Dịch Lý Hà Lạc Phái

Dịch Lý Hà Lạc Phái

Share

Từ Nơi Sâu Xa - Tự Có Thiên Ý

13/06/2025

Tuyển Sinh Khoá TỬ VI DỊCH SỐ

- Lịch Học: Tối Thứ 6 ( 21 Giờ ) - Hàng Tuần

- Khai Giảng: Ngày 20 - Tháng 6 - Năm 2024

- Tổng Số Buổi: 20 Buổi

- Hình Thức: Học Online - Google Meet

- Đối Tượng: Dành Cho Các Bạn Mới

- Học Phí: Tuỳ Tâm

- Hình Thức Đăng Ký: Bình Luận "Email" Để Nhận Thông Tin Lớp Học

- Nội Dung:

--- Chương 1: DỊCH LÝ ---

+ Âm Dương - Ngũ Hành
+ Hà Đồ - Lạc Thư
+ Thiên Can - Địa Chi
+ Kinh Dịch - Bốc Dịch
+ Cấu Trúc 64 Quẻ Dịch
+ Lịch Pháp Cơ Bản
+ Vị Thế - Thời Không
+ Gieo Quẻ Mai Hoa - Lục Hào

--- Chương 2: Tử Vi Dịch Số ----

+ Phương Pháp An Sao
+ Cung Vị Chức Năng
+ Cung Vị Lục Thân
+ Khí - Hình - Thanh
+ Ngũ Hành Tinh Diệu
+ Hào Vị Tinh Diệu
+ Đại Vận - Tiểu Vận
+ Nguyệt Vận - Nhật Vận

Photos from Dịch Lý Hà Lạc Phái's post 15/01/2025

Tổng kết kiến thức khoá Bói Dịch.

Video khoá học được đính kèm dưới bình luận.

Kinh Dịch

Dịch Lý Hà Lạc

Mai Hoa Dịch Số

Lục Hào Bốc Dịch

Bát Tự Hà Lạc

Photos from Dịch Lý Hà Lạc Phái's post 15/01/2025

Tổng kết kiến thức cơ bản của khoá học Tử Vi.

Video khoá học được đính kèm dưới bình luận.

Trung Châu Tử Vi Đẩu Số.

22/09/2024

--- TRIẾT LÝ HUYỀN HỌC PHƯƠNG ĐÔNG ---

- Lịch Học: Tối Thứ 4 ( 21 Giờ ) - Hàng Tuần

- Khai Giảng: Ngày 29 - Tháng 01 - Năm 2025 ( Ất Tị )

- Tổng Số Buổi: Kéo Dài 5 Năm

- Hình Thức: Học Online - Google Meet

- Đối Tượng: Dành Cho Những Bạn Yêu Thích Các Môn Huyền Học Phương Đông

- Học Phí: 25.000.000 VNĐ ( Hai Mươi Lăm Triệu Việt Nam Đồng )

- Hình Thức Đăng Ký: Bình Luận hoặc Nhắn Tin ( Inbox ) Trực Tiếp Cho Trang ( Page ): "Dịch Lý Hà Lạc Phái"

- Nội Dung: Tìm hiểu triết lý đại đa số các môn huyền học phương Đông, sau đó sẽ nghiệm lý Tử Vi Đẩu Số và Đông Y.

* Vũ Trụ Thời Không
+ Thiên Văn
+ Lịch Pháp
+ Chiêm Tinh

* Dịch Lý
+ Kinh Dịch
+ Bốc Dịch

* Tam Thức
+ Thái Ất
+ Kỳ Môn
+ Lục Nhâm

* Mệnh Lý
+ Tử Vi Đẩu Số
+ Bát Tự Tứ Trụ
+ Hà Lạc Lý Số
+ Quỷ Cốc Toán Mệnh
+ Quẻ Dịch Nhân Mệnh

* Phong Thủy
+ Loan Đầu
+ Bát Trạch
+ Phi Tinh
+ Đại Quái
+ Dịch Quái

Photos from Dịch Lý Hà Lạc Phái's post 24/12/2023

Bộ sách này du nhập vào Việt Nam đã lâu nhưng chẳng được mấy người quan tâm.

Khoá học mới của tôi về Trung Châu Tử Vi sẽ giúp cho các bạn tự xem được lá số của mình và người thân.

Việc luận Mệnh và đoán Vận Hạn trở nên đơn giản hơn bao giờ hết.

Nhanh tay đăng ký vào lớp nha mọi người. 👍

Lớp khai giảng ngày 31 tháng 1 năm 2024, thời gian học lên đến 40 buổi nhưng mức học phí lại cực kì tốt, chỉ với 800k.

Photos from Dịch Lý Hà Lạc Phái's post 18/12/2023

TUYỂN SINH KHOÁ: TRUNG CHÂU TỬ VI ĐẨU SỐ - SƠ TRUNG CẤP

- Khai Giảng: 21 Giờ ( 9h Tối ) - Ngày 30 - Tháng 1 - Năm 2024

- Lịch Học: Tối Thứ 3 ( 21 Giờ ) - Hàng Tuần

- Dự Kiến: 40 Buổi ( 10 Tháng )

- Hình Thức: Học Online - Google Meet | Có Lưu Video Xem Lại.

- Đối Tượng: Dành Cho Các Bạn Mới Nhập Môn

- Học Phí: 800.000 VNĐ ( Tám Trăm Ngàn Việt Nam Đồng )

- Hình Thức Đăng Ký: Bình Luận hoặc Nhắn Tin ( Inbox ) Trực Tiếp Cho Trang ( Page ): "Dịch Lý Hà Lạc Phái"

- Nội Dung:

+ Hệ thống luận mệnh vận của TRUNG CHÂU TỬ VI gần như là hoàn thiện nhất.

+ Với sự phát triển của cả 2 hệ thống lý luận là Tam Hợp và Tứ Hoá đã tạo nên nét đặc trưng riêng biệt của Trung Châu Tử Vi Đẩu Số.

+ Lý luận của Tam Hợp là sự "va chạm" lý tính của các Tinh Diệu với nhau, tạo nên sự sinh khắc chế hoá vô cùng kỳ diệu.

+ Lý luận của Tứ Hoá là sự "biến hoá" của Cung, Tinh và Tượng, tạo nên sự liên kết của các dữ kiện mệnh vận vô cùng vi diệu.

+ Điều tối quan trong của Tử Vi Đẩu Số là chứng nghiệm, sở dĩ có tinh hệ và tính chất của các sao, thực ra cũng là do người xưa chứng nghiệm rồi ghi chép lại. Ta nên căn cứ vào tình hình sinh hoạt của xã hội hiện đại, để bổ sung chứng nghiệm của người xưa, từ đó sự chứng nghiệm của "Tử Vi Đẩu Số" mới giữ được sự chính xác theo thời gian.

22/11/2023

Khảo sát Lịch sử về chiêm bốc, thì "cỏ thi" đã thay thế cho "mai rùa". Trên thực tế, ngoài ghi chép của Khổng Tử ra, không có phương pháp bói "cỏ thi" nào khác, được ghi chép lại.

Tới tận đời Đường, thời gian có tới hơn hai ngàn năm. Một cuộc cách mạng đã làm thay đổi thời gian Bốc quẻ, khi thay thế Ba đồng tiền để tiến hành lắc quẻ.

Theo thời gian, Bốc dịch lại sản sinh ra một cuộc cách mạng trọng đại nữa, cho tới khi xuất hiện Thiệu Ung. Ông cho rằng: "Thần sinh Số, Số sinh Tượng, Tượng sinh Khí". Được gọi là Khang Tiết Thần số.

Thời Tam quốc, Vương Bật, một người thanh niên đề xướng tư tưởng trị dịch: "đắc ý quên tượng". Thì Dịch học đã chuyển từ Chiêm Bốc sang Triết học. Trường phái Nghĩa - Lý đã thay thế Dịch Số thời nhà Hán.

Cho tới ngày hôm nay, Bốc Dịch cần Khoa Học, hiện đang là thời mà Khoa Học không cần Chiêm Bốc.

20/11/2023

Thông qua các chương Thiên Văn, Lịch Pháp, Dịch Học với Âm Dương Ngũ Hành, chúng ta biết rằng dấu tích của các môn Thuật Số chiêm đoán số mệnh vốn có nguồn gốc cơ sở liên quan chặt chẽ đến các khoa nói trên.

Từ thời nhà Hán (202 TCN – 220 CN) cho đến thời Tam Quốc (220 – 280), trong bối cảnh các cơ sở lý thuyết cần thiết đã phát triển mạnh mẽ thì dĩ nhiên các môn thuật số đã có cũng phát triển sang một giai đoạn mới, đồng thời các môn thuật số khác cũng lần lượt xuất hiện.

Thí dụ như môn Lục Hào Chiêm Bốc sau thời Kinh Phòng đã dùng 3 đồng tiền để gieo quẻ, đã dùng thêm các thuyết như Nạp Giáp, Trang Chi và các lý luận về Tượng Số,...

Trong giai đoạn cực thịnh của Dịch Học Tượng Số, Thiên Văn Lịch Pháp và Âm Dương Ngũ Hành thời nhà Hán, các môn thuật số mới xuất hiện nổi bật nhất phải kể đến là Thái Ất, Độn Giáp và Lục Nhâm, ba môn này tương thông với nhau và được gọi là Tam Thức. Đối tượng dự đoán của 3 môn này được phân ra theo Tam Tài, việc lớn từ khí số hưng vong của quốc gia, thiên tai, địch họa, chiến tranh, dịch bệnh, cơ cấu chính trị đối nội đối ngoại, hành binh bố trận, địa hình địa lý,... cho đến các việc vừa và nhỏ như cầu danh, cầu tài, khai trương, động thổ, xây dựng, chôn cất, cưới gả,... Về cấu trúc thì đại để là đem các thông số thời gian năm tháng ngày giờ, chú trọng đến Thái Dương Lịch (theo Tiết Khí là chính, mặc dù vẫn dùng Âm Dương hợp lịch), để mà lập quẻ, định cục, an các sao các thần sát lên thiên địa bàn (các sao gồm có cả Kinh tinh lẫn Vĩ tinh, có các sao thực như chiêm tinh thời trước, lại có cả những giả tinh tượng trưng định tính định lượng của Âm Dương Ngũ Hành). Cái học về 3 môn này quả thực là rất phức tạp, đòi hỏi người học phải tinh thông Toán pháp trong Thiên Văn Lịch pháp, mà Toán pháp cổ thì vốn đã khó (thí dụ như bài toán “Hàn Tín điểm binh” mà đưa cho sinh viên khoa Toán ngày nay giải thì cũng toát mồ hôi chứ chẳng chơi), hơn nữa nó liên quan đến sự cấm kị tuyệt đối là tính toán đến hưng vong của quốc gia, thể chế chính trị, sơ miệng sảy mồm có khi mất đầu cả họ. Thành ra bí truyền rồi tản mát, người tinh thông trong cả 2 ngàn năm tính đến nay cũng chỉ đếm được trên đầu ngón tay, trong đó ở Việt Nam có đại diện là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ngay như uyên thâm bác học Lê Quý Đôn tuy trước tác để lại cho hậu thế cuốn “Thái Ất dị giản lục” nhưng ông cũng không có thành tựu gì đáng kể trong việc ứng dụng môn này, ông chỉ thành tựu với ứng dụng Địa Lý Phong Thủy mà thôi.

19/11/2023

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU XU HƯỚNG NGHIÊN CỨU KINH DỊCH NGÀY NAY

--- PHẠM VĂN THẮM ---

Kinh Dịch là một trước tác kinh điển cổ xưa của dân tộc Trung Hoa có ảnh hưởng rất sâu rộng trong đời sống văn hóa ở Trung Quốc và các nước ở trong khu vực như Việt Nam, Nhật Bản và Triều Tiên.

Việc nghiên cứu Kinh Dịch đã trở thành một bộ môn chuyên ngành, gọi là Dịch học. Dịch học đã trải qua 2 nghìn năm lịch sử, hình thành ra nhiều học phái, đến nay vẫn phát triển. Ảnh hưởng của Kinh Dịch đối với nền triết học, tôn giáo, khoa học, văn học nghệ thuật, đời sống chính trị của Trung Quốc là sâu sắc.

Để góp phần tìm hiểu tác phẩm này, chúng tôi trình bầy một số xu hướng nghiên cứu về tác phẩm này như sau:

1- Một số vấn đề đã và đang được nghiên cứu trong Kinh Dịch

1.1- Niên đại tác phẩm Chu Dịch

Chu Dịch do Dịch kinh và Dịch truyện hợp thành. Về niên đại của tác phẩm này, Tư Mã Thiên trong Khổng Tử thế gia sách Sử ký cho rằng Kinh Dịch do Khổng tử sáng tác, ảnh hưởng rất sâu rộng. Đến Âu Dương Tu (1007-1072) viết Dịch đồng tử vấn đã nghi ngờ Hệ từ không phải Khổng Tử viết ra thì các nhà nghiên cứu đã rất chú ý tới niên đại của Chu Dịch. Qua các tài liệu khảo cổ mới phát hiện được và sự cố gắng khảo cứu, các học giả đại thể nhất trí cho rằng Dịch kinh ra đời vào khoảng đầu thời Tây Chu (Thế kỷ XI. TCN - 771 TCN). Dịch truyện ra đời khoảng thời Chiến quốc (403.TCN - 221 TCN). Nội dung hai tác phẩm này có sự khác biệt, nhưng giữa chúng có mối liên hệ, đó là truyện giải thích kinh. Từ Dịch kinh đến Dịch truyện có quá trình hơn 700 năm, từ đây các nhà nghiên cứu có thể nhận thấy tiến trình phát triển tư tưởng của người Trung Quốc thời Tiên Tần.

1.2- Mối quan hệ giữa Dịch kinh và Dịch truyện

1.2.1- Dịch kinh

Dịch kinh là sách bói có 64 quẻ. Mỗi quẻ có hào âm và hào dương hợp thành. Hào âm được ký hiệu bằng một nét đứt (- -), hào dương được ký hiệu bằng một nét liền (一 ). Có nhiều cách giải thích khác nhau về nguồn gốc ra đời của hào âm và hào dương. Nhưng xét trên phương diện sự vật mang tính chất đối lập và sự biến hóa tụ hợp sắp xếp giữa chúng thì thấy những ký hiệu này được dùng để thể hiện sự khái quát các loại hiện tượng xẩy ra trong giới tự nhiên và xã hội loài người. Người xưa đã khái quát tự nhiên thành 8 loại là Trời, Đất, Sấm, Núi, Lửa, Nước, Đầm, Gió và đặt tên cho mỗi loại là Càn, Khôn, Chấn, Cấn, Ly, Khảm, Đoài, Tốn.

Dịch kinh là sách bói mang đậm sắc thái duy tâm.

Nhưng trong một số hào người ta cũng nhận thấy có hạt nhân của phép biện chứng thời nguyên thủy ví dụ :
- Quẻ Sư, hào sơ lục có câu: 師出以律 , 否臧 , 凶 = sư xuất dĩ luật phẫu tàng, hung (Quân đội hành động có kỷ luật, nếu không sẽ nhận thất bại). Đây là sự tổng kết kinh nghiệm thành công và thất bại trong chiến tranh, được ghi lại dưới hình thức tư duy trìu tượng. Các quẻ Thái với quẻ Bĩ, quẻ Tổn với quẻ Ích, quẻ Ký Tế với quẻ Vị Tế được coi là các quẻ trái ngược nhau. Điều này chứng tỏ Kinh Dịch coi quan hệ mâu thuẫn là quan hệ tồn tại phổ biến khách quan, không mất đi qui phạm trong phương pháp tư duy biện chứng nguyên thủy. Quẻ Thái, hào cửu Tam có câu: 無平不陂 , 無往不復 = vô bình bất ba, vô vãng bất phục. Điều này chứng tỏ khái niệm đối lập bằng với không bằng; vãng, phục (bước đi, trở lại) liên hệ với nhau, là tính tất nhiên của sự chuyển hóa tương hỗ ấy. Quẻ Càn, hào cửu tam có câu: 君子終日乾乾,夕惕若無咎。勵無咎 = Quân tử chung nhật càn càn, tịch dịch nhược vô cữu, lệ vô cữu. Câu này chỉ người quân tử hàng ngày phấn đấu chăm chỉ công tác, tối về lại suy ngẫm răn giới, tuy ở vào hoàn cảnh nguy khốn thì cũng không lo lắng gì. Điều này nói lên con người cần phát huy tính năng động có cách nghĩ chuyển nguy làm an...

1.2.2- Dịch truyện.

Dịch truyện có 7 loại 10 thiên gồm:
- Thoán thượng hạ
- Tượng thượng hạ
- Văn ngôn
- Hệ từ thượng hạ
- Thuyết quái
- Tự quái
- Tạp quái.

Người Hán gọi đây là thập dực (10 cánh). Dực mang nghĩa phụ giúp.

So với Dịch kinh thì đặc điểm của Dịch truyện là triết lý hóa sách bói thời cổ đại. Khuynh hướng giải thích Dịch bắt đầu từ thời kỳ Xuân Thu. Đến thời Chiến Quốc, theo sự hình thành và phát triển các thuyết của Chư Tử thì các thuyết của Âm dương gia, quan niệm về luân lý của Nho gia, Thiên đạo quan của Đạo gia đang lưu hành ở đời lúc bấy giờ trở thành tư tưởng chỉ đạo cho việc giải thích Dịch. Dịch truyện có 2 loại ngôn từ, một là ngôn từ bói toán, hai là ngôn từ triết học. Về ngôn từ bói toán, sách Trang Tử, thiên thiên hạ nói về âm dương trong Chu Dịch. 一陰一陽之謂道 , 繼之者善也 , 成之者性也。仁者見之謂之仁 , 智者見之謂之智 , 百姓日用而不知 , 君子知道鮮矣 = nhất âm nhất dương chi vị đạo. kế chi giả thiện dã, thành chi giả tính dã. Nhân giả kiến chi vị chi nhân, trí giả kiến chi vị chi trí. Bách tính nhật dụng nhi bất tri. Quân tử tri đạo tiển hĩ.

Mệnh đề 一陰一陽 là nói trong âm có dương, trong dương có âm, âm có thể biến thành dương, dương có thể biến thành âm.. Đó là qui luật phàm người nào kế thừa được qui luật này là hoàn thiện. Ai có đầy đủ nhất âm nhất dương 一陰一陽 là bản tính hoàn thiện. Nói chung người ta ít ai thấy được 2 mặt âm dương; hoặc thấy nhân mà không thấy trí; hoặc thấy trí mà không thấy nhân. Mỗi người lấy cái điều mình biết để nói về cái tồn tại. Người hiểu được qui luật nhất âm nhất dương 一陰一陽 không nhiều.

Về đại thể âm dương trong Dịch truyện có 3 phương diện:

1- Đem nguyên lý cơ bản trong Chu Dịch khái quát thành nhất âm nhất dương:
- Nói về nét quẻ, 2 số kỳ ngẫu (奇偶二數), âm dương nhị hào (陰陽二爻), càn khôn lưỡng quẻ (乾坤兩卦) đều là nhất âm nhất dương.
- Nói về 6 quẻ thì có Chấn, Khảm, Cấn (震, 坎, 艮) là quẻ dương, Tốn, Ly, Đoài (巽, 离, 兌) là quẻ âm. 2 loại quẻ này đối lập nhau tạo nên nhất âm nhất dương.
- Nói về 64 quẻ thì do 32 quẻ đối lập tạo nên cũng là nhất âm nhất dương.
- Trong một quẻ cũng có cương nhu, trên dưới, qua lại cũng là nhất âm nhất dương.

2- Đem tính chất của sự vật và qui luật biến hóa của nó để qui vào nhất âm nhất dương. Nói về việc giải thích phép bói cỏ thi khi đơn cử sự việc trong hệ từ thì hàm nghĩa âm dương của rất rộng bao gồm cả hiện tượng tự nhiên đến cuộc sống của nhân loại.

- Hàm nghĩa của dương bao gồm: 天, 日, 暑, 畫, 剛, 進, 健, 明, 辟, 伸, 貴, 男, 君, 君子.

- Hàm nghĩa của âm bao gồm: 地, 月, 寒, 夜, 柔, 順, 幽, 退, 闔, 屈, 賤, 女, 民, 小人。

Quan hệ giữa chúng là đối lập, nhưng có thể biến thông với nhau như nhật nguyệt đổi nhau, hành động khi khuất khi hiện. Loại biến hóa này là nhất âm nhất dương.

3- Nhất âm nhất dương chi vị đạo (一陰一陽之謂道) là thừa nhận sự vật đều có lưỡng trùng tính, là đại biểu cho lưỡng điểm luận trong triết học cổ đại. Mệnh đề nhất âm nhất dương chi vị đạo (一陰一陽之謂道) có nguồn gốc từ Tây Chu, từ việc luận bàn sự vật cụ thể, như sự biến hóa của 2 khí ấm, lạnh trong thiên văn học, sự đầy vơi của mặt trời mặt trăng, sự lộ diện hay ẩn nấp trong binh pháp đã được trìu tượng thêm một bước để trình bầy bề ngoài phạm trù mang tính chất đối lập, đồng thời chỉ rõ giữa chúng có mối quan hệ chuyển hóa tương hỗ nhau tồn tại. Dịch truyện coi nhất âm nhất dương là qui luật biến hóa và bản tính của sự vật., đó là một cống hiến lớn trong nền triết học cổ đại Trung Quốc.

Dịch truyện coi tự nhiên và xã hội là một chỉnh thể. Nhất âm nhất dương chi vị đạo (一陰一陽之謂道) sử dụng thích hợp với giới tự nhiên và xã hội. Đây là một nguyên tắc bao trùm. Nếu tách ra mà nói thì lập thiên chi đạo là âm và dương; lập địa chi đạo là cương và nhu; lập nhân chi đạo là nhân và nghĩa.
Về ngôn từ triết học trong Dịch truyện.

Dịch truyện nêu lên một hệ thống tư tưởng triết học về nhân đạo, địa đạo, thiên đạo (易之為書也 , 廣大必備 , 有天道焉, 有地道焉, 有人道焉。兼三才而兩之 , 故六。六者非它也 , 三才之道也 = Dịch chi vi thưdã quảng đại tất bị, hữu thiên đạo yên, hữu địa đạo yên, hữu nhân đạo yên, kiêm tam tài nhi lưỡng chi, cố lục. Lục giả phi tha dã (系辭下 = hệ từ hạ).
Xét về nội dung, hệ thống này thể hiện một giai đoạn phát triển mới trong hoạt động nhận thức của con người ở thời đại Chiến quốc. Không giống với bói toán trong Dịch kinh, Dịch truyện tự giác coi nhân đạo, địa đạo, thiên đạo là đối tượng nghiên cứu của mình, muốn dựng lên một hệ thống hoàn bị, rộng lớn bao gồm muôn vàn hiện tượng bao la, tiến hành phân loại thành các mặt đối lập để khái quát về mặt triết học. Thiên địa nhân gọi là tam tài, là cơ sở quan trọng nhất trong vũ trụ, cũng là khái niệm thường dùng trong văn hóa Trung Quốc. Tam tài là âm dương đối lập nhau, hai ba là sáu kiêm tam tài nhi lưỡng chi 兼三才而兩之。 Phản ánh trên hình tượng quẻ là 6 nét một quẻ. Cơ sở kết cấu này không chỉ giống Dịch kinh, có mối liên quan mật thiết đến mê tín bói toán, mà còn là kết quả dựa trên việc quan sát đối với thế giới khách quan. Trong tự quái 序卦 có câu: 有天地 , 然后萬物生焉。盈天地之間維萬物 = hữu thiên địa, nhiên hậu hữu vạn vật sinh yên. Doanh thiên địa chi gian duy vạn vật. Đây là hạt nhân duy vật trong Dịch truyện.
Qua Dịch truyện người ta thấy được trật tự văn hóa dương tôn âm ty cũng như cách nhìn nhận về bậc Thánh nhân. Thánh nhân phải là người nắm chắc Dịch lý (lý lẽ của Dịch).

Như vậy, mối quan giữa Dịch kinh và Dịch truyện là truyện giải thích kinh.

1.2.3- Về chú giải từ ngữ trong Chu Dịch
Vấn đề chú giải từ ngữ trong Chu Dịch là một đề tài được nhiều nhà nghiên cứu rất quan tâm. Ví dụ lời quẻ Càn: 元亨利貞 = nguyên hanh lợi trinh. Theo cách chú giải của Chu Hy 元大也 = nguyên đại dã; 亨通也 = hanh thông dã; 利宜也 = lợi nghi dã; 貞正固也 trinh chính cố dã. Chữ貞 theo truyền thống chú giải là chính, cứng rắn. Gần đây do phát hiện hàng loạt văn giáp cốt, người ta được biết 貞者占也 = trinh giả chiêm dã (trinh nghĩa là xem bói). Mệnh đề 元亨利貞 = nguyên hanh lợi trinh được các nhà nghiên cứu Trần Cổ Ứng và Triệu Kiến Vĩ chú: 元亨謂大順 , 大吉. Nguyên hanh nghĩa là đại thuận đại cát. 利貞 lợi trinh là xem bói [ thì ] có lợi.

2- Các xu hướng nghiên cứu Chu Dịch ngày nay
Bắt đầu từ những năm 70 của thế kỷ XX, giới học thuật rất quan tâm tới việc nghiên cứu Chu Dịch. Có nhiều lý do để lý giải vấn đề này.

Việc nghiên cứu Chu Dịch hiện đang tập trung vào 6 lĩnh vực sau:

1- Khảo cổ Dịch: sử dụng tài liệu mới khai quật được về Chu Dịch để tiến hành nghiên cứu ngọn nguồn của Chu Dịch

2- Khoa học Dịch: từ góc độ khoa học tự nhiên đi sâu tìm hiểu các nhân tố tự nhiên mà hệ thống phù hiệu ẩn chứa trong các hào của quẻ

3- Truyền thống Dịch: theo phương pháp và tư duy Dịch học về nghĩa lý (Tống Nho), tượng số (Hán Nho) tiến hành chú thích, lý giải cách đọc, ở một trình độ nhất định đi tổng hợp, tổng kết thành quả học thuật của các nhà nghiên cứu Chu Dịch trong lịch sử.

4- Lịch sử Dịch: ở góc độ lịch sử, tiếp tục truyền thống của người xưa đã nói lục kinh đều là sử để nghiên cứu sự thực lịch sử hoặc ảnh sạ có quan hệ tới lịch sử mà trong Chu Dịch đã ghi chép.

5- Dự trắc Dịch: theo lời bói trong Chu Dịch cùng với tư tưởng về số mệnh mà người đời sau đã phát triển đưa vào thực tiễn việc tính quẻ.

6- Văn hóa Dịch: tiến hành phân tích giảng giải về mặt lý luận của khoa học văn hóa nhân loại. Qui nạp lời bói ban đầu trong Chu Dịch vào phạm vi bói toán, từ đó đi tìm cội nguồn của văn hóa Trung Hoa, cội nguồn của thuật bói.

17/11/2023

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU TƯ DUY TƯỢNG SỐ TRONG CHU DỊCH

--- LÊ VĂN QUÁN ---

1. Hình thức tư duy của Chu Dịch

Hình thức tư duy của Chu Dịch là dung hợp cả ba loại hình thức tư duy: trực quan, hình tượng và lô - gích.
Tư duy trực quan của Chu Dịch là căn cứ vào lời hào, quẻ ở Dịch kinh đã ghi chép lại kinh nghiệm sinh hoạt của người xưa, đề xuất thể nghiệm cá nhân mà không phải là lý lẽ và nguyên tắc chung. Thể nghiệm này đã trở thành khuôn mẫu cho người đời sau phán định sự vật và suy đoán tương lai. Ưu điểm quan trọng của tư duy trực quan của Chu Dịch là rất coi trọng kinh nghiệm mà không rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm, “hình nhi hạ” và “hình nhi thượng” trực tiếp hợp làm một. Chu Dịch là một hệ thống nhận thức suy đoán xấu, tốt, do năng lực nhận thức của con người lúc bấy giờ có giới hạn, cho nên mang tính thần bí. Do đó, biểu hiện thành một loại tư duy trực giác, được ý quên tượng, siêu lý tính, có tính ngẫu nhiên phi lô - gích, tính đốn ngộ được ý ngoài tượng, tính linh cảm sâu sắc của trực giác.

Tư duy hình tượng của Chu Dịch là lấy tượng quẻ, tượng hào làm tư duy môi giới. Tượng quẻ là nguồn phóng xạ tư duy của Chu Dịch và nói chung tư duy hình tượng thì lấy tượng vật làm nguồn phóng xạ của tư duy. Người xưa sáng tác Chu Dịch thông qua tượng quẻ để dự đoán, phán định sự vật, điều này là mầm mống của tư duy hình tượng.Dịch truyện tổng hợp và phát triển rộng ý nghĩa tượng trưng của tượng bát quái (tám quẻ), đề xuất ý nghĩa tượng trưng về quan hệ lẫn nhau của bát quái, và lấy ý nghĩa tượng trưng đó giải thích 64 quẻ, cho nên ở tượng hào thường chứa đựng những ý nghĩa tiềm ẩn. Tư duy hình tượng Chu Dịch thông qua hệ thống phù hiệu hào quẻ để miêu tả thế giới và nhận thức thế giới.
Tư duy lô - gích của Chu Dịch là tuân theo nguyên tắc lô- gích phân loại, và suy ra tư duy hình thức hóa. Nó khác với tư duy lô - gích hình thức phương Tây. Nó dùng khái niệm phù hiệu tượng quẻ và văn tự lời hào, quẻ để suy lý phán đoán tổng hợp đối tượng, lấy “tốt, xấu, hối hận, đáng tiếc, mất hết”… của khách, chủ, đan xen nhau làm hình thức phán đoán cơ bản.
Tượng quẻ là mô hình tiên nghiệm của lô - gích Chu Dịch. Tượng của tượng quẻ lại khác với tượng trừu tượng, cái sau đã mất phạm trù khái niệm tượng cụ thể, và cái trước là nguồn gốc tượng của muôn vật, muôn việc, lại chứa đựng tượng vật, tượng việc, đã trải qua chỉnh đốn sắp xếp. Về hình thức tư duy đặc biệt này có thể gọi là “Tư duy tượng số”.

2. Tư duy tượng số lấy tượng số làm mô hình tư duy

Mô hình tượng số có thể phân làm ba cấp: cấp thứ nhất, là mô hình quẻ hào; cấp thứ hai, là mô hình Hà đồ Lạc thư (bao gồm ngũ hành); cấp thứ ba, là mô hình Thái cực đồ (hình Thái cực). Ba cấp mô hình có quan hệ cùng chất nhưng khác nhau về kết cấu, có thể chuyển đổi cho nhau, thông thương với nhau. Mô hình Hà Lạc và mô hình Thái cực đồ có thể được coi là giải thích tường tận và phát huy mô hình quẻ hào. Mô hình quẻ hào là mô hình đầu tiên của tư duy tượng số.

Phù hiệu căn bản nhất của mô hình quẻ hào là hào âm (– –), và hào dương ( – ), tổ hợp ba lần của hào âm và hào dương cấu tạo thành bát quái (23 = 😎. Tổ hợp sáu lần hào âm và hào dương sẽ cấu tạo thành 64 quẻ (26 = 64). Sáu mươi tư quẻ cũng có thể được coi là cấu tạo thành bởi lũy thừa 2 của bát quái (82 = 64). Sáu mươi tư quẻ là mô hình cơ sở của Chu Dịch (trong sách Chu Dịch chứa phù hiệu bát quái). Mô hình này chẳng những bao hàm phù hiệu tượng quẻ của 64 quẻ, mà còn bao hàm thứ tự sắp xếp của nó. Lời hào, lời quẻ, và Dịch truyện có thể coi là văn tự giải thích hoặc phát triển tỉ mỉ nội hàm của mô hình này.

Hai quẻ đầu của 64 quẻ là Kiền và Khôn, là nguyên thủy của trời, đất, vũ trụ sinh mệnh, nó là cha mẹ của bầy quẻ, không chỉ có tác dụng quyết định trong vũ trụ muôn vật, mà còn là nguyên nhân tính căn bản của muôn vật vận động biến đổi.

Kiền, Khôn - âm dương đã có ý nghĩa sinh thành luận, cũng có ý nghĩa kết cấu luận, là điểm cơ bản của tư duy tượng số. Ngoài ra, có thể coi 62 quẻ là giao hợp và triển khai của hai quẻ Kiền, Khôn. Nói một cách khác, tức là cứ hai quẻ đơn làm thành một quẻ kép, quẻ sau đối lập với quẻ trước, phản ánh tư tưởng của sự vật chuyển hóa theo mặt phản diện của nó, cũng phản ánh quan hệ nhân quả liên tục trong 64 quẻ. Sáu mươi tư quẻ phân ra kinh thượng, kinh hạ: kinh thượng có 30 quẻ, kinh hạ có 34 quẻ. Kinh thượng nặng về hiện tượng tự nhiên, kinh hạ nặng về hiện tượng thiên văn. Hai kinh thượng hạ lại có thể phân ra nhiều giai đoạn tượng trưng quá trình âm dương tiêu trưởng, thứ tự sự vật biến đổi.
Hai quẻ cuối cùng của 64 quẻ là Ký Tế và Vị Tế, biểu thị rõ muôn vật muôn việc kết thúc của một kỳ và bắt đầu của một chu kỳ. Tuy nhiên đối với thứ tự 64 quẻ có phân đoạn khác nhau và nhận thức khác nhau, nhưng nên coi là một chỉnh thể. Sáu mươi tư quẻ là một hệ thống phù hiệu hoàn chỉnh của qui luật vũ trụ sinh mệnh biến đổi, cũng là mô hình phù hiệu lý tưởng.

3. Phương pháp tư duy tượng số

Phương pháp tư duy tượng số có thể phân chia thành ba loại: phép lập tượng, phép vận số, phép mô hình.

3.1. Phép lập tượng

Phép lập tượng là chỉ phương pháp tư duy trong quá trình tư duy lấy tượng làm công cụ, hiểu và bắt chước khách thể, có người gọi là phương pháp “duy tượng” hoặc phương pháp “ý tượng”. Phương pháp lập tượng là phương pháp quan trọng nhất của Chu Dịch, thậm chí ởDịch truyện, Hệ từ hạ nói: “Dịch giả tượng dã, tượng dã giả tượng dã” - (Dịch là hình tượng, hình tượng là phỏng theo).

Tượng mà phép lập tượng dựa vào là phù hiệu tượng quẻ, tượng quẻ có thể tượng trưng, mô phỏng vũ trụ muôn vật, muôn việc. Nếu như phân chia về mặt tổng thể, thì tượng mà tượng quẻ đã lấy có thể chia thành hai loại: tượng thực và tượng hư. Tượng thật là chỉ thực tại tượng vật có hình. Tượng hư là chỉ nghĩa tượng, lý tượng không có thực thể, trừu tượng. Lời hào, lời quẻ, tên quẻ của Dịch kinh có thể là lần thứ nhất gợi ý lý giải về phép lập tượng của tượng quẻ. Cái điềuDịch truyện gọi là “quan tượng chế khí” - (xem tượng chế tác đồ dùng) và “quan kỳ tượng nhi ngoạn kỳ từ, động tắc quan kỳ biến nhi ngoạn kỳ chiêm”- (xem tượng mà ngẫm nghĩ đến lời văn, khi hoạt động thì xem sự biến hóa của việc mà ngẫm nghĩ đến lời đoán). Điều này nói rõ lấy tượng không chỉ có thể gợi ý mọi người phát minh sáng tạo, mà còn có thể suy đoán sự vật và phát triển xu hướng, mở rộng nguyên tắc xử sự làm người. Dịch truyện cho rằng tượng quẻ thể hiện rõ hình thái, vị trí, tính chất, công năng, văn lý của trời đất tự nhiên, thông qua phép lập tượng có thể hiểu, nhận thức những đặc trưng này của trời đất tự nhiên.

Chu Dịch - Thuyết quái tổng kết và mở rộng ý nghĩa tượng của bát quái. Như quẻ Kiền tượng trưng trời, cha, vua, vàng, ngọc, kiện (vững mạnh), hàn…. Quẻ Khôn tượng trưng đất, mẹ, cái búa, vải, bò, thuận, quân 😊 đều)… Trong đó kiện, hàn của Kiền, thuận, quân của Khôn là tượng nghĩa lý, là tượng thuộc tính của Kiền, Khôn, là tượng hư; ngoài ra đều là tượng thực.

Phương pháp Dịch học mô phỏng tượng là lấy tượng hào, tượng quẻ và Dịch đồ làm nguồn phóng xạ, lấy ấn tượng muôn vật ở trong trí não con người làm môi giới trung gian, đối chiếu tượng hào với ấn tượng, thông qua ấn tượng khiến cho tượng hào, tượng quẻ cùng liên hệ với tượng của vũ trụ muôn vật. Loại lập tượng này chẳng những chỉ là mô tả cụ thể tượng thực, chẳng những chỉ là so sánh kết cấu hình tượng bên ngoài, mà còn là điều quan trọng, xuất phát từ công năng, thuộc tính. Phàm là công năng, thuộc tính giống nhau, mặc dù kết cấu, hình thái tượng vật khác nhau, nhưng cũng có thể quy thuộc vào cùng loại, nạp vào cùng một tượng quẻ.

3.2. Phép vận số

Phương pháp tư duy vận số của Chu Dịch là chỉ phương pháp lấy số làm môi giới, nhận thức, suy đoán hoặc dự đoán sự vật và phát triển biến đổi. Số của Dịch học chủ yếu gồm có:

a/ Số trời đất: trời 1, đất 2; trời 3, đất 4; trời 5, đất 6; trời 7, đất 8; trời 9, đất 10. Số trời có 5, số đất có 5. Số trời tổng hòa là 25, số đất tổng hòa là 30, số trời đất tổng cộng là 55.

b/ Số đại diễn: số đại diễn là 50, rút ra “một” là thái cực, chia hai tượng trời đất hai nghi; treo một tượng người (hợp với trời đất gọi là tam tài), kẹp bốn để tượng bốn mùa, dành số lẻ để tượng nhuận. Số thẻ của Kiền là 216, số thẻ của Khôn là 144, cộng là 360, đó là số ngày của một năm. Trải qua bốn lần tráo trộn mà thành biến đổi, mười tám lần biến đổi mà thành quẻ.

c/ Số hào: sau khi kẹp cỏ thi, bốn lần tráo trộn, ba lần biến đổi sẽ được con số là: 6, 7, 8, 9; 6 là thái âm, 8 là thiếu âm, 7 là thiếu dương, 9 là thái dương. Lấy 9, 6 đại biểu hào dương và hào âm. Lấy sơ, nhị, tam, tứ, ngũ, thượng lần lượt đại biểu vị trí sáu hào. Một quẻ có sáu hào ghi là: sơ lục (hào thứ 1, âm), lục nhị (hào thứ 2, âm), lục tam (hào thứ 3, âm), lục tứ (hào thứ 4, âm), lục ngũ (hào thứ 5, âm), thượng lục (hào thứ 6, âm); sơ cửu (hào thứ 1, dương), cửu nhị (hào thứ 2, dương), cửu tam (hào thứ 3, dương), cửu tứ (hào thứ 4, dương), cửu ngũ (hào thứ 5, dương), thượng cửu (hào thứ 6, dương).

d/ Số quẻ: chia số thứ tự của 64 quẻ và số thứ tự của bát quái, theo cách chia thông dụng thì Kiền là số 1, đến quẻ Vị Tế là số 64; số thứ tự của bát quái không có trong Chu Dịch. Đời Bắc Tống, Thiệu Ung xây dựng số của Tiên thiên bát quái: Kiền số 1, Đoài số 2, Ly số 3, Chấn số 4, Tốn số 5, Khảm số 6, Cấn số 7, Khôn số 8. Số của Hậu thiên bát quái: Ly số 9, Khảm số 1, Chấn số 3, Đoài số 7, Khôn số 2, Tốn số 4, Kiền số 6, Cấn số 8, số 5 ở giữa; còn có số của Tiên thiên lục thập tứ quái.

e/ Số Hà Lạc: theo quan điểm của Chu Hy, … Lạc Thư cấu tạo bởi 9 số: đầu đội 9, chân đạp 1; bên trái 3, bên phải 7; 2, 4 là vai; 6, 8 là chân; số 5 ở giữa. Hà đồ cấu tạo bởi 10 số: 1, 6 ở phía Bắc; 2, 7 ở phía Nam; 8, 3 ở phía Đông; 4, 9 ở phía Tây; 5, 10 ở giữa.

Ở Chu Dịch, tượng và số gắn chặt với nhau không thể chia tách. Có người cho rằng “tượng” thiên về định tính, “số” thiên về định tinh (sao), nhưng xét về bản chất, số trong phép vận số của Chu Dịch quyết không phải thuần túy biểu thị số lượng, mà mang rất nhiều đặc trưng của tượng, tức là càng thiên về định tính.

Như số lẻ là số trời, là dương; số chẵn là số đất, là âm. ở trong số đại diễn, số 1 là thái cực, số 2 là lưỡng nghi, số 4 là bốn mùa, số 9, 6 là thái dương, thái âm. Số hào biểu thị vị trí và tính chất của hào. Số quẻ không chỉ đại biểu thứ tự của quẻ, mà còn đại biểu vị trí, thuộc tính của quẻ. Số Hà Lạc càng có nhiều tính chất và công năng của ngũ hành.

Sự thống nhất tượng và số, là đặc điểm tư duy của tượng số. Số giống như tượng, có thể phân ra số hư và số thực, lần lượt đại biểu ý nghĩa trừu tượng (cùng loại với tượng) và ý nghĩa chỉ thực.

3.3. Phép mô hình

Phép mô hình là chỉ phương hướng lấy tượng số làm mô hình để tiến hành tư duy, và mô phỏng, nhận thức thế giới khách thể. Phương pháp mô hình có quan hệ mật thiết với phép lập tượng, phép vận số, mô hình là dựa vào lý luận của lập tượng, vận số. Lập tượng, vận số là sự vận dụng đối với mô hình, vì vậy, không nên xếp phép mô hình ngang hàng với phép lập tượng, phép vận số. Phép mô hình tượng số với phép vận số, lập tượng trọng điểm nặng nhẹ cũng có chỗ khác nhau, nếu nói cái trước nặng về phân loại và hình thức hóa tượng số, thì cái sau thiên về loại suy và lắp vào một cách gượng ép.

Đặc biệt ở Chu Dịch nhấn mạnh phương pháp phân loại, theo đặc điểm tính chất khác nhau phân chia muôn vật, muôn việc thành “loại” khác nhau. Chu Dịch dùng phương pháp phân loại “phương dĩ loại tụ, vật dĩ quần phân” (Hệ từ thượng) – (Các loại tụ lại thành phương, các vật chia ra từng bầy), vũ trụ muôn vật vô cùng vô tận được phân chia thành nhiều loại có giới hạn, “loại” đã trở thành cái dây nối thông thương những sự vật liên quan với nhau. Chỉ cần sự vật có tính chất, tính năng, công dụng, hình tượng, kết cấu tương đồng, gần nhau hoặc gần giống nhau đều có thể quy thành cùng loại.

Chu Dịch phân loại tượng số chủ yếu có mấy loại dưới đây:

a) Lưỡng nghi - phân loại âm dương. Trong phân loại tượng số, điều này rất quan trọng, cũng là điều rất cơ bản, Thiệu Ung, Chu Hy, gọi nó là phép “một biến thành hai”, “một phân thành hai”. Hào âm và hào dương bắt nguồn ở tượng quẻ, là cơ sở của 64 quẻ; hai nghi âm dương là cơ sở của vũ trụ muôn vật. Không chỉ muôn vật muôn việc có thể phân thành hai loại âm dương, mà sự vật đồng nhất cũng có thể phân thành hai mặt âm dương.

b) Phân loại bát quái
Vũ trụ muôn vật chia thành tám loại: Kiền (trời), Khôn (đất), Khảm (nước), Ly (lửa), Chấn (sấm), Tốn (gió), Cấn (núi), Đoài (đầm). Theo cách nói của Thuyết quái truyện, thì thuộc tính của tám loại này lần lượt sẽ là: kiện, thuận, hãm, lệ, động, nhập, chỉ, duyệt, cũng tức là nói, nếu như một thuộc tính nào có đủ ở trong đó, thì có thể qui vào một loại quẻ đối ứng.

c) Phân loại 64 quẻ
Đó là cách phân loại hệ thống của Chu Dịch. Ở Chu Dịch, tuy có thể coi 64 quẻ là mở rộng của bát quái, nhưng công dụng của bát quái và 64 quẻ nặng nhẹ có khác nhau: bát quái nặng về phân loại trạng thái tĩnh của sự vật. 64 quẻ nặng về phân loại trạng thái động của sự vật, vận động biến đổi và mối liên hệ hữu cơ giữa loại và loại của 64 quẻ.

d) Phân loại ngũ hành
Nói một cách nghiêm túc, Chu Dịch không nói đến ngũ hành, sách nói sớm nhất đến ngũ hành là “Thượng Thư, thiên Hồng phạm”, nhưng bắt đầu từ Tây Hán, phái tượng số đã kết hợp bái quái với ngũ hành, học thuyết Hà Lạc trong Dịch học đời sau, tức là phân loại ngũ hành, như trong Hà đồ, 1, 6 là thủy; 2, 7 là hỏa; 3, 8 là mộc; 4, 9 là kim; 5, 10 là thổ; 1, 2, 3, 4, 5 là số sinh của ngũ hành; 6, 7, 8, 9, 10 là số thành của ngũ hành. Phân loại ngũ hành đều không mâu thuẫn với phân loại của lưỡng nghi. Ngũ hành có thể coi là cặp âm dương đối lập (nước và lửa, mộc và kim), thổ ở trong đó chỉ có tác dụng điều chế, nó không chiếm giữ bốn phương, không chiếm giữ bốn mùa, trái lại thống lĩnh bốn phương, thống lĩnh bốn mùa. Việc phân loại ngũ hành đã thúc đẩy mối liên hệ giữa âm dương bát quái với nhau, khiến cho âm dương bát quái hình thành một hệ thống hữu cơ sinh khắc chế hóa.

Phân loại là sự bắt đầu của phương pháp tư duy mô hình của Chu Dịch, các mô hình Dịch học, tượng số xây dựng lên trên cơ sở phân loại. ở trên đã trình bầy khái quát mô hình phân loại đầu tiên (nguyên thủy) của tư duy tượng số, ngoài cái đó ra còn có mô hình ngũ hành, mô hình can chi, mô hình Hà Lạc, mô hình Thái cực. Chúng là công thức hoặc phép tắc tương đối ổn định từng bước hình thành trong quá trình tư duy. Công thức, phép tắc này phổ biến thích hợp với bất cứ sự vật nào, và không phải chỉ vẻn vẹn giới hạn ở một nội dung, sự vật cụ thể nào.

Đặc trưng tư duy tượng số có thể khái quát như sau:

1/ Quan niệm tuần hoàn biến dịch.

Hai chữ “Chu” “Dịch” có thể giải thích là “vòng tròn tuần hoàn” và “biến hóa, vận động”, có thể coi Chu Dịch là trước tác chuyên bàn luận về qui luật vũ trụ muôn vật tuần hoàn biến dịch. Trong hệ thống đầu tiên của hào, quẻ, tượng số, phù hiệu bậc 1 của hào dương và hào âm (21 = 2) là tuần hoàn chuyển đổi lẫn nhau, hào dương “cửu” chuyển hóa thành hào âm “lục”, chuyển đổi ngược lại cũng như vậy. Phù hiệu bậc 2 của tứ tượng (22 = 4) là thái dương, thiếu âm, thiếu dương, thái âm cũng chuyển đổi cho nhau. Bát quái phù hiệu bậc 3 (23 = 😎 và mỗi một quẻ trong 64 quẻ thì phù hiệu bậc cao nhất (26 = 64) đều là vận động tuần hoàn, bất cứ một quẻ nào đều có thể biến thành một quẻ khác: ở trong một nhóm hai quẻ, hai quẻ trước sau (trên dưới) đều có thể biến đổi cho nhau thông qua hai phương thức “phục” 😊 trở lại) và “biến”. Bất cứ một quẻ nào đều có thể thông qua phương thức hào biến sẽ biến thành 63 quẻ khác. Từ đó hình thành chỉnh thể đại tuần hoàn của 64 quẻ. Xét từ Tự quái (thứ tự quẻ) của 64 quẻ ở Chu Dịch,đầu tiên là hai quẻ Kiền, Khôn, cuối cùng là hai quẻ Ký Tế, Vị Tế; tức là chứa đựng vũ trụ biến dịch, một chu kỳ bắt đầu từ Kiền Khôn âm dương đến Ký Tế, Vị Tế kết thúc. “Ký Tế” là kết thúc một chu kỳ trên; Vị Tế là bắt đầu một chu kỳ dưới. Như vậy, hết một vòng lại bắt đầu trở lại (phục), tuần hoàn không ngừng. Hệ thống văn tự Chu Dịch giải thích phù hiệu quẻ, hào rõ ràng là đã đề cập đến quan điểm vòng tròn biến dịch, như lời hào 3, dương, quẻ Thái viết: “Vô bình bất bí, vô vãng bất phục” - (Không có cái gì bằng mãi mà không nghiêng, đi mãi mà không trở lại”. Lời quẻ Phục nói: “Phản phục kỳ đạo, thất nhật lai phục”- (Trở đi trở lại cái đạo của mình, bảy ngày trở lại). Dịch truyệnnhấn mạnh phản phục (trở đi trở lại): “nhất hạp nhất tịch vị chi biến, vãng lai bất cùng vị chi thông” (Hệ từ thượng)- (Một lần đóng một lần mở gọi là biến, đi lại chẳng cùng gọi là thông), “Nguyên thủy phản chung, cố tri tử sinh chi thuyết” (Hệ từ thượng) – (Suy nguyên từ trước, trở lại về sau, cho nên biết cái thuyết sống chết.) Trước tiên, tượng quẻ, hào, lời quẻ, lời hào đề xuất quan niệm tuần hoàn biến dịch, sau đó, Đạo gia, Nho gia đều tuân theo quan niệm tư duy đó, và trở thành quan niệm chung. Nói về quan niệm tuần hoàn biến dịch đối với cả thế giới quan niệm vũ trụ bao la rộng lớn cơ bản là hợp lý. Cả vũ trụ tồn tại vĩnh hằng đại tuần hoàn, và các vật thể cũng tồn tại tạm thời tiểu tuần hoàn. Tuần hoàn này cơ sở là đối lập chuyển hóa của âm dương, tượng số đang bao hàm tư tưởng tiến bộ biến đổi không ngừng. Nhưng Chu Dịch quá nhấn mạnh tuần hoàn, coi thường phát triển sáng tạo, coi tuần hoàn thành hình thức duy nhất của vận động và không thấy hình thức khác (như hình thức trực tuyến, hình thức phi thăng giáng…), thiếu quan điểm lịch sử phát triển tiến hóa. ở mức độ nào đó làm chỗ dựa cho giai cấp thống trị duy trì trật tự xã hội phong kiến (như tính vĩnh hằng của tam cương, ngũ thường; trọng nam khinh nữ v.v...)

2/ Quan niệm chỉnh thể hài hòa

Ở Chu Dịch, quẻ, hào, là một chỉnh thể; bát quái, 64 quẻ là hệ thống thông tin. Bát quái là tổ hợp chỉ có ba hào âm dương, 64 quẻ là tổ hợp có sáu hào của âm và dương. Vị trí sáu hào của quẻ, hai hào trên là đạo trời, hai hào giữa là đạo người, hai hào dưới là đạo đất. Đạo tam tài trời, đất, người dung hòa thành một khối. Mô hình phù hiệu quẻ, hào là sự vật thể hiện mô thức vận động, mô hình chữ số của phép bói là sự vật tiềm ẩn ở mô thức vận động. Đối với sự suy diễn trời đất, phát triển thời gian, qui luật vũ trụ âm dương biến đổi là bắt chước chỉnh thể. Đối với sự vận động biến hóa, phân loại, sinh thành của muôn vật, muôn việc là miêu tả hệ thống. Mô thức 64 quẻ lấy quan hệ “sáu hào” “sáu ngôi” làm cơ sở, lấy thời, vị, trung, tỷ, ứng, thừa, v.v… làm nguyên tắc và tiêu chuẩn, cung cấp cho mọi người một phương pháp tư duy từ thời gian, không gian, điều kiện, quan hệ phương vị… đến nhận thức sự vật.

Đạo Dịch: “nhất âm nhất dương” – (một âm một dương) đã nói rõ con người và tự nhiên có tính đối lập, cũng nói rõ có tính hài hòa, tính thống nhất. “Cương nhu tương thôi, nhi sinh biến hóa” – (cứng mềm đun đẩy nhau mà sinh biến đổi) biểu thị chuyển đổi lẫn nhau, dựa vào nhau cùng tồn tại của mặt đối lập. Đối lập và hài hòa lẫn nhau, cảm ứng và giao lưu của con người và tự nhiên, chủ thể và khách thể được Chu Dịchthống nhất hữu cơ lại, trở thành tư duy cơ bản của Chu Dịch, mở ra đặc trưng tư duy chỉnh thể của văn hóa Trung Hoa “Thiên nhân hợp nhất” - (trời người hợp làm một).

Ở Chu Dịch, Thái cực là khái niệm cao nhất của âm dương chỉnh thể đối lập, hài hòa cũng là chắt lọc lý tính của tư duy tượng số.

3/ Quan niệm động thái công năng

Mô hình tượng số Dịch học là mô hình động thái, công năng, bất cứ là phương pháp lập tượng hay là phương pháp vận số đều là lấy tính nhất trí của công năng, động thái làm điều kiện. Chỉ cần công năng tương đồng, thuộc tính tương đồng, mặc dù kết cấu khác nhau, hình thái khác nhau cũng có thể qui thành cùng loại. Tư duy tượng số trọng động thái, trọng công năng, tất nhiên là dẫn đến nhẹ kết cấu, nhẹ trạng thái tĩnh.

4/ Quan niệm ý tượng trực giác

Tượng quẻ của Chu Dịch là một loại ý tượng, có chứa đựng sự tưởng tượng chủ quan và ý niệm chủ quan, là kết hợp tri giác hình tượng và ý thức chủ quan. Đã có ý nghĩa thông báo tượng thực của hình tượng, lại chứa đựng nội hàm tượng hư trừu tượng. Tượng quẻ có hai tác dụng: một là mô phỏng, một nữa là tượng trưng. Về sự mô phỏng muôn việc muôn vật chỉ là một thủ đoạn, mục đích là cần dùng phù hiệu tượng quẻ để tượng trưng triết lý, phép tắc trừu tượng.

Tư duy ý tượng là phương pháp cơ bản của Trung Quốc cổ đại nhận thức vũ trụ. Thời kỳ Tiên Tần Chiến Quốc, thiên văn, lịch pháp, khí tượng thường thường gán ghép vào với tình hình chính trị, nhân sự tốt, xấu, lâu lâu lại trở thành thuật số học lưu hành rộng rãi trong dân gian. Cho đến “Tiên thiên bát quái đồ”, “Hậu thiên bát quái đồ”, “Hà đồ Lạc thư”, “Thái cực đồ” v.v… là mô hình đại biểu vũ trụ luận, bản thể luận, kết cấu luận của Trung Quốc.

Tư duy trực giác của Chu Dịch là xây dựng trên cơ sở loại suy từng cặp tượng quẻ. Do quá nhấn mạnh tư duy trực giác, chỉ chú ý cảm giác chỉnh thể, từ đó lướt qua thực chứng và phân tích, khiến cho trình độ khoa học truyền thống Trung Quốc không cao, nhận thức về sự vật thường là mơ hồ, sơ sài và lòng thòng. Nhưng xét từ chính diện, nó đã rèn luyện năng lực tư biện và năng lực nhận thức của người Trung Quốc, có đủ trí tuệ nắm vững vũ trụ sinh mệnh. Về mặt chỉnh thể động thái, luôn luôn giàu sức tưởng tượng và sức sáng tạo, tạo thành tính cảm nhận, tính huyền tưởng, tính nhảy vọt trong tính cách dân tộc. Tư duy tượng số Dịch học ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa phương Đông nói chung, và văn hóa Trung Hoa nói riêng, nó vô cùng phức tạp, sau này còn phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu. ở đây, mới chỉ là bước đầu giới thiệu để chúng ta cùng suy ngẫm.

Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập ngành Hán Nôm, khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, tôi viết bài này, hy vọng ngành Hán Nôm phát triển, không thể theo con đường quen thuộc lâu nay chúng ta đã học và giảng dạy Hán Nôm. Đến lúc, học và dạy Hán Nôm không chỉ dừng lại ở dịch các văn bản Hán và phiên âm, chú thích các văn bản Nôm. Chúng ta cần phải tiến xa hơn nữa, gắn liền Hán Nôm với ngữ văn Hán Nôm. Vì ngành Hán Nôm phát triển, chính là khiến cho người nước ngoài thấy được sự đóng góp riêng của Việt Nam vào văn hóa thế giới. Thế giới muốn biết về văn hóa Việt Nam không thể không thông qua ngữ văn Hán Nôm. Thế giới đã bước vào khoa học, ta nên theo xu hướng nghiên cứu Hán học của thế giới. Một người dù giỏi chữ Hán, chữ Nôm đến đâu mà không hiểu khoa học thế giới, nhất là bước đi của Hán học thế giới thì khó lòng đổi mới văn hóa theo hướng chung của thế giới. Như học Chu Dịch mà chỉ biết dịch nghĩa, dịch văn bản thì chưa đủ, mà còn phải hiểu văn hóa Trung Hoa. Vì Chu Dịch là đầu nguồn của văn hóa Trung Hoa, Nho gia tôn là quyển đầu của sáu kinh, Đạo gia nói là một trong Tam huyền. Chu Dịch và Dịch học thể hiện bộ mặt văn hóa Trung Hoa. Nó khai sáng phương thức tư duy có khác với phương Tây. Phương thức tư duy và tập quán tư duy có tác dụng lâu dài, phổ biến trong hành vi văn hóa dân tộc, là định thế tư duy của xã hội bầy người nhất định hình thành trong quá trình tiếp thu phản ánh, gia công thông tin ngoài giới. Mỗi một dân tộc đều có thiên hướng tư duy trọn vẹn của bản thân mình, từ đó hình thành loại hình tư duy dân tộc đặc biệt. Sự khác nhau của phương thức tư duy có thể dùng để nói rõ sự khác biệt của văn hóa dân tộc và sự khác nhau của xã hội dân tộc. Phương thức tư duy là bản chất lắng sâu của hiện tượng văn hóa loài người, có tác dụng chi phối hành vi văn hóa loài người, và đại biểu đặc trưng tố chất tâm lý văn hóa của một dân tộc.

Phương thức tư duy tượng số của Chu Dịch là điều đầu tiên và đại biểu phương thức tư duy Trung Hoa, đã quyết định quan niệm giá trị, phương thức hành vi, ý thức thẩm mỹ, phong tục tập quán đặc biệt của dân tộc Trung Hoa. Nó không chỉ thẩm thấu vào tố chất tâm lý dân tộc, mà còn thẩm thấu đến thao tác bề mặt thực dụng của tính bề ngoài. Nó không chỉ ảnh hưởng đến triết học mà cả đến khoa học xã hội, nhân văn, khoa học tự nhiên v.v…

Vì thế, chúng ta tìm hiểu tư duy tượng số của Chu Dịch, chính là bổ sung, nâng cao trình độ Hán Nôm của chúng ta càng thêm vững chắc, đồng thời hội nhập với trào lưu nghiên cứu Dịch học trên thế giới.

Want your school to be the top-listed School/college in Ho Chi Minh City?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Address


Ho Chi Minh City