Học văn cùng cô Quế Chi

Học văn cùng cô Quế Chi

Share

HỌC MÔN VĂN BẰNG ĐAM MÊ VÀ TÌNH YÊU THƯƠNG…

06/07/2018
05/07/2018

Ngủ nghỉ đúng giờ để luôn khoẻ mạnh các bạn nhé!

Photos from Học văn cùng cô Quế Chi's post 28/06/2018

Đáp án chính thức môn Ngữ văn của Bộ.

23/06/2018

CÔ CHÚC CÁC EM ÔN THI THẬT TỐT VÀ ĐẠT KẾT QUẢ CAO TRONG KỲ THI NĂM NAY!

23/06/2018

Cảm nhận của anh chị về vẻ đẹp khuất lấp của nhân vật người đàn bà trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu. Từ đó liên hệ với nhân vật Thị Nở trong tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao để thấy được sự thống nhất và khác biệt về hình ảnh người phụ nữ Viêt Nam qua văn học?
(Nguồn: Học văn - Văn học)
Yêu cầu về hình thức:
+ Viết đúng hình thức bài văn
+ Đảm bảo cách làm bài văn nghị luận văn học.
+Trình bày rõ ràng, mạch lạc, không sai lỗi chính tả

– Yêu cầu về nội dung
1, Mở bài:
– Giới thiệu tác giả, tác pẩm
– Giới thiệu phong cách nghệ thuận
– Khái quát về vẻ đẹp khuất lấp
2, Thân bài
a) Giới thiệu hoàn cảnh nhân vật xuất hiện
-Tên gọi: mụ, người đàn bà
– Ngoại hình: xấu xí, ngoài 40 tuổi, mặt rỗ, cao lớn thô kệch, khuôn mặt mệt mỏi
 Một con người lam lũ nhọc nhằn, đối diện với bao hiểm nguy của cuộc sống
– Cảnh ngộ:
+ Bất hạnh về thể xác: đông con, đói nghèo, thường xuyên bị chồng đánh
+ Về tinh thần: xấu hổ, nhục nhã vì con phát hiện mình bị chồng đánh.
 Cuộc đời người đàn bà đối diện với hai cơn bão táp: bão táp lạnh lùng của biển khơi và bão táp tàn nhẫn của người chồng.

b)Vẻ đẹp khuất lấp của người đàn bà hàng chài.
– Sự chịu đựng: Bị chồng đánh thường xuyên “ba ngày một trận nhẹ năm ngày một trận nặng”, nhưng người đàn bà ấy không một lời kêu than, không chống trả cũng không bỏ trốn. Bởi người đàn bà ấy hiểu nỗi cơ cực của công việc mưu sinh khi không có người đàn ông
– Bao dung, vị tha, thấu hiểu lẽ đời
+ Bị chồng đánh đập nhưng trước tòa án người đàn bà ấy còn bào chữa cho chồng, hiểu và thông cảm với chồng bởi người vốn hiền lành nhưng vì gánh nặng cuộc sống trở thành vũ phu
+ Theo người đàn bà, Phùng và Đẩu tốt nhưng chưa thực sự hiểu hết cuộc sống con người.
-Tình yêu thương con:
+Chấp nhận tất cả vì tình yêu thương các con, hi sinh tất cả vì con
+ Niềm vui lớn nhất của người đàn bà khốn khổ ấy là “được nhìn đàn con được ăn no”
+ Gửi thằng Phác lên ở với ông ngoại cũng vì muốn bảo về tâm hồn của con, mong con lớn lên trong một môi trường tốt đẹp hơn.
-Nghệ thuật:
+ Xây dựng tình huống độc đáo để nhân vật xuất hiênj
+Ngôn ngữ kể linh động, lúc là Phùng kể nhưng lúc lại là người đàn bà kể
+Thành công trong xây dựng nghệ thuật đối lập giữa ngoại hình và nội tâm

c)Liên hệ với Thị Nở trong “Chí Phèo” Nam Cao
-Giống nhau: Đều là những con người có vẻ ngoài xấu xí, có một số phận bất hạnh nhưng lại luôn luôn ngời sáng phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam
– Khác nhau:
 Thị Nở được miêu tả chủ yếu qua những hành động, suy
nghĩ của một người phụ nữ chứa đựng tình yêu thương đối với đồng loại của mình trước sự khó khăn cô độc. Còn người đàn bà hàng chài lại được miêu tả chủ yếu qua hành động suy nghĩ của một người mẹ từng trải và hết lòng yêu thương con
 Nếu Thị Nở là nạn nhân của giai cấp thống trị, của những hủ tục trong xã hội thực dân nửa phong kiến, bị mọi người xa lánh, khinh rẻ, bị cô độc ngay giữa đồng loại của mình thì người đàn bà hàng chài cuộc đời đau khổ lại đến từ bạo lực gia đình, đến từ đói nghèo, lạc hậu.
 Nếu Thị Nở trước sức ép của giai cấp thống trị của định
kiến xã hội đã đầu hàng, bỏ mặc cái hạnh phúc, cái tình người nhỏ bé trong mình thì người đàn bà hàng chài lại khác, chị đang chống lại tất cả để bảo toàn hạnh phúc gia đình mình trước sóng gió của cuộc đời
 Nếu Thị Nở chỉ có tình yêu thương thì người đàn bà hàng
chài còn có sự từng chải, thấu hiểu lẽ đời qua câu chuyện ở tòa án
– Lý giải sự khác nhau
+Phong cách nghệ thuật: Nam Cao là bậc thầy của phong cách hiện thực phê phán thì Nguyễn Minh Châu lại là nhà văn của những chiết lý, suy tưởng về cuộc sống con người.
+ Sự ảnh hưởng của Đảng cộng sản tới văn học: Trong Chí Phèo của Nam Cao cuộc sống người dân vô cùng khổ cực bởi chưa có ánh sáng của Đảng còn trong “Chiếc thuyền ngoài xa” đã có sự lãnh đạo của Đảng nhưng tuy nhiên lúc này Đảng, cách mạng còn non trẻ nên chưa hiểu hết cuộc sống của người dân

3. Kết bài: Khái quát giá trị tác phẩm, vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam trong văn học

23/06/2018

Cảm nhận vẻ đẹp của nhân vật Tràng (Vợ nhặt – Kim Lân). Liên hệ hình ảnh người đàn ông hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu)
(Nguồn Thầy Hiếu)
TÓM TẮT BÀI LÀM
So sánh liên hệ nhân vật Tràng và người đàn ông hàng chài
I. MỞ BÀI
Mở bài 1 – mở bài giới thiệu cả hai nhân vật
Văn chương chân chính là văn chương vì con người, phục vụ con người, văn chương ấy: “là thứ khí giới thanh cao và đắc lực để tố cáo một xã hội giả dối và tàn ác làm cho lòng người thêm thanh sạch” (Thạch Lam). Hành trình dài rộng của văn học cũng chính là hành trình miệt mài của người nghệ sĩ đấu tranh với cái xấu cái ác để tôn vinh cái đẹp, cái thanh sạch, cái cao thượng. Kim Lân với Vợ nhặt, Nguyễn Minh Châu với Chiếc thuyền ngoài xa là những nhà văn chân chính đã nói lên tiếng nói nhân đạo của mình trong việc lên án cái ác cái xấu và ngợi ca cái đẹp qua những hình tượng nghệ thuật sống động: Tràng và lão đàn ông hàng chài.
Mở bài 2. Chỉ giới thiệu vấn đề chính – nhân vật Tràng
Kim Lân là cây bút chuyên về truyện ngắn và đề tài nông thôn. Sáng tác của ông phản ánh một cách chân thực và xúc động cuộc sống của người dân quê mà ông am hiểu sâu sắc về cảnh ngộ và tâm lí của họ. Nhân vật của ông là những con người mộc mạc, nghĩa tình, giàu tình yêu quê hương, đất nước, con người. Một trong những sáng tác xuất sắc của Kim Lân là truyện ngắn “Vợ nhặt” trích trong tập “Con chó xấu xí”. Tác phẩm vừa là bức tranh chân thực về nạn đói khủng khiếp vừa là bài ca ca ngợi về sức sống và niềm tin của con người Việt Nam. Điều đó đã được ngời lên một cách sâu sắc và trọn vẹn qua hình tượng nhân vật Tràng.
II. THÂN BÀI
1. Khái quát
– Giới thiệu tác giả Kim Lân, xuất xứ tác phẩm Vợ nhặt (Nếu mở bài như mở bài 1 thì các em giới thiệu từ A đến Z về Kim Lân và tác phẩm Vợ nhặt. Nếu mở bài như mở bài 2 thì không giới thiệu nữa mà chủ yếu nêu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm “Vợ nhặt” và tình huống truyện độc đáo)
2. Nội dung chính
2.1. Cảm nhận vẻ đẹp nhân vật Tràng
2.1.1. Kim Lân miêu tả nhân vật Tràng qua vài nét khắc hoạ nhưng nhân vật hiện lên sống động, ấn tượng. Tuy vẻ ngoài của người lao động ấy nổi bật vẻ nghèo khổ, xấu xí, thô kệch nhưng bên trong con người ấy lại là tấm lòng nhân hậu, rất tốt bụng và cởi mở, sẵn lòng cưu mang người đồng cảnh ngộ.
– Phân tích làm rõ luận điểm trên.
2.1.2. Phía sau con người thô kệch, tính cách có phần dở hơi, chỉ thích đùa với trẻ con, Tràng lại là người đàn ông có khát khao hạnh phúc mãnh liệt và biết chăm lo, vun vén cho hạnh phúc của chính mình.
– Phân tích làm rõ luận điểm trên.
2.1.3. Tràng không còn thô kệch, vụng về nữa mà trở thành người có ý thức xây dựng hạnh phúc gia đình. Điều đó thể hiện rõ ở tâm trạng của anh vào sáng hôm sau:
– Phân tích làm rõ luận điểm trên.
* Vài nét nghệ thuật xây dựng nhân vật:
• Tình huống truyện độc đáo.
• Kể chuyện tự nhiên, hấp dẫn, dựng cảnh sinh động, có nhiều chi tiết đặc sắc.
• Ngôn ngữ đối thoại hấp dẫn phù hợp với tính cách nhân vật.
Tóm lại, nhà văn đã rất thành công trong việc xây dựng nhân vật Tràng, một thanh niên nghèo nhưng có lòng nhân hậu, có khát vọng hạnh phúc, có ý thức xây dựng hạnh phúc gia đình. Qua câu chuyện của nhân vật Tràng, tác giả vừa phản ánh, tố cáo hiện thực về nạn đói, vừa phát hiện và khẳng định phẩm chất tốt đẹp của người lao động nghèo. Có thể nói, câu chuyện của nhân vật Tràng đem đến cho người đọc một cảm nhận xót xa nhưng đồng thời nó đem lại một niềm tin về con người trong hoàn cảnh thử thách của cuộc sống.
2.2. Liên hệ hình ảnh người đàn ông hàng chài
Chuyển đoạn như sau: Bên cạnh việc phát hiện khẳng định những phẩm chất tốt đẹp của con người, văn chương cũng cần phải chỉ ra, lên án cái ác, cái xấu. Bởi vì trong muôn mặt của đời sống cái ác cái xấu luôn song hành tồn tại cùng với cái đẹp, cái cao thượng. Sứ mệnh của nhà văn không chỉ dùng ngòi bút và tư tưởng của mình để vinh danh cái đẹp mà còn có trách nhiệm đưa ra ánh sáng những mặt trái của cuộc đời để góp phần cải tạo xã hội. Với ý nghĩa ấy, Kim Lân và Nguyễn Minh Châu đã góp phần không nhỏ khi mang đến cho người đọc những hình tượng nhân vật sống động tiêu biểu cho cái đẹp và cái xấu, cái ác. Nếu trước đó, người đọc cảm động trước nhân vật Tràng hiện lên thật đẹp đẽ, nhân hậu; người đàn bà hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa) “lấp lánh vẻ đẹp hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người”. Thì hình ảnh người đàn ông thuyền chài lại là mặt tối của cuộc đời với nhiều góc khuất.
2.2.1 Giới thiệu vài nét về Nguyễn Minh Châu và truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”
Nguyễn Minh Châu là “vị khai quốc công thần của triều đại văn học mới” – “người mở đường tinh anh và tài năng” (Nguyên Ngọc). Sáng tác của ông từ cảm hứng sử thi lãng mạn quen thuộc trước năm 1975 đã chuyển thành cảm hứng thế sự, đời tư mang đậm chất triết lí nhân sinh trong giai đoạn văn học mới. Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” là sáng tác thuộc giai đoạn thứ hai của nhà văn.
Truyện ngắn lúc đầu được in trong tập “Bến quê”, sau được nhà văn lấy làm tên chung cho một tập truyện ngắn (in năm 1987). Truyện in đậm phong cách tự sự – triết lí của Nguyễn Minh Châu, rất tiêu biểu cho hướng tiếp cận đời sống từ góc độ thế sự của nhà văn ở giai đoạn sáng tác sau 1975.
2.2.2. Liên hệ những điểm giống nhau giữa Tràng và người đàn ông hàng chài
– Họ đều là những người đàn ông có vẻ ngoài kém hấp dẫn. Người đàn ông hàng chài được nhà văn miêu tả: mái tóc tổ quạ, chân đi chữ bát, lông mày rậm cháy nắng, đôi mắt đầy vẻ độc dữ, lưng rộng và cong như một chiếc thuyền, trông lão như một con gấu đang đi tìm nguồn nước.
– Họ đều là nạn nhân của hoàn cảnh đói nghèo: lão đàn ông và gia đình ở trên một chiếc thuyền lưới vó, thuyền chật, con đông; cuộc sống đói nghèo, lam lũ, nhiều lần biển động gia đình phải ăn xương rồng luộc chấm muối.
– Họ đều là những người đàn ông có bản chất tốt đẹp: Tràng là một người nông dân hiền lành, nhân hậu; lão đàn ông hàng chài thì xưa kia là một thanh niên hiền lành chẳng bao giờ đánh đập vợ con, hắn từng trốn đi lính cho ngụy, chấp nhận túng quẫn, đói nghèo chứ không cầm súng bắn vào đồng bào mình. Lão đàn ông ấy cũng không uống rượu, hút thuốc. Vậy phải chăng đó là mẫu đàn ông lý tưởng?
2.2.3. Điểm khác nhau giữa Tràng và người đàn ông hàng chài:
– Họ đều là nạn nhân của hoàn cảnh đói nghèo nhưng trong khi Tràng vẫn giữ được bản chất tốt đẹp thì lão đàn ông lại bị hoàn cảnh làm cho tha hóa.
(Phân tích làm rõ)
* Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
– Xây dựng tình huống truyện mang tính nhận thức, khám phá.
– Kể chuyện sinh động, khách quan; ngôn ngữ chọn lọc, tinh tế
– Người đàn ông thuyền chài được tác giả đặt vào trong những tình huống và góc nhìn của các nhân vật khác như Phùng, Đẩu, người đàn bà hàng chài, thằng Phác…Nhờ vậy, mà nhân vật này dù chỉ xuất hiện “thoáng qua” nhưng diện mạo, ngôn ngữ, hành động, tính cách cục cằn, tàn nhẫn của hắn được bộc lộ một cách toàn diện, rõ nét và khách quan như chính chúng ta cũng thường bắt gặp đâu đó hình ảnh này trong cuộc sống.
3. Đánh giá chung
“Cuộc sống còn tuyệt vời biết bao trong thực tế và trên trang sách. Nhưng cuộc sống cũng bi thảm biết bao. Cái đẹp còn trộn lẫn niềm sầu buồn. Cái nên thơ còn lóng lánh giọt nước mắt ở đời” (Nguyễn Văn Thạc). Quả đúng như vậy, cuộc sống quanh ta nhiều bi thảm, cái đẹp luôn song hành và trộn lẫn niềm sầu buồn; trong nên thơ vẫn còn đâu đó là nước mắt. Đọc Vợ nhặt của Kim Lân ta đã khóc vì một tấm lòng đôn hậu với tình người lấp lánh trên mỗi câu văn. Đọc Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu ta không khỏi xa xót vì vẻ ngoài chiếc thuyền ngư phủ đẹp như trong mơ lại chứa đựng bên trong một bi kịch gia đình mà lão đàn ông là nguồn cơn của tình trạng bạo lực gia đình. Tấm lòng cao cả của Kim Lân và Nguyễn Minh Châu đã góp phần soi rọi lên văn chương dân tộc những hình tượng nghệ thuật độc đáo để chúng ta không chỉ khóc vì cái đẹp mà còn biết căm giận cái xấu, cái ác, cái bất lương, để từ đó đấu tranh loại bỏ cái ác, cái xấu, cái đê hèn ra khỏi cuộc đời và làm cuộc sống thanh sạch hơn.
III. KẾT BÀI
“Nhà văn phải biết khơi lên ở con người niềm trắc ẩn, ý thức phản kháng cái ác; cái khát vọng khôi phục và bảo vệ những cái tốt đẹp” (Ai – ma – tôp). Với ý nghĩa đó, Kim Lân và Nguyễn Minh Châu xứng đáng là những cây đại thụ của nền văn học nước nhà.
——————

23/06/2018

Bàn luận về nhân vật Tràng trong truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân (Ngữ văn 12, tập hai) có ý kiến cho rằng: Tràng là một gã trai quê nông nổi, liều lĩnh nhưng lại đầy khát khao và tốt bụng. Anh/Chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
Từ đó, liên hệ với nhân vật Chí Phèo ở phần kết thúc truyện trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nam Cao (Ngữ văn 11, tập một) để nhận xét về số phận của người nông dân.
Bài văn của Lâm Ngọc Tú – Học sinh trường THPT Lê Quý Đôn, TP Bà Rịa – Vũng Tàu:
“Tôi định viết một số truyện ngắn những ý khác là khi đói người ta không nghĩ đến con đường chết mà chỉ nghĩ đến con đường sống. Dù ở trong tình huống bi thảm đến đâu, dù kề bên cái chết vẫn khát khao hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng, vẫn tin vào sự sống và vẫn hy vọng ở tương lai, vẫn muốn sống, sống cho ra người”. Đây là lời tự sự của chính tác giả truyện ngắn Vợ nhặt – nhà văn Kim Lân – người một lòng đi về với vẻ đẹp thuần hậu nguyên thủy làng quê khuất lấp sau dãy tre làng. Truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân để lại ấn tượng trong lòng bạn đọc không chỉ bởi thông điệp giàu ý nghĩa mà còn bởi giá trị trị tinh thần và giá trị giáo dục giàu có của thiên truyện này. Truyện được lấy cảm hứng và viết từ nạn đói năm 1945. Sau đó, bị mất bản thảo nhưng khi hòa bình lập lại (1954), ông dựa vào cốt truyện cũ viết nên truyện ngắn này và in trong tập Con chó xấu xí.
Câu chuyện của truyện ngắn xoay quanh ba nhân vật là Tràng, bà cụ Tứ (mẹ Tràng) và Thị – người vợ nhặt (vợ Tràng).
Nhân vật nào cũng đều là hiện thân của những người nông dân trong nạn đói năm ấy, khốn khổ, đói rách. Hoàn cảnh nạn đói ấy đã ảnh hưởng sâu sắc đến ngoại hình và tính cách của họ. Tuy nhiên, được sống trong tình thương của gia đình, của tình người, những phẩm chất tốt đẹp tiềm ẩn trong họ mới lộ thiên.
Cùng với người vợ nhặt, nhân vật Tràng là một con người với hai phương diện tính cách đối lập như thế khi được sống trong những hoàn cảnh khác nhau “một gã trai quê nông nổi, liều lĩnh nhưng lại đầy khát khao và tốt bụng”.
“Nông nổi” là bồng bột, thiếu cân nhắc suy nghĩ trước khi hành động, “liều lĩnh” là hành động mà không nghĩ đến hậu quả tai hại có thể xảy ra. “Khao khát” là muốn có một cuộc sống hạnh phúc như bao người, “tốt bụng” có lòng tốt, thương người và sẵn sàng giúp đỡ người khác.
sống tạo ra. Tuy hai tính cách có đối lập nhau nhưng chúng lại bổ sung cho nhau để hoàn thiện nhân vật Tràng trong tác phẩm .
Tràng là dân ngụ cư, cuộc sống chịu thiệt thòi. Vì mưu sinh, họ phải tha hương cầu thực nơi đất khách quê người.
Ở đây, để tồn tại, họ phải bưng mặt đi làm thuê, làm mướn cho những người có quyền thế, có tiền của. Họ còn phải chịu cái nhìn ghẻ lạnh, khinh miệt từ người dân địa phương.
Tràng làm nghề đẩy xe thóc thuê cho Liên đoàn Nhật. Một nghề bấp bênh, ngắn hạn không ổn định. Tràng sống cùng người mẹ già trong một ngôi nhà “rúm ró” nằm trong một mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại, xiêu vẹo, tối tăm, sống đời “mẹ quá, con côi” cơ cực cùng bà mẹ già.
Trong cái nạn đói năm ấy, người đói chết thây chất đầy đường, thiếu ăn đến độ phải ăn rễ cây mà sống, có được bát cháo cám mà húp thôi đã là một ân huệ rất lớn. Gia đình Tràng cũng chẳng ngoại lệ, cuộc sống bấp bênh khi tương lai của mình còn lo chưa xong, ở nhà “gạo chỉ đếm bằng hạt”.
Thế nhưng, chỉ với hai lần gặp gỡ người đàn bà xa lạ trong hai lần kéo xe bò lên tỉnh, Tràng đã sẵn sàng đãi người đàn bà ấy bốn bát bánh đúc, cho không, biếu không Thị mấy cái thúng con,… Thế thì có nông nỗi không?
Không chỉ thế, trong tình cảnh “đến cái thân mình còn lo chưa xong” mà Tràng lại dẫn Thị về nhà, thêm một miệng ăn là thêm một “cơ hội” chết đói.
Tính mạng mình mà cũng không màng, thế có phải là liều lĩnh không? Lý giải cho hành động nông nỗi, liều lĩnh này, phải kể đến tài năng của nhà văn Kim Lân.
Kim Lân đã rất thành công trong việc phác họa được một anh nông dân đúng bản chất khù khờ, hiền lành và chất phác.
Nếu hiểu Tràng là người đầy khát khao và tốt bụng thì chẳng có gì nhân văn cả. Vậy Tràng bao dung, thương người ? Chính cái tính hồn nhiên, vô tư ấy là bước đệm, là nền tảng tạo dựng hạnh phúc cho Tràng sau này. Cái tính tốt bụng bắt đầu từ khi gặp người đàn bà xa lạ, khi chưa có danh phận gì với nhau cả, chỉ là người lạ gặp qua đường. Anh đã cho đi, để rồi anh đã nhận lại thứ quý giá nhiều hơn thế.
Tràng tốt bụng nhưng khao khát có vợ của Tràng rất mãnh liệt, dẫu trong vài chi tiết hé lộ khá kín đáo, nhà văn đã cho bạn đọc thấy được điều đó: Trong lần thứ nhất, Tràng đẩy xe bò lên tỉnh gặp Thị, Tràng hò một câu tưởng tình cờ cho đỡ mệt nhưng thật ra lại đầy tình ý:
Muốn ăn cơm trắng mấy giò này
Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì
Khi Thị nhận lời, Tràng thích lắm. “Từ cha sinh mẹ đẻ đến giờ, chưa có người con gái nào cười với hắn tình tứ như thế”. Rồi cả trong câu nói vu vơ nhưng đầy tình thương và thành ý: “Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về”.
Nhà văn Kim Lân muốn nhấn mạnh với bạn đọc điều gì qua khát vọng hạnh phúc gia đình của Tràng ? Là dù trong hoàn cảnh nghèo đói cơ cực hay thậm chí là cái chết đang chờ đón trước mắt thì khao khát hạnh phúc của con người vẫn luôn dạt dào, mãnh liệt.
Tình người, hạnh phúc luôn mang đến những điều kỳ diệu, tươi đẹp cho cuộc sống để con người cảm thấy muốn sống, sống đẹp hơn trong những ngày cằn cỗi, khắc nghiệt.
Chính điều đó đã làm cái vẻ xấu xí, thô kệch của Tràng bị lấn át bởi vẻ đẹp tỏa sáng tự bên trong.
Những ấn tượng còn lại về Tràng: Anh là một con người bao dung, ấm áp và đầy tình yêu thương. Ngoài vườn mẹ đang lúi húi giẫy những búi cỏ mọc nham nhở. Vợ hắn quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất.
Cảnh tượng thật đơn giản, bình thường nhưng đối với hắn lại rất thấm thía cảm động. Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Và nghĩ về tương lai tươi sáng sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng.
Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này.
Cuối tác phẩm, Tràng nghĩ về “Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới” làm người đọc hành dung ra rằng khát khao hạnh phúc mãnh liệt tương lai tươi sáng vẫn đang bùng cháy le lói trong tâm hồn của Tràng.
Tràng và Thị – tình yêu nuôi nấng tia hi vọng.
Với ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, đậm chất nông dân được chắt lọc kỹ lưỡng giàu sức gợi, xây dựng tình huống chuyện độc đáo, miêu tả tâm lý nhân vật hấp dẫn sinh động, xây dựng tình huống truyện độc đáo.
Nhà văn Kim Lân đã xây dựng thành công nhân vật Tràng: “một gã trai quê nông nổi, liều lĩnh nhưng vừa lại đầy khát khao và tốt bụng” như ý kiến ở đề bài đã đánh giá.
Cùng viết về đề tài người nông dân nghèo vùng nông thôn, phải chịu nhiều thiệt thòi, sống cơ cực, lầm than dưới chế độ phong kiến, thực dân.
Nam Cao đã gây được tiếng vang lớn với hình tượng điển hình Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên ra đời năm 1941, tức trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Chí là một người hiền hậu, chất phác được dân làng Vũ Đại cưu mang. Anh cũng ước mơ có một cuộc sống bình dị như bao người “một cuộc sống nho nhỏi, chồng cày thuê, vợ dệt vải”. Chỉ vì cường quyền của chế độ phong kiến khi chưa có Đảng lãnh đạo mà đứa con tinh thần của tác phẩm đã bị chà đạp không thương tiếc. Chí Phèo là nhân vật điển hình cho người nông dân bần cùng dẫn đến lưu manh hóa – quy luật có tính phổ biến trong xã hội trước Cách mạng.
Còn Tràng lại tiêu biểu cho người nông dân vùng nông thôn trong nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu (1945). Nhìn chung, số phận của Chí Phèo đáng thương, đau khổ hơn Tràng: bị cự tuyệt quyền làm người.
Ngoài những yếu tố chi phối như đề tài, cảm hứng, phong cách, quan niệm nghệ thuật, tư tưởng, khuynh hướng sáng tác của mỗi nhà văn có khác nhau thì có lẽ bối cảnh ra đời của hai tác phẩm là yếu tố quyết định đến sự khác nhau trong số phận của hai người nông dân này.
Tác phẩm Chí Phèo ra đời trước Cách mạng tháng Tám, đồng nghĩa với việc, số phận và cuộc đời người nông dân hoàn toàn bế tắc, không lối thoát. Không phải vậy mà Chí Phèo với bản chất vốn lương thiện đã không thể tồn tại trong xã hội ấy đó sao? Anh phải tìm đến cái chết để được làm người… lương thiện.
Còn với Vợ nhặt thì khác, dù lấy bối cảnh là nạn đói năm Ất Dậu (1945) nhưng tác phẩm được viết lại vào năm 1955, tức sau Cách mạng tháng Tám. Văn học thời kỳ này phải gắn liền và phục sự cho sự nghiệp cách mạng. Do vậy, số phận của người nông dân, mà chủ yếu qua nhân vật Tràng có nhiều điểm khác biệt: Có lối thoát với kết thúc có hậu.
Với Tràng, nhà văn Kim Lân đã xây dựng được một người nông dân với những nét phẩm chất, tính cách, trí tuệ, ngôn ngữ tiêu biểu cho người nông dân Việt Nam.
Với Chí Phèo, Nam Cao đã xây dựng được một nhân vật điển hình cho một tầng lớp của xã hội. Đặc biệt, thông qua hai nhân vật này, người đọc cảm nhận được tấm lòng nhân đạo cũng như sự nhìn nhận đa chiều để trân trọng vẻ đẹp con người của hai nhà văn.

23/06/2018

So sánh hai nhân vật Huấn Cao (truyện ngắn “Chữ người tử tù”) và ông lái đò (tuỳ bút “Người lái đò sông Đà”) để làm nổi bật cách xây dựng nhân vật của nhà văn Nguyễn Tuân trước và sau cách mạng.

GỢI Ý
1. Hoàn cảnh
* Điểm chung
– Phải đối mặt với một môi trường sống chứa đựng nhiều nguy hiểm, đầy thử thách.
– Môi trường ấy đồng thời cũng là cơ hội để họ bộc lộ trọn vẹn những vẻ đẹp độc đáo trong tâm hồn, tính cách, khả năng của họ.
* Điểm riêng
– Huấn Cao
+ Chế độ phong kiến suy tàn, bắt đầu bộc lộ tính chất xấu xa, đen tối.
+ Vì chống lại triều đình phong kiến mà Huấn Cao đã bị bắt, bị xử án tử hình, bị giam cầm để chờ ngày ra pháp trường chịu án chém. Những ngày cuối cùng của cuộc đời ông phải sống trong buồng giam tử tù, nơi không có chỗ cho sự tồn tại của thiên lương hay cái đẹp. Do đó, Huấn Cao luôn phải chuẩn bị tâm thế cho những trò đốn mạt, cạm bẫy xấu xa của kẻ tiểu nhân.
– Ông lái đò
+ Môi trường lao động đầy nguy hiểm: Con sông Đà hung bạo, độc dữ như kẻ thù số một.
+ Công việc lái đò lại là công việc dễ tổn thọ bởi nó đầy những hiểm nguy, buộc người lái đò phải luôn tay, luôn mắt, luôn gân, luôn tim. Nguy hiểm nhất là những lần vượt thác – nơi dòng sông thể hiện đầy đủ nhất cái uy lực khủng khiếp của nó.
2. Đặc điểm:
Tài năng phi phàm, xuất chúng:
– Huấn Cao:
+ Tài năng trong lĩnh vực nghệ thuật – đòi hỏi sự uyên bác và một tâm hồn phóng khoáng.
+ Tài viết chữ: Nét chữ vuông vắn, tươi tắn, viết nhanh và đẹp. Hồn chữ – điều được kí thác trong từng nét chữ là hoài bão tung hoành của một đời người. Danh tiếng: chữ Huấn Cao nổi tiếng khắp vùng tỉnh Sơn đến kẻ vô danh tiểu tốt cũng biết đến mà ngưỡng mộ. Chữ Huấn Cao là một vật báu ở đời, là niềm ao ước của những ai có sự am hiểu về chữ thánh hiền và cảm nhận được giá trị của cái đẹp. Chữ Huấn Cao có khả năng lay động, chinh phục lòng người.
– Ông lái đò
Tài năng bộc lộ trong lao động với một công việc rất bình thường: lái đò
+ Tay lái ra hoa: Những động tác chèo lái chứa đựng vẻ đẹp. Cái đẹp đời thường, giản dị mà cũng vô cùng độc đáo.
+ Linh hoạt trong từng động tác để ứng phó, hoá giải những đòn đánh, thế tấn công của con sông không chỉ độc dữ mà còn có khả năng quân sự tuyệt vời.
Sông Đà đã phối hợp được sức mạnh của cả đá và nước. Ông lái đò chỉ đứng trên một con thuyền với một mái chèo, một mình đơn độc giữ bao la sóng thác. Đá sông Đà dàn thạch trận với những cửa sinh, của tử biến ảo không lường. Nước sông Đà có những thế võ và sức mạnh đủ để quật ngã những tay lái non gan và ít kinh nghiệm. mái chèo chỉ là một công cụ bình thường nhưng khi ở trong tay ông lái đò lại như một cây đũa thần, giúp ông ổn định thế trận, hoá giải sức mạnh của mọi đòn tấn công.
Với sự linh hoạt của động tác, ông lái đò đã đưa chiếc thuyền vượt qua thạch trận. Lúc thì đè sấn lên sóng thác mà đi, chặt đôi sóng mà tiến,… Con thuyền dưới sự điều khiển của ông lái đò khi tiến khi thoái, khi công khi thủ. Có lúc nó lao vút như một mũi tên tre, xuyên nhanh qua nước, vừa bơi, vừa tự dộng lái được, lượn được.
Qua mỗi trùng vi thạch trận, ông lái đò lại đổi tay lái và đổi luôn chiến thuật. Trong trận chiến trên sông, không phải không có lúc người lái đò méo bệch mặt đi vì những vết thương bởi sóng đánh đòn âm, đòn tỉa vào chỗ hiểm. Nhưng chính nhờ xự linh hoạt của động tác, sự biến hoá của chiến thuật đã khiến cho lũ đá nơi ải nước phải tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng. Con thuyền của ông lái đò đã bỏ lại phía sau mình tiếng gieo hò của sóng thác để thanh thản hoà mình vào một không gian mới, không khí mới trên chính con sông vừa mới đây thôi còn là đối thủ trong trận chiến sinh tử.
Khí phách hiên ngang, bất khuất trước những hiểm nguy, thử thách không chịu đầu hàng, lùi bước mà sẵn sàng đối mặt với một tâm thế bình thản, ung dung nhất có thể. Thậm chí, họ còn coi những hiểm nguy như một niềm sinh thú trong cuộc sống của mình.
* Điểm chung: Coi những hiểm nguy như một niềm sinh thú trong cuộc sống của mình.
– Huấn Cao: Quản ngục vì lòng cảm mến Huấn Cao, muốn ông được sống những ngày cuối cùng thoải mái nên đã biệt đãi người tử tù nguy hiểm. Hằng ngày, quản ngục đều sai người mang rượu thịt vào tận buồng giam tử tù. Do chưa biết rõ về con người quản ngục nên trong mắt Huấn Cao, rượu thịt đưa vào là một thứ cạm bẫy. Nhưng ông không hề né tránh mà vẫn đón nhận như một thú bình sinh.
– Ông lái đò: Ông lái đò là người không thích chèo đò ở những quãng sông bằng phẳng bởi nó tạo cho ông cảm giác dại chân, dại tay và dễ buồn ngủ. Ông coi những nghềnh thác hiểm nguy chính là tình cảm đậm đà con sông dành cho nhà đò.
* Điểm riêng: Tình thế phải đối mặt
– Huấn Cao: Cái án tử hình, chốn ngục tù dơ bẩn với những trò tiểu nhân thị oai, với quyền lực xấu xa và cái chết có thể đến bất cứ lúc nào. Đối mặt với tình thế ấy, Huấn Cao luôn giữ thái độ ung dung, bình thản, tự do, tự tại. Trò tiểu nhân thị oai không ngăn cản ông thực hiện ý định của mình. Ông sẵn sàng đối mặt với quyền lực đen tối. Ngay cả cái chết cũng không gợi trong ông dù chỉ một thoáng phân vân. Nếu cái tin ngày mai Huấn Cao bị giải về kinh chịu án chém làm viên quản ngục tái nhợt đi, thầy thơ lại hớt hơ hớt hải thì không khiến Huấn Cao bận tâm chút nào. Nỗi bận tâm của Huấn Cao bấy giờ chỉ là nên hay không nên cho chữ quản ngục.
– Ông lái đò: những trận thuỷ chiến trên sông, hiểm nguy luôn thường trực trong cuộc sống của những người lao động trên sông nước. Thậm chí, cuộc sống của người lái đò là cuộc chiến đấu hằng ngày với thiên nhiên để giành sự sống từ tay nó về tay mình. Bởi con sông Đà mà ông lái đò phải đối mặt hung bạo, độc dữ như một người dì ghẻ, một kẻ thù số một. Vậy mà ông lái đò dám chung sống suốt đời với nghề chèo đò, dám đối mặt tới cùng (cưỡi trên thác sông Đà phải cưỡi đến cùng như cưỡi hổ) với tư thế hiên ngang không chịu đầu hàng, lùi bước, luôn bình tĩnh, tỉnh táo để chỉ huy con thuyền vượt sóng thác.
Tấm lòng, nhân cách đáng quý
Đều đem cái tâm trong sáng, cao quý để đối xử với cuộc sống, con người để vun đắp những mối quan hệ tốt đẹp, để xây dựng những mối tri kỉ, tri âm.
* Huấn Cao
Là người có tài viết chữ nhưng ông không dùng cái tài để mưu lợi cá nhân. Bởi ông biết rằng cái quý của chữ nằm ở giá trị tinh thần của nó. Vì thế, ông chỉ cho nhữ những người tri âm tri kỉ, những con người hiểu được tấm lòng của ông.
Huấn Cao cho chữ viên quản ngục bởi ông nhận ra ở quản ngục một thiên lương trong sáng, một tấm lòng đáng trọng. Trao bức lụa với những nét chữ vuông vắn, tươi tắn vào tay quản ngục là trao cái đẹp vào tay người say mê cái đẹp, là trao tấm lòng cho người có tấm lòng. Hơn thế nữa, từ khi nhận ra con người quản ngục, Huấn Cao đã thể hiện sự trân trọng trong cách xưng hô, lựa chon không gian, thời gian viết chữ. Niềm mong muốn bảo vệ thiên lương cho con người đáng trọng đó bộc lộ ở lời khuyên chí tình. Chính tấm lòng, nhân cách của Huấn Cao đã lay động sâu sắc đến tình cảm của viên quan coi ngục, khiến quản ngục nghẹn ngào, cúi đầu xin bái lĩnh.
Như vậy, cái đẹp do Huấn Cao sáng tạo ra có thể tồn tại bất tử và có ý nghĩa đối với con người, cuộc đời.
* Ông lái đò
– Gắn bó thuỷ chung với con sông Đà, ông coi sông Đà như một kì phùng địch thủ để thi thố tài năng. Đồng thời, với ông, con sông Đà lắm tài nhiều tật còn là một người tri kỉ tâm giao. Chính sự am hiểu đã giúp ông chinh phục được sông Đà.
– Tấm lòng và trách nhiệm đối với quê hương đất nước
+ Quá khứ: Thời chúa đất ngăn sông cắt bến, kẻ thù lùng sục, không thể trực tiếp chèo đò đưa bộ đội qua sông, những con đò bỏ vắng ven sông cùng với quy ước ngầm của những người lái đò (anh cán bộ nếu không muốn cho địch biết cái bến mình vừa sang thì cứ việc thả cho thuyền trôi dọc sông, người bến dưới bắt được sẽ gửi trả lại người phía trên này) chính là tấm lòng của người lao động với cách mạng, kháng chiến.
+ Hiện tại: Khi đất nước đang trong thời kì dựng xây, ông lái đò lại rất tự hào kể về việc được chở một đoàn chuyên gia ta và chuyên gia Nga đi khảo sát địa hình, chuẩn bị cho việc xây dựng nhà máy thuỷ điện. Đây là một ngườiềm tự hào chân chính của một người công dân khi được đóng góp công sức vào công cuộc xây dựng đất nước.
3. Đánh giá chung
– Cả hai nhân vật đều được xây dựng bằng biện pháp lí tưởng hoá, xuất phát từ cơ sở của cái nhìn độc đáo về con người của nhà văn Nguyễn Tuân: Nhìn con người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ để có thể làm nổi bật những vẻ đẹp phi thường trong tài năng, cốt cách của các nhân vật. Nhà văn đã đặt nhân vật vào những tình huống đầy thử thách, những mối quan hệ nhìn bề ngoài là đối nghịch nhưng bên trong là tri kỉ, tri âm để các nhân vật vừa bộc lộ khí phách, nhân cách, tài năng xuất chúng hơn người. Đồng thời, để tạo nên sức thuyết phục của hình tượng nhân vật, Nguyễn Tuân đã huy động kho vốn kiến thức trên nhiều lĩnh vực kết hợp với trí tưởng tượng độc đáo.
* Chữ người tử tù
Sáng tác trước cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân lúc này là một nhà văn lãng mạn, ông đã tìm kiếm sự độc đáo bằng cách xây dựng những nhân vật đặc tuyển – hình mẫu lí tưởng của những cong người một thời vang bóng, những anh hùng bất đắc chí, những nho sĩ cuối mùa dù sa cơ thất thế vẫn cương quyết không chịu dung hoà với môi trường đen tối, với xã hội bát nháo, lố lăng.
* Người lái đò sông Đà
Sáng tác vào những năn 60, Nguyễn Tuân lúc này đã trở thành một nhà văn cách mạng. Ông không còn đối lập xưa – nay, cổ – kim, cũng không còn tìm kiếm cái đẹp của một thời vang bóng mà ở ngay cuộc sống hiện tại với những con người bình thường. Dưới ngòi bút Nguyễn Tuân, ông lái đò tuy chỉ là một người lao động bình thường nhưng lại có khí phách của một người anh hùng và tài năng, tấm lòng của một người nghệ sĩ.
– Nếu như khi xây dựng Huấn Cao, Nguyễn Tuân chủ yếu sử dụng tri thức về nghệ thuật thì khi xây dựng nhân vật ông lái đò, nhà văn cần rất nhiều vốn tri thức đời sống. Bởi vậy, những chuyến đi thực tế, sự gắn bó với những người lao động, công phu tìm hiểu cuộc sống, công việc của họ chính là điều kiện cần thiết để ngòi bút nhà văn có thể thăng hoa. Chính điều này giúp ngòi bút Nguyễn Tuân giữ được uy lực của mình, vẫn giữ được tài năng của mình. Những tác phẩm văn chương thống nhất ở tư tưởng nhưng phong phú, sáng tạo trong nghệ thuật biểu hiện.
Nguyễn Thanh Huyền – giáo viên văn trường THPT chuyên Nguyễn Trãi – tỉnh Hải Dương

Want your school to be the top-listed School/college in Ho Chi Minh City?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Category

Telephone

Website

Address


Ho Chi Minh City