Y Võ - Khí Công

Y Võ - Khí Công

Share

Võ thuật Cổ truyền Việt Nam
Shaolin Kungfu
Y học Cổ truyền (Đông y)
Dưỡng sinh - Thiền Sức khoẻ

Photos from Y Võ - Khí Công's post 05/03/2026

🔴Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông - biểu tượng của Y đức sáng ngời


ღ sưu tập và tổng hợp : Ths Bs Nguyễn Xuân Hưng


✅ Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác:
Đạo làm thuốc là một nhân thuật chuyên lo tính mạng con người; phải lo cái lo của con người, vui cái vui của người, chỉ lấy việc chữa bệnh cứu người làm nhiệm vụ của mình không được mưu lợi, kể công.

Lê Hữu Trác (tên tự, tên hiệu, bút danh: Hải Thượng Lãn Ông, 1720-1791), là một danh y người Việt Nam, thời nhà Lê. Ông là tác giả của bộ sách 28 tập Hải Thượng y tông tâm lĩnh , được coi là "Bách khoa thư Y học" đầu tiên của Việt Nam.

Lê Hữu Trác sinh trưởng tại thôn Văn Xá, làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương (nay thuộc xã Mỹ Hào, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên), trong một gia đình danh gia vọng tộc, có nhiều người đỗ đạt, hiển vinh, làm đại thần triều đình. Chú ruột của ông là Lê Hữu Kiều, đỗ đệ tam giáp tiến sĩ, làm quan đến chức Thượng thư Bộ Lễ, phong tặng Quận Công (ông là bố vợ của Bảng nhãn Lê Quý Đôn). Cha là Lê Hữu Mưu, đỗ đệ tam giáp tiến sĩ, làm Thị lang Bộ Công triều Lê Dụ Tông, gia phong chức Ngự sử, tước Bá (được truy phong Thượng thư); mẹ là Bùi Thị Thưởng (vợ thứ).

Lê Hữu Trác là con thứ bảy, nên lúc nhỏ tục gọi là cậu Chiêu Bảy. Thuở nhỏ, ông sống ở quê nhà, rồi theo cha đi học ở Kinh thành Thăng Long (Hà Nội). Hồi trẻ, ông nổi tiếng là người thông minh, học giỏi, hiểu rộng, thơ hay.

Ngay từ nhỏ, Lê Hữu Trác đã bộc lộ tài năng thiên bẩm trong việc học hành, tinh thông sách sử nên được cha cho lên Kinh kỳ theo học.

Đến năm Kỷ Mùi (1739), khi mới 20 tuổi thì cha mất, phải thôi học. Ông thi đậu tam trường rồi sau không đi thi nữa. Về nhà, ông tiếp tục đọc sách, luyện chí, tu thân, trở thành một người uyên thâm, thấu hiểu sâu sắc cả các học thuyết của Nho, Phật, Lão.

Lê Hữu Trác lớn lên vào thời Lê Mạt, giữa lúc chế độ phong kiến khủng hoảng nghiêm trọng, xã hội rối ren, Trịnh Nguyễn phân tranh, nhân dân cực khổ, khắp nơi nổi dậy chống phong kiến. Vì vậy, ngoài việc dùi mài kinh sử, ông học thêm thuật Âm Dương trong môn học “Thiên Nhân” của ẩn sĩ họ Vũ ở Đặng Xá. Vài năm sau khi triều đình tuyển mộ, ông đã gác bút nghiên tòng quân. Ông nghiên cứu binh thư, biết võ thuật, lại là con cháu các đại thần nên rất được tín nhiệm và được cử cầm quân.

Trong khi tại ngũ, Lê Hữu Trác thường đau yếu do hoàn cảnh khắc nghiệt của chiến tranh, được người quen giới thiệu, ông vào tận Rú Thành (Thanh Chương, Nghệ An) tìm đến nhà lương y Trần Độc để chạy chữa và dưỡng bệnh.

Trong thời gian này, ông đã mượn cuốn sách thuốc “Cẩm nang Phùng thị” để đọc. Càng đọc càng say mê, thích thú và càng thấu hiểu y lý, ông nhận thấy nghề thuốc là nghề nhân đạo, cứu nhân độ thế. Do vậy, sau mấy năm tham gia quân đội Trịnh, ông đã tận mắt chứng kiến cảnh đau thương chết chóc, cốt nhục tương tàn rồi chán ghét bỏ quan, cởi giáp trở về sống cuộc đời của một thường dân.

Con đường mà Lê Hữu Trác đến với y học rồi nguyện cống hiến cả cuộc đời cho nghề thuốc không bằng phẳng, suôn sẻ mà trải qua nhiều biến cố thăng trầm nhiều băn khoăn, do dự. Sống trong một xã hội loạn lạc, đầy sóng gió thời “vua Lê, chúa Trịnh”, ông đã thấy rõ “cảnh làm quan là cái biển lênh đênh, chìm mổi hiểm nghèo”, “vào cửa công hầu sâu tựa biển” (tự thuật), bản thân thì bị bệnh kéo dài mãi không khỏi, con cái thì bệnh tật, chết yểu, đặc biệt là trường hợp mất đứa con yêu thông minh, dĩnh ngộ cộng với sự ra đi của người anh trai thứ năm vì mắc bệnh hiểm nghèo khiến cho ông giác ngộ mới quyết tâm theo đuổi nghiệp y.

Vào khoảng năm 1743, ông rời Thăng Long về quê ngoại, ở thôn Bầu Thượng, xã Tình Diệm, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, để thay anh chăm sóc mẹ già. Đây là nơi Lê Hữu Trác bắt đầu khởi nghiệp y đạo, trị bệnh cứu người. Vì vậy, ông lấy biệt hiệu là Hải Thượng Lãn Ông "Ông Lười" ở Hải Dương, quê cha và Bầu Thượng, quê mẹ).
Khi về Hương Sơn ẩn cư học thuốc, ông miệt mài ngày đêm, đọc rất nhiều sách và lặn lội lên rừng kiếm cây thuốc quý…

Năm 1751, ông ra Kinh đô tìm thầy học thêm nhưng không gặp được thầy giỏi, ông lại trở về Hà Tĩnh say mê nghiên cứu. Chẳng bao lâu trở thành danh y nổi tiếng khắp vùng, năm 1760, ông mở trường dạy thuốc cho môn đệ, trao đổi với đồng nghiệp về y lý và biện chứng luận trị, sưu tầm phương thuốc…

Năm 1782, ông được mời lên Kinh đô chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán, con trai chúa Trịnh Sâm. Ở Thăng Long, Lãn Ông đã gặp người em rể họ là Bảng nhãn Lê Quý Đôn đang làm Thượng thư Bộ Lễ và đàm luận văn chương, thế sự rất là tâm đắc. Chữa bệnh cho thế tử xong, ông được Chúa Trịnh mời ở lại triều để làm quan Thái y, chăm lo sức khỏe cho cung Vua phủ Chúa, nhưng ông đã một mực từ chối xin về quê, lấy cớ phải chắm sóc mẹ già. Trong dịp này, ông viết cuốn Thương kinh ký sự (Kể chuyện lên Kinh), một tác phẩm văn thơ nổi tiếng thời đó, thể hiện nỗi lòng và chí hướng của mình.

✅Hải Thượng Lãn Ông - tấm gương sáng về y đức cao quý

Lê Hữu Trác là một thầy thuốc đại tài, người đã dành cả cuộc đời để nghiên cứu và phát triển y học cổ truyền Việt Nam. Ông đã tạo dựng một nền tảng lý thuyết và thực hành y học đồ sộ, xây dựng một hệ thống y học không chỉ dựa trên các lý luận cổ điển từ Trung Quốc mà còn tích hợp nhiều kinh nghiệm thực tiễn từ y học dân gian của Việt Nam.

Với Hải Thượng Lãn Ông, y lý của Đông phương với các học thuyết triết học duy vật cổ như âm dương, ngũ hành... được vận dụng vào lĩnh vực y học đã được khai thác một cách sâu sắc và sáng tạo. Tác phẩm quan trọng nhất của ông,

Hải Thượng y tông tâm lĩnh được ông dày công biên soạn là một bộ bách khoa toàn thư về y học cổ truyền với 28 tập với 66 quyển, được coi là di sản lớn nhất về y học cổ truyền của Việt Nam. Đây không chỉ là một công trình mang tính học thuật, giúp chuẩn hóa y học cổ truyền Việt Nam mà còn là một tài liệu tham khảo vô giá về phương pháp chữa bệnh và phòng bệnh.

Hải Thượng y tông tâm lĩnh chứa đựng những gì tinh túy nhất trong sự nghiệp của người thầy thuốc vĩ đại này và là tài sản vô giá của nền y học Việt Nam. Bộ sách không chỉ mô tả kỹ lưỡng các bệnh lý, phương pháp chẩn đoán và điều trị mà còn chứa đựng những nguyên tắc y đức và triết lý nhân sinh sâu sắc. Nó được xem như kim chỉ nam cho các thế hệ thầy thuốc không chỉ ở Việt Nam mà còn tại nhiều quốc gia có truyền thống y học cổ truyền trên thế giới.

Ông đã thu thập tổng hợp 2.854 phương thuốc kinh nghiệm hay của các bậc tiền bối lưu truyền trong dân gian và phát hiện bổ sung hơn 350 vị thuốc Nam. Ông cho rằng, muốn làm thầy thuốc giỏi phải học tập không ngừng. Ông tiếp thu kinh nghiệm của người xưa một cách có chọn lọc, linh hoạt, sáng tạo, không hề rập khuôn máy móc. Từ đó, ông có quan điểm về nhận định bệnh tật và phương pháp điều trị sáng tạo phù hợp với đặc điểm phong thổ, khí hậu và đặc điểm của con người Việt Nam.

Trong ba mười năm ròng hành nghề và nghiên cứu y học, Lê Hữu Trác đã “vắt gan, vắt ruột”, đem hết tâm trí, sức lực tham khảo các sách thuốc nổi tiếng, như Bảo sinh diên thọ toàn yếu, Toàn thư của Cảnh Nhạc, Hồng nghĩa giác tự y thư, Nam dược thần hiệu của Tuệ Tĩnh…, tổng hợp những thành tựu của y học dân tộc đến thế kỷ thứ XVIII, kết hợp với những nghiên cứu và kinh nghiệm chữa bệnh của bản thân để biên soạn bộ sách Hải Thượng y tông tâm lĩnh . Bộ sách này gồm 28 tập, 66 quyển, đề cập tới hầu hết các lĩnh vực và vấn đề của Đông y, có giá trị khoa học và thực tiễn hết sức to lớn, truyền lại cho đời sau.

✅ 28 tập sách này là:

1.Y nghiệp thần chương: bàn thảo và khuyên nhủ về nghề y, về thái độ tư cách của người thầy thuốc với lời Y huấn cách ngôn và tập thơ Y lý thâu nhàn
2.Nội kinh yếu chỉ
3.Y gia quan miện
4.Y hải cầu nguyện
5.Huyễn tẫn phát vi
6.Khôn hóa thái chân
7.Đạo Lưu dư vận
8.Vận khí bí điển
9.Dược phẩm vậng yếu
10.Lĩnh nam bản thảo
11.Ngoại cảm thông trị
12.Bách bệnh cơ yếu
13.Y trung quan kiện
14.Phụ đạo xán nhiên
15.Tọa thảo lương mộ
16.Ấu ấu tu tri
17.Mộng trung giác đậu
18. Ma chẩn chuẩn thắng
19.Tâm đắc thần hương
20.Hiệu phỏng tân phương
21.Bách gia trân tràng
22.Hành giản trân nhu
23.Y phương hải hội
24.Y dương án: bàn luận về các bệnh nguy nan được ông chữa trị thành công
25.Y âm án: tập hợp các bệnh án bệnh nặng, tình thế tuyệt vọng dù đã cố sức chữa vẫn không kết quả để rút kinh nghiệm
26.Châu ngọc cách ngôn
27. Vấn sách
28. Tập vĩ
Vệ sinh yếu quyết: khuyên dạy về chăm sóc sức khỏe, luyện tập thân thể, phòng chống bệnh tật, vệ sinh phòng dịch…

Có thể nói, bộ sách Bách khoa thư về Đông y 28 tập của Hải Thượng Lãn Ông là 28 viên ngọc quý, 28 vì sao sáng (nhị thập bát tú) lấp lánh trên bầu trời Y học Phương Đông. Bộ sách của Lãn Ông được giới y học ở trong nước và sau này ở ngoài nước đánh giá rất cao và coi đây là một bộ “Bách khoa thư Y học” đầu tiên của Việt Nam, đánh dấu một bước tiến bộ và phát triển đáng kể của nền y học cổ truyền dân tộc Việt Nam.

Lãn Ông cũng rất quan tâm đến đạo đức của người thầy thuốc và đã thể hiện các quan điểm y đức của mình trong lời Y huấn cách ngôn, ở tập đầu của bộ sách Hải Thượng y tông tâm lĩnh. Những lời này rất gần gũi, tương đồng với “Lời thề” của Hippocrate (460-377 TCN). Kỳ lạ thay, hai bậc đại danh y sinh ra từ hai phương trời vô cùng xa cách, sống trong hai thời đại hoàn toàn khác biệt, tuyệt nhiên chẳng có mối liên hệ nào, nhưng lại có nhiều điểm gặp nhau trong tư tưởng. Vì vậy, mặc dù thời đại có đổi thay, khoa học có tiến bộ, nhưng những chân lý đạo đức thì vẫn giữ nguyên giá trị vĩnh hằng muôn thuở và vẫn xa lạ với mọi thứ cạm bẫy, vinh hoa.

Lê Hữu Trác còn có một số tác phẩm giá trị khác như Thượng kinh ký sự (1783), Vận khí bí điển (1786)… và nhiều bài thơ chữ Hán.

✅Trong y học cổ truyền, không chỉ chú trọng chữa trị mà việc phòng ngừa bệnh tật luôn được coi trọng. Lê Hữu Trác đã đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì sức khỏe thông qua lối sống lành mạnh, chế độ ăn uống cân bằng và điều hòa tinh thần. Tư tưởng về y học dựa trên sự cân bằng giữa con người và thiên nhiên của ông vẫn có giá trị đến ngày nay, trong cả y học hiện đại lẫn y học cổ truyền.

Lê Hữu Trác luôn coi nghề y là một nhân thuật - một nghệ thuật của lòng thương người và trách nhiệm đối với bệnh nhân. Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác là người đầu tiên đưa ra những quan điểm mới về y đức trong lịch sử y học Việt Nam và y đức cũng là một trong những tư tưởng lớn nhất được thể hiện rõ nét qua các tác phẩm của ông (trong bài Y huấn cách ngôn và các tập Dương án, Âm án, Y lý thâu nhàn, Thượng Kinh ký sự).

Tư tưởng của ông về việc chữa bệnh bằng lương tâm và trách nhiệm đã tạo nên một chuẩn mực đạo đức cho nghề y, không chỉ trong y học cổ truyền mà còn trong y học hiện đại. Nhiều nguyên tắc mà ông đề ra như việc cá nhân hóa điều trị cho từng bệnh nhân hay việc coi trọng phòng ngừa bệnh tật, vẫn được áp dụng rộng rãi và là cơ sở lý luận trong y học hiện đại. Điều này cho thấy sự vượt thời gian và không gian của những giá trị mà Lê Hữu Trác đã xây dựng và để lại cho hậu thế.

Theo ông, một thầy thuốc giỏi không chỉ cần có kiến thức y học sâu rộng mà cần phải có tấm lòng từ bi, biết cảm thông và chia sẻ với nỗi đau của người bệnh. Đây là một tư tưởng hết sức tiến bộ và nhân văn, nhấn mạnh việc người thầy thuốc phải luôn đặt lợi ích của bệnh nhân lên trên hết, phải xem việc cứu người là sứ mệnh cao cả chứ không phải là một nghề 5 nghiệp chỉ để vụ lợi, kiếm sống. Tư tưởng này đã góp phần quan trọng xây dựng nên nền tảng y đức của y học Việt Nam.

Tư tưởng y học của Hải Thượng Lãn Ông mang đậm tính nhân văn, đề cao y đức của người thầy thuốc. Tấm gương sáng về y đức được thể hiện ngay trong 9 điều "Y huấn cách ngôn" ở phần đầu của bộ sách Y tông tâm lĩnh chứng tỏ ông rất chú trọng đến y đức. Đó chính là khuôn phép, nguyên tắc của người hành nghề y dược nhằm răn dạy người thầy thuốc vẫn còn nguyên giá trị đến hiện nay.

✅Di sản văn hóa xứng tầm thế giới

Hải Thượng Lãn Ông không chỉ là một thầy thuốc giỏi mà ông còn là một danh nhân văn hóa thế giới. Ông đã để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm không chỉ về y học mà còn về văn hóa, xã hội và lịch sử. Lê Hữu Trác để lại hàng trăm bài thơ, phần lớn là các bài thơ theo thể thất ngôn bát cú, ngũ ngôn bát cú, tứ tuyệt, văn biền ngẫu. Mảng thơ mang tính diễn ca bằng chữ Hán và chữ Nôm giàu vần điệu, nhạc điệu, dễ nhớ, dễ đọc. Mục đích sáng tác của ông là để chuyển tải nội dung y học, vận dụng vào phòng bệnh, chữa bệnh.

Thượng kinh ký sự - một trong những tác phẩm văn học quan trọng của ông, không chỉ là cuốn nhật ký ghi lại cuộc hành trình của ông từ Hương Sơn ra Thăng Long chữa bệnh cho hoàng gia mà còn là bức tranh sống động về xã hội, con người và văn hóa thời bấy giờ. Tác phẩm này đã góp phần mô tả những giá trị văn hóa, lịch sử của Việt Nam trong giai đoạn cuối thời Lê - Trịnh.

Di sản mà ông để lại cho hậu thế không chỉ là những trước tác đồ sộ về y học và văn học, mà còn có ý nghĩa sâu xa hơn là những tấm gương của ông về chủ nghĩa nhân đạo, tư tưởng đạo đức về phong cách đối nhân xử thế trong công việc và cuộc sống. Ông cũng là người có tinh thần tự tôn dân tộc sâu sắc. Ông luôn trăn trở về việc làm sao để nền y học nước nhà có thể phát triển, sánh ngang với các nước khác.

Ngoài những cống hiến lớn lao trong y học, Lê Hữu Trác còn có đóng góp quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc. Lê Hữu Trác cũng đóng góp vào việc xây dựng và phát triển ngôn ngữ y học cổ truyền bằng tiếng Việt, giúp phổ biến kiến thức y học đến với người dân rộng rãi hơn. Ông có nhiều đóng góp quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc. Thay vì chỉ sử dụng các thuật ngữ y học cổ bằng tiếng Hán như nhiều thầy thuốc thời bấy giờ, ông đã sáng tạo nhiều thuật ngữ y học mới, dễ hiểu và phù hợp với người dân Việt Nam. Điều này không chỉ giúp y học cổ truyền phát triển mà còn làm giàu thêm ngôn ngữ và văn hóa dân tộc. Sau khi mất, ông được nhân dân và giới y học cả nước suy tôn là bậc "Y thánh của Việt Nam".

Năm 2023, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác được UNESCO vinh danh là Danh nhân văn hóa thế giới vì những giá trị mà ông để lại không chỉ giới hạn trong biên giới Việt Nam mà còn có ý nghĩa toàn cầu. Ông cũng là nhà tư tưởng tiến bộ, có tinh thần nhân đạo sâu sắc. Tư tưởng y học của ông, với trọng tâm là y đức và lòng nhân ái, đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của y học cổ truyền không chỉ tại Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia khác, đặc biệt là các nước Á Đông. Hệ thống lý luận và phương pháp chữa bệnh của ông đã trở thành nguồn cảm hứng và tài liệu tham khảo quý giá cho nhiều thế hệ thầy thuốc ở khu vực và trên thế giới.

Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác là một danh y vĩ đại, một nhà văn, nhà tư tưởng lớn của Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là tấm gương sáng cho các thế hệ thầy thuốc và những người Việt Nam noi theo. Những thành tựu của ông đã góp phần cho sự phát triển của nền y học Việt Nam. Dù trải qua hàng trăm năm vẫn vẹn nguyên giá trị và tính ứng dụng. Di sản về đạo đức, nhân cách, y học của Đại danh y để lại đã góp phần xây dựng nền y học nhân văn, lấy người bệnh làm trung tâm và trở thành kim chỉ nam cho nhiều thế hệ thầy thuốc Việt Nam.
Nguồn: (sưu tầm Internet)

Photos from Y Võ - Khí Công - Phật Gia's post 09/22/2023

VĂN HÓA ĐẠO PHẬT TRONG VÕ THUẬT
LUẬN VỀ PHẤT TRẦN
AN ESSAY ON DUST BRUSH
Trương Văn Bảo
Văn hoá đạo đức Việt Nam nói riêng và Đông phương nói chung ảnh hưởng nhiều từ tam giáo Phật, Đạo, Nho. Việt Nam có lịch sử mấy ngàn năm, quá trình giao lưu văn hoá, có những ảnh hưởng qua lại về triết lý từ các hệ tư tưởng, nhất là Phật giáo.
Phật Thích Ca trước khi xuất gia là Thái tử Tất Đạt Đa, con vua Tịnh Phạn, tài kiêm văn võ. Đệ tử đời thứ 28 của Phật Thích Ca là Bồ Đề Đạt Ma, Thiền tông Ấn Độ, một kỳ nhân trở thành Sơ tổ Thiền tông và Tổ sư Võ thuật Thiếu Lâm tự, có ảnh hưởng rộng khắp thế giới. Trong đó có “phất trần”.
Phất trần là pháp khí biểu trưng cho sự tu tập đoạn trừ phiền não, chướng nạn, đồng thời là vật trang nghiêm của các bậc cao tăng, đạo sĩ trong khi thực thi pháp sự. “Bồ đề bổn vô thọ. Minh kính diệc phi đài. Bổn lai vô nhất vật. Hà xứ nhạ trần ai?” Nghĩa là: “Bồ đề vốn chẳng cây. Gương sáng cũng không đài. Xưa nay không một vật. Bụi trần bám vào đâu?” (Huệ Năng). Không có trần ai, sẽ không dùng đến phất trần.
Phất trần, tiếng Hoa là “Fúchén”, tiếng Anh là “Horsetail whisk”, “Fly whisk” hoặc là “Dust brush”, không phải là binh khí trong thập bát ban võ nghệ. Phất trần đã đi vào huyền thoại trong bí ẩn của nhiều thế kỷ trước nhưng nay đã trở nên phổ biến rộng rãi với nhiều người yêu mến “phất trần” ở phương Tây trong thế kỷ XXI này và đã dùng như một loại binh khí đặc dị.
Ngược dòng lịch sử, phất trần có từ đầu thế kỷ thứ II trước Công nguyên, được thiết kế ban đầu để xua đuổi ruồi, muỗi, và quét bụi khỏi các bề mặt mỏng manh, luôn được coi là biểu tượng của đời sống tu sĩ Đạo giáo, đặc biệt là ở núi Võ Đang, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Tuy nhiên, việc sử dụng phất trần đã thực sự sâu rộng hơn thế. Chúng ta có thể thấy phất trần xuất hiện trong văn hóa Hindi, Jain, Phật giáo, Polynesia và thậm chí cả châu Phi Maasai. Mặc dù vậy, trong mọi trường hợp, người ta mong đợi một công cụ như thế này sẽ được sử dụng bởi nông dân và công nhân, nhưng nó thực sự đã đứng vững trong giới hạn của các tu viện và quân chủ như đại diện cho uy quyền hoặc sự đối nghịch cực đoan của nó. (This humble tool, dating back to as early as the 2nd Century BCE, originally designed to whisk away flies and mosquitos, and to gently sweep dust from delicate surfaces, has always been considered the symbol of Daoist monastic life, particularly in Wudang Mountain, Hubei Province, China. However, its use has actually been more far-reaching than that. We can see it turning up in Hindi, Jain, Buddhist, Polynesian and even African Maasai culture. In all cases though, while we would expect a tool such as this to be used by peasants and workers, it has actually stayed firmly within the confines of monasteries and monarchies as a representation of authority or its polar opposite, humility).
Sa bà ác trọc, khổ, trầm luân. Nhất phất trần ai bất nhiễm thần. Tâm vật nhất như lung tính hải. Tịch quang thường tại nhuận trường xuân. Nghĩa là: Sa bà ác trược phải trầm luân. Phủi sạch trần ai chẳng nhiễm thần. Tâm vật chung nhau trong biển tính. Tịch quang còn mãi, mãi trường xuân. (Hòa thượng Thích Tâm Châu)
(Bài Phất trần của Môn phái Thiếu Lâm Phật Gia Quyền - Đà Lạt có 12 câu thiệu theo 12 số của Thập nhị nhân duyên nhà Phật). 1. Lập bộ trung chính.
2. Tiền bái tổ sư.
3. Thích Ca đăng đàn.
4. Niêm hoa vi tiếu.
5. Phất trần tam giới.
6. Quan Âm phiên vân.
7. Văn Thù vấn lộ.
8. La Hán tảo trần.
9. Đoạn trừ tam độc.
10. Hàng phục ma vương.
11. Quy y ngã Phật.
12. Lập bộ hườn nguyên.
Theo kinh Phật: Thập nhị nhân duyên là giáo lý đặc thù, là cốt lõi của nhân sinh quan Phật giáo, được đề cập nhất quán trong tất cả các kinh điển. Nhận thức rõ về học thuyết Thập nhị nhân duyên sẽ giúp Phật tử hiểu cặn kẽ hơn về các vấn đề khác như nghiệp, luân hồi, tái sinh, nhân quả...
Đà Lạt, 20/9/2023
https://www.facebook.com/profile.php?id=100008883097157

Photos from Y Võ - Khí Công - Phật Gia's post 09/04/2023

YẾN PHI QUYỀN VÀ EMPI
Trương Văn Bảo
Việt Nam và Nhật Bản là hai quốc gia có nền văn hóa võ thuật lâu đời. Tuy cách xa nhau về không gian và địa lý nhưng trong tư tưởng võ thuật, võ đạo có nhiều điểm tương đồng không hẹn trước.
Trong kho tàng Võ học Việt Nam có bài Yến phi quyền, về nội dung, hình thức cũng như xuất xứ rõ ràng, khoa học, thế võ đi theo lời thiệu, giúp người tập dễ dàng nhận dạng những kỹ thuật chiến đấu của bài. Karate Nhật Bản có bài Empi/Enpi (Yến phi). Sự trùng hợp ngẫu nhiên này là điều thú vị khi cả hai bài quyền đều mô phỏng đặc điểm và cách chiến đấu của loài chim én bay (yến phi) theo cách riêng của môn võ mình.
Nghiên cứu về loài chim én/yến, các nhà khoa học tổng hợp một số đặc điểm cho biết rằng én là loài chim nhỏ, cùng họ với chim sẻ, cánh dài, nhọn, chân ngắn, bay rất nhanh, đuôi én chẻ nhọn hình chữ v. Én có khả năng bay liên tục trong không gian từ 12 đến 15 giờ không nghỉ, với quãng đường bay gần 400 cây số. Tiếng Anh dịch từ én/yến là “swallow”.
Tuy là loài chim nhỏ nhưng én có bản năng tự tồn đặc biệt, chiến đấu tìm sự sống, mổ bằng mỏ, vỗ đập bằng cánh, cắt lắc bằng đuôi, có sức nhanh, sức bền và sức chịu đựng mà các loài khác không có được.
Bài Yến phi quyền có nhiều nét độc đáo, mô phỏng các động tác lướt, lách, tránh, thân pháp uyển chuyển, thủ pháp có biên độ rộng, tốc độ nhanh, linh hoạt trong các thế tấn công hay phòng ngự phù hợp với lối đánh của Võ Ta. Trong bài quyền các kỹ thuật tiêu biểu là cạnh bàn tay (cương đao), các đầu ngón tay (thủ chỉ), các ngón tay bấu lại như móng chân chim (ưng trảo) hoặc tượng hình móng cọp (hổ trảo), nắm đấm (thôi sơn), cùi chỏ (phượng dực) kết hợp với các bộ vị trung bình tấn, trảo mã tấn, đinh tấn, hạ mã tấn, hạc tấn và kỹ thuật đá bay (song phi).
Lời thiệu của bài Yến phi quyền viết theo thơ lục bát, cũng như các bài Võ Ta khác, thiệu của bài Yến phi quyền cũng có một vài câu dị bản. Do quan niệm của các võ sư tiền bối là giữ lại những “bí kíp võ công”, chỉ dạy trong dòng tộc, không truyền ra ngoài nên một số bài danh quyền Võ Ta Việt Nam bị mai một, Yến phi quyền cũng không ngoại lệ, vì vậy hiện nay ít người biết Yến phi quyền. Cố võ sư Lê Văn Vân (1954-2009), cựu Trưởng tràng Môn phái Bình Định Sa Long Cương đã dạy và giới thiệu rộng rãi bài Yến phi quyền bằng cách viết sách, quay phim, diễn giải cho các thế hệ môn sinh có tài liệu tham khảo tập luyện.
Lời thiệu Yến phi quyền:
Bước vào biến thế Yến phi
Tam câu tam đả tức thì làm xong
Rồi lại biến thế Thần Đồng
Hồi về yến bãi chực phòng song phi
Phi rồi cuốn cánh nép vi
Lập thế bộ hổ hồi về Triệu Công
Ví dù nó có lướt xông
Thì ta biến thế Phượng hoàng một chân
Bái tổ sư lập như tiền.
(Tài liệu Môn phái Bình Định Sa Long Cương)
Nhật Bản, quốc gia có truyền thống thượng võ với nhiều môn nổi tiếng trên thế giới như Judo, Kendo, Aikido, Jujitsu, Aikijujitsu, Ninjutsu đặc biệt Karate có nhiều hệ phái với hệ thống quyền pháp phong phú. Trùng hợp với Võ Ta Việt Nam, Karate Shotokan-Ryu có bài quyền (Kata) Empi. Kata nghĩa là bài quyền hay khuôn mẫu, kata không phải là các động tác múa mà chính là các bài mẫu vận động chiêu thức thể hiện các nguyên lý chiến đấu trong thực tế. Empi nói lên sự chiến đấu, phản xạ tránh, né lanh lẹ của loài chim én. Trong bài có nhiều động tác bắt tóm (cầm nã) đối phương rồi quăng ra xa hoặc nhoài người phóng theo tấn công như én lượn, có đủ các tầm đánh thượng (jodan), trung (chudan) và hạ đẳng (gedan) uy lực, dũng mãnh.
Sách, báo, phim ảnh trình chiếu về bài Empi rất nhiều, nhất là trong các giải thi đấu quốc tế, nhiều vận động viên biểu diễn và phân thế (bunkai) bài Empi rất xuất sắc. Tài liệu của các chuyên gia võ học Nhật Bản viết: “Enpi hay Empi (Yến phi - Én phi) là bài kata (quyền) của hệ phái Shotokan và cũng được các hệ phái Karate khác trên thế giới tập luyện. Empi có nghĩa là Én bay. Empi có nguồn gốc từ Okinawa của Tomari-te, lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1683, được cho là có ảnh hưởng từ võ thuật Thiếu Lâm Trung Quốc. Ban đầu có tên gọi là Wansu. Những năm 1920 về sau, khi đến đất liền Nhật Bản, Giáo sư Funakushi Gichin đổi tên là Empi với nỗ lực làm cho môn võ từ Okinawa trở thành môn võ mang tính truyền thống và đặc thù Nhật Bản để dễ truyền bá trong cộng đồng quốc gia. Các lý thuyết về bài kata này được chấp nhận phổ biến về sự sáng tạo và phát triển là Sappushi Wang Ji, một quan chức từ Xiuning truyền đạt khi đang phục vụ tại đảo Okinawa. Truyền thuyết kể rằng Wang Ji có thói quen ném và nhảy vào đối thủ của mình. Bởi vì các hình thức năng động của bài kata chiến đấu này giống như một con chim én bay.
Những kỹ thuật chính trong bài Empi:
- Tấn pháp (tachi-hô): Tấn nghiêm (heisoku-dachi), tấn chuẩn bị (hachiji-dachi), tấn trước (zenkutsu-dachi), tấn kỵ mã (kiba-dachi), hạc tấn (tsuruashi-dachi), tấn sau (kokutsu-dachi).
- Kỹ thuật tay (te-waza): Đấm móc (kagi-zuki), đấm trung đẳng (seiken chudan-zuki), đấm hạ đẳng (seiken gedan-zuki), đấm liên hoàn (ren-zuki), đấm nghịch (gyaku-zuki), vật - ném - quăng (nageru).
- Kỹ thuật đỡ (uke-waza): Đỡ quét hạ đẳng (gedan barai-uke), đỡ thượng đẳng từ ngoài vào trong bằng cạnh ngoài cánh tay (jodan haito-uke), đỡ trung đẳng bằng cạnh tay đứng (chudan tate shuto-uke), đỡ trung đẳng bằng cạnh bàn tay (chudan shuto-uke), đỡ trung đẳng bằng ức bàn tay (chudan teisho-uke), đỡ ép hạ đẳng bằng ức bàn tay (gedan teisho osae-uke).
- Kỹ thuật chân (ashi-waza): Dùng chân giậm, đạp, chấn…(fumikomi).
Võ thuật là khoa học và nghệ thuật, ẩn chứa triết lý sống sâu xa. Dù là Yến phi quyền của Võ Việt Nam hay Empi của Karate Nhật Bản cũng đều mang thông điệp gửi cho người tập những kỹ năng, kỹ xảo và sự khôn ngoan tự nhiên của loài chim bé nhỏ. “Hãy bắt chước con chim đậu trên cành liễu yếu, nó biết cành sắp gãy, nhưng vẫn vui vẻ hót, vì biết rằng mình vẫn còn đôi cánh” (Victor Hugo 1802-1885)
Đài Truyền hình Đối ngoại Việt Nam (VTV4) đã làm phóng sự bài Yến phi quyền Việt Nam và Empi Nhật Bản với Liên đoàn Võ thuật cổ truyền tỉnh Lâm Đồng tại Đà Lạt ngày 25 tháng 10 năm 2015.
Đà Lạt, 4/9/2023 - TVBảo

Photos from Y Võ - Khí Công - Phật Gia's post 03/07/2023

LIÊN ĐOÀN VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
Võ Phái _ THIẾU LÂM PHẬT GIA QUYỀN BÌNH DƯƠNG

THÔNG BÁO TUYỂN SINH
“ tại Các Câu lạc bộ, Điểm tập trên toàn tỉnh Bình Dương năm 2023”

I. THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT:
1. Phường Hòa Phú 01 – Sân Uỷ Ban Nhân Dân Phường HÒA PHÚ.
- Tập luyện lúc 18h00 – 20h00 các thứ 3; 5; 7 hàng tuần tại Uỷ ban Nhân Dân phường Hòa Phú, đường TL5 - Võ Nguyên Giáp, Khu phố 1, phường Hòa Phú, Tp. Thủ Dầu Một (Thành Phố Mới).
- Chuẩn Võ sư Nguyễn Thế Huy - Đt: 08. 3456. 2384 – 03456. 05386 (zalo).

2. Phường Hòa Phú 02 – Sân NHÀ Ở ĐÔ THỊ BECAMEX HOÀ LỢI.
- Tập luyện lúc 18h30 – 20h00 các thứ 2; 4; 6 hàng tuần tại Block B3, Khu Nhà ở Đô thịBecamex Hòa Lợi, Khu phố 1, phường Hòa Phú, Tp. Thủ Dầu Một (Đường Lê Lợi).
- HLV Ngô Bích Thuỳ Điện thoại: 0983. 417. 647 (zalo).

II. THỊ XÃ BẾN CÁT:
1. Phường Chánh Phú Hòa – Võ Đường Lê Lợi _Bình Dương.
- Tập luyện lúc 18h00 - 19h30 các thứ 3; 5; 7 hàng tuần tại Võ Đường Lê Lợi, đường CPH 031, khu phố 9, phường Chánh Phú Hòa, Tx.Bến Cát.
- Võ Sư Lê Đình Minh Điện thoại: 0988. 869. 145 (zalo).
- https://www.facebook.com/thieulamphatgiaquyenbinhduong.vn

2. Phường Hòa Lợi - KHU ĐÔ THỊ RICK HOME 2
- Tập luyện lúc 18h30 - 20h00 các thứ 3; 5; 7 hàng tuần tại Khu đô thị RichHome 2, khu phố An Lợi, phường Hòa Lợi, Tx.Bến Cát. (Ngã 3 Bến đồn)
- HLV Ngô Bích Thuỳ Điện thoại: 0983. 417. 647 (zalo).

3. Xã Phú An - TRƯỜNG TIỂU HỌC HỒ HẢO HỚN
- Tập luyện lúc 18h00 – 20h00 các thứ 2; 4; 6 hàng tuần tại Sân trường Tiểu học Hồ Hảo Hớn, xã Phú An, Tx.Bến Cát (Đường ĐT 744).
- Chuẩn Võ sư Nguyễn Thế Huy Đt: 08. 3456. 2384 – 03456. 05386 (zalo).

III. HUYỆN PHÚ GIÁO :
1. Xã Phước Hòa - TRUNG TÂM VH - TT CTY CAO SU PHƯỚC HOÀ
- Tập luyện lúc 18h00 - 19h30 các thứ 3; 5; 7 tại Trung Tâm Văn Hóa – Thể Thao Cty Cao Su Phước Hoà, xã Phước Hòa, huyện Phú Giáo.
- HLV Lâm Chành Đa Điện thoại: 0979. 449. 895 (zalo).

IV. THÀNH PHỐ TÂN UYÊN :
1. Phường Tân Phước Khánh 01 – VÕ ĐƯỜNG TÂN KHÁNH.

- Việt Võ đài (đối kháng):
- Ca N1: 09h00 - 10h30
- Ca N2: 15h00 - 16h30
 Các thứ 2; 3; 4; 5

- Võ Cổ Truyền Việt Nam & Thiếu Lâm Phật Gia Quyền:
- Ca T1: 18h00 - 19h30
- Ca T2: 19h30 - 21h00
Tối thứ 2; 4; 7
- Chuẩn Võ sư Võ Hoàng Nam Điện thoại: 0944. 468. 962 (zalo).
Số 10/5, khu phố Khánh Hoà, phường Tân Phước Khánh, Tp. Tân Uyên

2. Phường Tân Phước Khánh 02 - Trường Tiểu Học TÂN PHƯỚC KHÁNH A.
- Tập luyện lúc 17h30 – 19h00 các thứ 3; 5; (+) hàng tuần tại Sân trường Tiểu học Tân Phước Khánh A, phường Tân Phước Khánh , Tp. Tân Uyên.
- Chuẩn Võ sư Võ Hoàng Nam Điện thoại: 0944. 468. 962 (zalo).

3. Phường Tân Vĩnh Hiệp 01 - Trường Tiểu Học Tân Vĩnh Hiệp A.
- Tập luyện lúc 17h30 - 19h00 các thứ 2; 4; (+) hàng tuần tại Sân trường Tiểu học Tân Vĩnh Hiệp A, phường Tân Vĩnh Hiệp, Tp. Tân Uyên.
- HLV Trần Tú My Điện thoại: 0944. 468. 962 (zalo). (Thầy Nam)

4. Phường Tân Vĩnh Hiệp 02 - TrườngTHCS Nguyễn Quốc Phú.
- Tập luyện lúc 19h00 - 20h30 các thứ 3; 5; (+) hàng tuần tại Sân trường Trung học Cơ sở Nguyễn Quốc Phú, phường Tân Vĩnh Hiệp, Tp. Tân Uyên.
- HLV Nguyễn Thanh Vy Điện thoại: 0944. 468. 962 (zalo). (Thầy Nam)

Want your school to be the top-listed School/college in New York?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Website

Address


Shaolin Buddha Kungfu
New York, NY
36061