhờ tập Chi-Sao” Nhiều nơi không thực sự hiểu mục đích đào tạo của Chi-Sao và nhầm tưởng rằng nếu họ tham gia tập Chi -Sao với các học viên từ các mon phái khác, điều này sẽ cho biết các máy bay chiến đấu tốt hơn là người.
Từ “đối tác” được nhấn mạnh, vì Chi-Sao phải được thực hiện hợp tác nếu có là để được học tập thích hợp về độ nhạy cảm tràn đầy năng lượng. Trong những ngày đầu của chi sau đào tạo, chuyển động phải được thực hiện một cách chậm và thoải mái, cho phép cơ thể để tìm hiểu làm thế nào để cảm nhận và cảm thấy năng lượng. Trong khi làm điều chi sau theo cách này, bạn có thể thiết lập một ý định “chú ý” cảm giác và năng lượng trên một mức độ tinh tế. Nếu Chi-Sao được thực hiện một cách nhanh chóng và tích cực mà không cần hợp tác, cơ thể học để trở nên căng thẳng, cứng nhắc và không nhạy cảm. Cơ thể phản ứng sợ hãi hay tức giận thay vì học làm thế nào để đáp ứng đúng kỹ thuật và năng lượng một cách cố ý thoải mái.Hãy nhớ rằng, các học viên thoải mái hơn, càng có nhiều ông / cô ấy sẽ có thể phát triển tốc độ và sức mạnh.
Khi một nền tảng cơ bản đúng kỹ thuật, cấu trúc và độ nhạy cảm tràn đầy năng lượng đã được đặt, bạn có thể dần dần bắt đầu tích hợp một loạt các cuộc đình công bàn tay, khối, và các kỹ thuật bẫy. Một lần nữa, điều này cần phải được thực hiện một cách hợp tác, nơi mỗi người cố tình giúp đối tác của mình bằng cách lần lượt năng lượng cho ăn (bắt đầu kỹ thuật) khác và cho phép người khác để đáp ứng đúng một cách bình tĩnh. Ngay sau đó, năng lượng của các học viên bắt đầu chảy giữa chúng, giống như vũ công, một trong những người dẫn và khác sau. Thông qua chế độ này quy định “chơi chi after”, khả năng của bạn để đáp ứng trở nên nhanh hơn và mạnh mẽ hơn khi cơ thể của bạn đã được cho phép để tìm hiểu dần dần trong điều kiện đào tạo lý tưởng.
“Luyện tập Chí-Sao có thể tiến triển các yếu tố bao gồm chuyển đổi, bước chân, phối hợp, trao đổi dòng chảy và giải phóng năng lượng cơ thể đầy đủ. Ở cấp độ này, tất cả các khuôn hình của Chi sau và năng lượng đều bắt nguồn từ huyệt Đan Điền, khu vực lưu trữ khí nằm ngay dưới rốn của cơ thể. Thông qua việc bắt đầu của chân và các cách thức và phối hợp với hơi thở, khí được chuyển từ cốt lõi của cơ thể ra bên ngoài dòng chảy. Các chi được phát hành một cách trực tiếp và tập trung thông qua các cuộc đình công, khối, đá hoặc bẫy. Bằng cách này, khí được bức xạ từ trong lõi của cơ thể đối với các chi (tay, chân) và sau đó được tập hợp trở lại vào trọng tâm, thông qua hơi thở và thư giãn cơ bắp. Khí/Qi là một lần nữa đã sẵn sàng chảy và được phát hành ở tốc độ chớp với công suất tối đa và hiệu quả. Điều này dao động của “thư giãn và phát hành” là trạng thái lý tưởng là khi thực hành chi sau. Với ngoại lệ của cuộc đình công, khi chúng tôi phát hành qi chúng tôi đào tạo sử dụng ít năng lượng cần thiết để hoàn thành mục tiêu của chúng tôi. Mục tiêu của chúng tôi, thông qua các khối hoặc bẫy, là để kiểm soát đường trung tâm của đối tác. Chúng tôi muốn sử dụng ít năng lượng vì nó là phù hợp với nguyên tắc Vịnh Xuân hiệu quả sử dụng và khi chúng ta sử dụng để đạt được nhiều hơn, khả năng của chúng tôi để duy trì độ nhạy là ở mức tối ưu. Ngay cả khi chúng tôi đào tạo để chặn, bẫy và cuối cùng tấn công, chúng tôi muốn duy trì khả năng của chúng tôi để cảm nhận và cảm nhận được những thay đổi trong lĩnh vực năng lượng và các phong trào đối tác của chúng tôi. Điều này là để chúng tôi có thể tiếp tục thích ứng với những nỗ lực của đối tác của chúng tôi để tránh bị kiểm soát trên đường tâm.Chỉ khi chúng ta biết rằng có có thoát khỏi sự thống trị của chúng ta về đường tâm, chúng ta có thể biết rằng chúng tôi có thể đánh theo ý thích. Chi sau không có nhu cầu để đạt đối tác của bạn. Bạn biết bạn có thể nếu điều này là một tình huống tự vệ thực. Chi-Sao không phải là chiến đấu, nó là một kỹ thuật đào tạo để chuẩn bị cho chiến đấu”
Nếu bạn thực hành chi sau mạnh mẽ, với độ nhạy ít và kiểm soát, và không hợp tác, bạn không còn đào tạo chi sau. Bây giờ bạn đang đào tạo cái tôi và niềm tự hào của bạn. Dưới những ít hơn so với các điều kiện lý tưởng, phát triển kỹ năng bị bắt giữ. Hơn nữa, đối tác của bạn sẽ trở nên mất tinh thần và mệt mỏi. Nó không phải là vui để bị ảnh hưởng và sử dụng năng lượng tích cực trong chi sau. Bạn sẽ làm cạn kiệt khí của bạn, cơ bắp sẽ trở nên đau và mệt mỏi, nhạy cảm sẽ trở nên tê liệt và tinh thần của bạn sẽ bị ảnh hưởng. Luyện tập kung fu của bạn sẽ trì trệ và bạn có thể sẽ ảnh hưởng tới luyện tập với suy nghĩ rằng bạn đã học được tất cả và hiểu biết về Chi sao. Chi-Sao, khi thực hành đúng cách, sẽ cung cấp một đời luyện tập và bạn có thể đạt được sự vô giới hạn năng lượng nhạy cảm, .
Có một chỗ thời gian, và có nghĩa là để đào tạo với nhiều năng lượng “thực tế” tự vệ trong hệ thống Vịnh Xuân. Điều này chỉ đến sau khi đào tạo nhiều, kiểm soát, kỷ luật và phát triển kỹ năng. Đào tạo với năng lượng tự vệ này chỉ nên được thực hiện khi có một nền tảng kỹ thuật vững chắc của Vịnh Xuân tích hợp kiến thức và kỹ năng trong bạn. Tập luyện Chi-Sao là một trong những công cụ để bạn chuẩn bị cho điều này.
28/04/2016
Linh giác, kình và lực
Cơ thể con người là một khối hoàn thiện, kinh lạc, mạch được trải khắp toàn cơ thể là hệ thống truyền thông tin về não và đưa khí huyết nuôi cơ thể. Da, cơ, xương với các tạng phủ là những bộ phận chính tạo nên cơ thể và các hoạt động. Con người có rất nhiều giác quan, trong đó có xúc giác và cảm giác. VD: khi con người không có đèn trong đêm tối nhưng vẫn xác định được những đồ vật quen thuộc bằng cách sờ nắn bằng tay cũng có thể xác định được là vật gì, khi người ta bắt tay nhau thì cũng có thể cảm nhận được lực nặng nhẹ, nóng lạnh, yêu ghét.
Linh giác là tập luyện các động tác riêng biệt của đôi tay, quay tay, dẫn tay, lùa tay nhằm mục đích đánh thức cảm giác, xúc giác toàn thân nhờ đó mà người tập nghe biết và hiểu đường đi lại vận dụng lực tinh tế của gân, cơ, xương phát lực của đối phương định trước được di chuyển đòn thế của đối phương trong thôi thủ. Nhờ tập luyện chuyên cần, đúng cách mà dần dần cảm giác sinh ra từ cơ, gân, xương một cách đồng bộ. Khi đó người tập cảm nhận được vận động của đối phương nặng, nhẹ, cao, thấp, trùng, giãn, lên, xuống rồi bám dính, treo, dựa, nương dựa vào đối phương mà hóa giải hoặc tấn công như thôi thủ với các bóng của mình (không còn khoảng cách, không ta không địch, dĩ bất biến, ứng vạn biến).
Kình lực, nhiều người tập võ cũng chưa hiểu rõ về kình và lực, khi hiểu rõ người ta mới thấy có rất nhiều điểm khác nhau. Thật là đáng tiếc khi có người tập võ nhiều năm nhưng không hiểu rõ điều này
Lực thì xuất phát từ xương, thường được giữ lại ở vai và lưng nên không phát ra hết được. Kình xuất phát từ gân, đi tới tay chân để phát ra. Lực thì hữu hình, còn kình thì vô hình, lực thì vuông, còn kình thì tròn. Lực thì trệ rít, mà kình thì thông xuốt. Lực thì tán ra, còn kình thì tụ lại. Lực thì trôi nổi, còn kình thì trầm lặng. Qua đó, ta hiểu lực thì cùn, còn kình thì bén. Trong võ thuật người ta tập luyện rất nhiều các loại kình mang tính đặc trưng khác nhau. VD: trực lực, hoành lực, hư lực và thực lực. Trực lực thì hiển lộ. Hoành lực thì ẩn tàng. Hư lực thì cương. Thực lực thì nhu. Lúc chưa học hay người mới tập võ thì có tính trực lực mà hư đó là “chân lực”. Sau tập luyện một thời gian rồi thì lực có tính hoành mã thực đó là “kình lực”.
Trong kình lực phân biệt ra nhiều loại kình. VD: sang kình , công kình, băng kình, niêm kình. Người mới tập luyện chỉ có sang kình, công kình và băng kình. Sang kình thì quá thẳng nên khó lên xuống được, công kình thì quá chết nên khó biến hóa được, băng kình thì quá ngắn nên khó nối tiếp được. Ba loại kình trên là loại cường kình lộ hình, chính vì vậy mà không thể linh hoạt được. Người tập võ đến trình độ cao sau nhiều năm tập luyện đúng cách họ sẽ tự hình thành “niêm xảo kình” đó là loại kình không lộ trạng, mẫn tiệp, linh hoạt không dừng.Tay đến là kình phát, chưa trúng đích thì không có kình, trúng xong rồi cũng không có kình, kình chỉ phát đột biến khi trúng đích mới có kình. Nhanh như điện chớp, phát ra liền thu ngay “niêm ý ngưng thần” không phí một chút sức lực nào. Nói chung, dương kình thì dùng cương để thắng, âm kình thì dùng nhu để thắng như trận gió thoảng qua trăm hoa, cỏ phải cúi rạp, đó là công phu thượng thừa của người tập võ.
Linh giác là phương pháp tập luyện mà ở đó người tập phải phối hợp hài hòa giữa quyền thuật với linh cảm của cơ thể, kình lực thành một thể thống nhất nhuần nhuyễn, thông suốt khi vận dụng thôi thủ thì mềm mại, uyển chuyển nhưng mạnh mẽ như trận lũ nguồn, cuốn phăng tất cả những gì gặp trên đường đi.
Kình lực được phân ra nhiều loại. VD: triêm niêm kình, linh kình, đổng kình, hóa kình…..mỗi loại kình đều có đặc điểm riêng và tính chuyên biệt riêng trong võ thuật. Người rèn luyện võ thuật khi tập luyện thành công đem áp dụng vào bản thân mới hiểu được cái ảo diệu của nó trong quyền thuật. Tuy rằng khi đạt đến mức độ thành công chỉ chú ý chứ không chú trọng kình. Người mới học muốn tiến bộ nhanh thì phải đi qua cửa này không đốt cháy giai đoạn, từ từ luyện kình mà đi lên thành công vậy. Nếu không biết dùng kình thì không biết công phu vận khí. Không biết công phu luyện khí thì không biết rõ chân ý của quyền thuật do đó dùng kình chính là cương lĩnh sơ bộ cho việc học quyền thuật.
Có rất nhiều loại kình để phối hợp với niêm dính bộ pháp mà thôi thủ trong tập luyện, như triêm niêm kình (triêm thấm, niêm dính) là loại kình thông suốt linh hoạt không bao giờ dứt không dời là nội kình căn bản tối cần thiết nhất nhưng phải luyện tập lâu dài nhờ thôi thủ mà có được. Người tập võ khi mới rèn luyện hai tay chưa lường được cảm giác, tay thô cứng như khúc gỗ sau nhiều ngày tập luyện các phương pháp quay tay, dẫn tay, nghe tay dần dần bàn tay, cánh tay, ngực, lưng rồi toàn thân đều nảy sinh cảm giác. Khi có cảm giác tốt rồi mới thấm dính được. có thấm dính rồi mới có thể bám vào kẻ địch nương theo kẻ địch công thủ rồi chế ngự kẻ địch. Loại kình này phải có bậc thầy cao minh truyền thụ hàng ngày quay tay lùa tay, chạy tay thôi thủ linh dính mới lĩnh hội được.
Tóm lại, niêm dính – linh giác hay linh kình không phải là nghe bằng tai mà phải bằng cảm giác của da, thịt toàn thân cho nên phải luyện triêm niêm kình rồi mới có thể niệm “linh” được. linh giác, linh kình trong quyền thuật không thể dùng lực thô bạo khí ô trọc mà nghe được, trái lại người tập người rèn luyện phải buông lỏng cơ thể vai trầm, ngực ngậm, thượng hư, hạ thực, tĩnh tâm, niêm ý, niêm khí, ngưng thần để linh.
Đổng kình là hiểu biết các đường đi thôi thủ của kè thù, kẻ địch, phương pháp này phải do chân sư truyền thụ và tập một thời gian dài mới hiểu được. Có linh rồi mới có đổng, linh không chuẩn xác thì đổng không toàn diện được. Nếu chưa biết đổng kình thì dễ phạm phải các sai phạm như cao quá, lệch bên hoặc là bỏ mất không dính đối lực và chống cự, nếu biết đổng kình không chính xác thì phạm phải đứt đoạn, kình không thông suốt hay kết dính trùm, cúi quá hay ngửa ra quá. Người rèn luyện phải đạt tới cảnh giới hư không tiến thoái xoay chuyển tự nhiên tùy theo tâm mới có thể đổng kình một cách chân chính được. Khi có đổng kình chân chính, thực thụ mới đạt tới các hiệu quả trong thôi thủ như là co lại duỗi ra tĩnh tụ khai hợp thăng giáng, hài hòa tức là đã nhập vào lĩnh vực thần linh rồi. Tập đến cảnh giới này trong cơ thể người tập được xoay ngược lại, loại bỏ phần âm điềm đạm không vọng đọng, người ta thường gọi là thủy hỏa ký tế, kiền khôn giao phối, tính mệnh bảo chân. Ở người tập trong cảm giác biến hóa khôn hình dung (không nghĩ tới đòn thế quyền pháp trước sau đánh gì, phòng gì mà toàn bộ thân pháp, thủ pháp nã pháp tùy nghi nghinh chiến, tùy nghi thôi thủ) không suy nghĩ trước đó là trình độ đại thành của quyền thuật.
Tẩu kình: trong linh giác tẩu kình là phương pháp tập quan trọng thường để tránh né trực lực, đòn tấn công của đối phương, tránh không để lọt vào tình thế giằng co đối kháng với đối phương. Tẩu kình thường do đổng kình mà có, không có đổng làm sao có thể có tẩu? Trong thôi thủ khi cảm thấy địch trầm trọng liền biến ra hư. VD: địch đè nặng một bên(thiên trọng) liền buông lỏng bên kia(thiên tung) cơ thể để hóa địch theo tức là tùy theo hướng của địch tấn công mà làm cho đòn và lực của địch trôi đi ra khoảng không, không có chút đề kháng gì. Phương pháp này làm cho địch vô cùng bối rối vì có lực mạnh đến đâu cũng bị rơi vào khoảng trống vô định mà tất cả các đòn thế đều không có tác dụng gì. Then chốt của phương pháp này là phải dựa vào sự vận chuyển tinh tế của đùi và eo lưng.
Hóa kình: là một phần tập luyện trong linh giác hóa kình thường từ do niêm kình với tẩy kình kết hợp mà thành, khi giao thủ không bỏ mất cũng không giằng co tùy theo sự cảm biến mà biến hóa khôn lường nhưng điểm yếu của hóa kình là do ta ở thế thuận mà địch đang ở thế nghịch lúc đó dù địch có ngàn cân cũng không sao sử dụng được không dùng tay hay vai để hóa mà dùng eo đùi vận chuyển để hóa. Việc hóa kình không nên sớm quá hay trễ quá vì sớm quá tất kình của địch chưa đến chẳng có gì để hóa, nếu mà trễ quá thì nó đã đến trước rồi không kịp hóa nữa thật vô ích. Trong giao thủ phải hóa kình lực của địch xong rồi mới phát kình đánh địch được.
Dẫn kình: tức là trong thôi thủ địch được ta dẫn đến thế phải động hoặc địch tấn công bị ta dẫn vào lộ tuyến của ta định trước trong linh giác thì hóa kình dẫn kình có phần khó hơn nhiều. Đại thể là thế tấn công của đối phương ít khi lọt vào ý muốn của ta cho nên ta phải dùng dẫn kình mà đưa đối phương vào. Phương pháp dẫn là phải hóa kình của đối phương cho đến sắp tận nhưng chưa tận nhờ đó mới có thể dẫn kình đó vào đích ngắm của ta được. trong linh giác phép dẫn kình phải được chuyên luyện nhiều năm vì phương pháp này không chỉ dùng tay mà dẫn được còn phải đồng thời dùng cả thân pháp yếu pháp bộ pháp để dẫn vậy.
Niêm dính – Linh giác được sử dụng trong thôi thủ đòi hỏi sự linh hoạt kết hợp nhuần nhuyễn đan xen nhiều công pháp mới đạt kết quả cao trong đó có phương pháp dùng kình lực tấn công địch gọi là nã kình. Để tập được phương pháp nã kình phải kết hợp được giữa nã kình với dẫn kình nó là một phương pháp khó cần được chuyên luyện nhiều năm. Nã không được tất là phát kình không được, phát kình không trúng đích là nã không chuẩn xác. Như vậy có thể nói nã là tiên phong của phát kình. Trong khi nã phải để cho thế của địch bị đình trệ lúc đó ý của ta mới nhắm tới liền phát kình nhắm vào đích ngắm của ta nếu thực hiện đúng thì không bao giờ không thành công hoặc không trúng đích. Kỹ thuật nã là động tác phải nhẹ nhàng nếu nặng nề ắt đối phương phát hiện trước dễ thoát thân. Cái khó là ở chỗ giữa lúc sắp nã và lúc nã vừa đến thân địch còn sau khi nã xong thì địch không thể nào thoát được. thường phải nã vào các khớp của địch như là cổ tay, trỏ, vai….còn ở những chỗ khác địch rất dễ thoát thân. Trong khi nã hai tay người phải giống như cái cân hễ cân vật nặng thì đẩy quả cân ra ngoài đòn, cân nhẹ thì đẩy vào trong. Trong lúc nã hoặc tấn công phải chú ý giữ trọng tâm của ta để ổn định đầu gối không nên vượt quá mũi chân, vĩ lư phải trung chính then chốt là ở eo đùi và không dùng lực để nã mà hoàn toàn dùng ý trí để nã.
Phát kình cần thiết để đánh địch. không biết phát kình làm sao có thể đánh được người chỉ biết hóa mã mà không biết phát kình giống như chỉ biết thủ mà không biết công. Cơ bản người mới tập phát kình trước hết phải biết “kình độ” tức là đường đi của kình và phải biết trên thân thể con người đâu là gốc, đâu là cành lá, hoa lá. Đối với toàn thân thì chân là gốc rễ thân là cành, gối là cành bàn chân là hoa lá cho nên nã và phát kình trước hết phải chú trọng tới gốc rễ như thế mới gọi là “đăng đường nhập thất” nếu không thực hiện đúng thì người tập chỉ như “trèo cây tìm cú” mà thôi. Muốn phát kình tốt người tập phải chú ý đến 3 điểm:
Cơ thể, tức là ta ở thế thuận còn địch ở thế nghịch. Trọng tâm của địch không vững nghiêng về một bên thân thể địch có một bộ phận nào đó bị gốc trệ (không linh hoạt) đặc biệt là khí của địch đang thượng thăng không trầm xuống được.
Phương hướng của địch đang ở thế nghịch, không thuận thì ta có thể nhằm vào đó mà phát kình.
Thời gian phải đúng lúc đúng chỗ, tức là kình cũ của địch chưa rứt mà kình mới của địch thì chưa sinh ra hoặc là địch đang lùi về phía sau tận dụng cơ hội chớp nhoáng không sớm quá không trễ quá. Sớm quá thì kình của địch chưa dứt có thể kháng cự lại. còn trễ quá thì địch sẽ phát hiện rồi biến hóa được.
Khi đánh địch thiếu 1 trong 3 điểm trên ắt sẽ không thành. Ngoài ra ta còn phải chú ý đến những khoảng cách giữa ta và địch, nếu xa quá thì kình không đến đích được nếu gần quá ắt kình gặp trở ngại. Lúc phát kình toàn thân phải là một khi phát kình mà tự bản thân ta thấy không có kình thì địch mới bị tổn thương trầm trọng còn trái lại khi tự ta cảm thấy xuất kình mãnh liệt thì kết quả sẽ không như ý muốn. Cho nên phát kình phải vô vọng niệm như là phóng tên trong cong cầu thẳng không còn chút gì trong tay cả. Thường phát kình không đạt hiệu quả là do những yếu tố phạm phải như là đang phát kình thì dừng lại, nguyên nhân là do một là phần dưới đình tại bệ (máu chuyển sang đùi tại gối và tại gót chân) thứ hai là phần giữa đình tại bụng, tại ngực và tại đan điền, thứ ba là phần trên bị đình tại vai, chưởng căn.
Có rất nhiều phương pháp vận kình phát lực nhưng cơ bản có hai phương pháp sau:
Kình từ phía trước ra sau, từ tiên thiên chuyển sang hậu thiên, khí trầm tụ tại đan điền rồi từ đó bộc phát ra tứ chi.
Kình từ phía sau ra phía trước, từ hậu thiên chuyển sang tiên thiên, nội khí vận hành vào sống lưng rồi bộc phát ra tứ chi.
Phát kình phải như ném một đồ vật muốn ném là ném nhất thiết không ngập ngừng không do dự nếu có chút do dự nào phân vân thì ý khí sẽ bị đứt đoạn cơ thể phải mềm lỏng vì không mềm lỏng thì ý khí không thông kình lực không phát ra tay được. phạm phải một trong các sai lầm đó thì kình lực bị đình trệ lực không dẫn ra tay. Cho nên khi phát kình đánh địch cần phải niêm ý ngưng thần mắt nhìn vào đối phương không được nhìn xuống đất dù là để phòng ngự địch giả té để tấn công vào hạ bộ ta vì khi nhìn xuống là ý kình đi xuống. Trong cơ bản nên biết thần ở đâu là ý ở đó, ý ở đâu thì khí ở đó. Nếu kình đã phát ra rồi mà ý, khí vẫn chưa đến vì thế có câu: kình đoạn bởi ý đoạn, ý đoạn mà thần khả tiếp.
Tất cả những công pháp trên nếu rèn luyện đầy đủ sẽ hòa phối thành một bộ cầm nã – niêm dính hoàn thiện nhưng người tập phải tập thêm một số bài tập và dụng cụ tập luyện khác: mộc nhân trang, viên bình công, tiểu khuyên thiên cân dụng, thở nội lực, trạm trang công.
Click here to claim your Sponsored Listing.
Location
Category
Address
Đường Số 10, Phường 13, Quận 6
Ho Chi Minh City