Fintech & Business Administrations

Fintech & Business Administrations

Share

Fintech & Business Administrations

11/04/2025

Chính sách “America First” lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử nước Mỹ vào thập niên 1940, nhưng chỉ thật sự trở thành một học thuyết chính trị mạnh mẽ khi Donald Trump đưa nó vào chiến dịch tranh cử năm 2016, và sau đó biến nó thành kim chỉ nam cho các chính sách đối nội và đối ngoại trong nhiệm kỳ tổng thống của ông.
"America First" không phải là chính sách mới, nhưng được Donald Trump hiện đại hóa và thực thi một cách triệt để trong thế kỷ 21.

Trump, 10/04/2025: "Dựa trên sự thiếu tôn trọng mà Trung Quốc đã thể hiện đối với các thị trường trên thế giới, tôi tuyên bố nâng mức thuế quan áp dụng đối với Trung Quốc bởi Hoa Kỳ lên 125%, có hiệu lực ngay lập tức.
Hy vọng rằng, trong tương lai gần, Trung Quốc sẽ nhận ra rằng thời kỳ trục lợi từ Hoa Kỳ và các quốc gia khác đã không còn bền vững hoặc có thể chấp nhận được nữa.
Ngược lại, dựa trên thực tế rằng hơn 75 quốc gia đã liên hệ với các đại diện của Hoa Kỳ, bao gồm Bộ Thương mại, Bộ Tài chính và Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR), để đàm phán giải pháp cho các vấn đề liên quan đến thương mại, rào cản thương mại, thuế quan, thao túng tiền tệ và các loại thuế phi tiền tệ – và rằng các quốc gia này, theo đề nghị mạnh mẽ của tôi, đã không trả đũa dưới bất kỳ hình thức nào đối với Hoa Kỳ – tôi đã cho phép tạm hoãn 90 ngày, và áp dụng thuế quan tương hỗ giảm đáng kể trong thời gian này, ở mức 10%, cũng có hiệu lực ngay lập tức"

Mỹ - Trung căng thẳng thương mại leo thang: Việc Mỹ áp thuế 125% lên hàng hóa Trung Quốc tạo ra làn sóng phản ứng toàn cầu. Trung Quốc đáp trả bằng các biện pháp phi thuế quan, kiểm soát xuất khẩu nguyên liệu hiếm và công nghệ cao.
Chuỗi cung ứng toàn cầu bị tái cấu trúc: Các công ty đa quốc gia đang chuyển nhà máy ra khỏi Trung Quốc để tránh thuế – xu hướng này tiếp diễn từ 2018 và nay tăng tốc.
Lạm phát toàn cầu có dấu hiệu hạ nhiệt, nhưng lãi suất tại các nước phát triển vẫn duy trì ở mức cao (Fed, ECB chưa vội cắt giảm mạnh).
Chuyển dịch đầu tư sang Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam, Ấn Độ, Indonesia do chi phí thấp và môi trường địa chính trị ổn định hơn Trung Quốc.
Kinh tế Việt Nam tính đến 10/04/2025
Tích cực:
FDI vẫn duy trì đà tăng, đặc biệt vào các lĩnh vực sản xuất linh kiện điện tử, ô tô điện, năng lượng tái tạo và logistics.
Việt Nam được hưởng lợi từ sự dịch chuyển chuỗi cung ứng khỏi Trung Quốc.

Thách thức:
Phụ thuộc linh kiện và nguyên vật liệu từ Trung Quốc khiến doanh nghiệp bị gián đoạn sản xuất khi chi phí đầu vào tăng do thuế Mỹ - Trung. Tình trạng phân mảnh hành chính, chi phí tuân thủ cao, vẫn là rào cản trong thu hút đầu tư và cải cách thể chế chậm.
Một số DN xuất khẩu gián tiếp sang Mỹ (thông qua Trung Quốc) bị ảnh hưởng vì bị xem là lách thuế.
Định hướng & hành động cho Việt Nam
(1) Về cải cách thể chế, hành chính:
Đẩy nhanh sáp nhập đơn vị hành chính cấp huyện, xã để giảm chi phí điều hành và tạo quy mô phát triển đô thị vùng.
Một cửa liên thông điện tử thực chất, rút ngắn thời gian cấp phép đầu tư, logistics.
Rà soát lại thủ tục kiểm tra chuyên ngành, loại bỏ chồng chéo giữa các bộ/ngành.
(2) Về chiến lược đối phó chuỗi cung ứng bị đứt gãy:
Tăng cường nội địa hóa chuỗi cung ứng, hỗ trợ DN công nghiệp hỗ trợ thay thế nguyên liệu nhập từ Trung Quốc.
Liên kết các trung tâm sản xuất trong nước (Bắc – Trung – Nam) qua hạ tầng logistics và dữ liệu.
Đàm phán các hiệp định mới hoặc nâng cấp CPTPP, EVFTA, RCEP để có vai trò chủ động hơn.
Doanh nghiệp Việt Nam nên làm gì?
(A) Doanh nghiệp sản xuất:
Đánh giá rủi ro nguyên vật liệu nhập từ Trung Quốc, tìm nhà cung ứng thay thế tại Hàn Quốc, Ấn Độ, ASEAN.
Đầu tư công nghệ, chuyển đổi số để tăng năng suất và đáp ứng yêu cầu xuất khẩu cao hơn của Mỹ – EU.
Xây dựng chiến lược “Plus Vietnam” để thu hút đối tác ngoại dịch chuyển nhà máy.
Đối với một số ngành chủ lực:
📦 a. Ngành dệt may – da giày – đồ gỗ
Tác động:
Xuất khẩu sang Mỹ tăng do Mỹ rút chuỗi khỏi Trung Quốc (VN hưởng lợi).
Tuy nhiên, nguy cơ bị kiểm tra xuất xứ gắt gao hơn, tránh gian lận thương mại.

Giải pháp:

Doanh nghiệp cần đầu tư truy xuất nguồn gốc rõ ràng, tránh dùng nguyên phụ liệu có xuất xứ Trung Quốc nếu hàng đi Mỹ.
Tăng đầu tư vào thiết kế, phát triển mẫu mã riêng thay vì chỉ gia công.
b. Ngành điện tử – công nghiệp hỗ trợ
Tác động:
Mỹ chuyển một phần chuỗi cung ứng khỏi Trung Quốc, FDI vào Việt Nam tăng mạnh (Samsung, Apple, Foxconn...).
Nhưng Việt Nam phụ thuộc linh kiện từ Trung Quốc, nên dễ bị gián đoạn.

Giải pháp:
Thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ nội địa, giảm lệ thuộc Trung Quốc.
Hợp tác sâu hơn với Nhật, Hàn, Đài Loan về công nghệ và linh kiện.
🚢 c. Ngành logistics – cảng biển
Tác động:
Cơ hội lớn khi chuỗi cung ứng toàn cầu tái cấu trúc, nhu cầu vận tải tăng.
Tuy nhiên, biến động thuế làm tăng rủi ro hàng hóa bị trả về, tồn kho dài.

Giải pháp:

Đầu tư vào hệ thống kho ngoại quan thông minh, phân phối khu vực.
Kết nối logistics vùng – cảng – biên giới để hỗ trợ doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

🍤 d. Ngành nông sản – thủy sản
Tác động:
Mỹ cần nguồn cung ổn định thay thế Trung Quốc → Việt Nam có cơ hội tăng xuất khẩu tôm, cá tra, trái cây.
Tuy nhiên, Mỹ có xu hướng tăng rào cản kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng và truy xuất.

Giải pháp:
Nâng cấp quản lý vùng nuôi, vùng trồng, số hóa chuỗi nông sản.
Đa dạng hóa thị trường (Mỹ, EU, Nhật, Trung Đông…) để tránh lệ thuộc.
Chính sách “America First” đặt ra cả cơ hội chiến lược và thách thức thể chế đối với Việt Nam. Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang được tái định hình, cải cách thể chế hành chính – nâng cấp doanh nghiệp – số hóa chuỗi cung ứng là ba trụ cột cần được hành động ngay.

Kiến nghị:
Cải cách thể chế thương mại: Sửa đổi Luật Ngoại thương, tăng quyền tự chủ thương lượng song phương tại cấp địa phương
Sáp nhập đơn vị hành chính cấp huyện – xã Tăng quy mô kinh tế địa phương, hình thành cụm sản xuất – logistics đồng bộ
Cải tiến thủ tục CO – kiểm định xuất xứ Số hóa quy trình, tích hợp truy xuất nguồn gốc theo blockchain
Thiết lập Tổ công tác “Phòng vệ chính sách Mỹ” Đặt tại Bộ Công Thương, phối hợp Bộ Ngoại Giao – VCCI – cộng đồng DN phản ứng nhanh chính sách mới từ Mỹ

03/05/2024

DOANH NGHIỆP CẦN LÀM GÌ KHI THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC XÂM NHẬP VÀO THỊ TRƯỜNG CỦA MỘT QUỐC GIA
Xâm nhập thị trường mới là một thách thức, nhưng cũng là một cơ hội lớn cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần chuẩn bị kỹ lưỡng và thực hiện chiến lược bài bản để thành công trong thị trường mới.
1. Nghiên cứu thị trường:

Hiểu rõ về thị trường mục tiêu, bao gồm quy mô thị trường, xu hướng thị trường, hành vi người tiêu dùng, đối thủ cạnh tranh, v.v.
Phân tích SWOT để đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của doanh nghiệp khi xâm nhập thị trường mới.
2. Xác định thị trường mục tiêu:

Xác định nhóm khách hàng tiềm năng mà doanh nghiệp muốn nhắm đến.
Phân chia thị trường mục tiêu thành các phân khúc nhỏ hơn dựa trên các yếu tố như nhân khẩu học, tâm lý học, hành vi, v.v.
3. Lựa chọn chiến lược xâm nhập thị trường:

Có nhiều chiến lược xâm nhập thị trường khác nhau, chẳng hạn như thâm nhập trực tiếp, thâm nhập gián tiếp, mua lại, liên doanh, v.v.
Doanh nghiệp cần lựa chọn chiến lược phù hợp với nguồn lực, mục tiêu và khả năng chấp nhận rủi ro của mình.
4. Phát triển sản phẩm/dịch vụ phù hợp:

Sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp cần đáp ứng nhu cầu và sở thích của khách hàng mục tiêu tại thị trường mới.
Doanh nghiệp có thể cần điều chỉnh sản phẩm/dịch vụ của mình cho phù hợp với văn hóa, phong tục tập quán và quy định địa phương.
5. Xây dựng chiến lược giá cả:

Chiến lược giá cả cần đảm bảo lợi nhuận cho doanh nghiệp đồng thời cạnh tranh với các đối thủ khác trên thị trường.
Doanh nghiệp cần cân nhắc các yếu tố như chi phí sản xuất, giá cả của đối thủ cạnh tranh, khả năng chi trả của khách hàng mục tiêu, v.v.
6. Xây dựng kênh phân phối:

Doanh nghiệp cần lựa chọn kênh phân phối phù hợp để đưa sản phẩm/dịch vụ của mình đến tay khách hàng mục tiêu.
Các kênh phân phối có thể bao gồm đại lý, nhà bán lẻ, kênh bán hàng trực tuyến, v.v.
7. Xây dựng chiến lược marketing:

Doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược marketing để thu hút khách hàng mục tiêu và tạo dựng nhận thức về thương hiệu.
Chiến lược marketing có thể bao gồm quảng cáo, PR, xúc tiến bán hàng, marketing kỹ thuật số, v.v.
8. Cung cấp dịch vụ khách hàng tốt:

Dịch vụ khách hàng tốt là chìa khóa để giữ chân khách hàng và tạo dựng lòng trung thành với thương hiệu.
Doanh nghiệp cần đảm bảo cung cấp dịch vụ khách hàng nhanh chóng, hiệu quả và thân thiện.
9. Theo dõi và đánh giá hiệu quả:

Doanh nghiệp cần theo dõi và đánh giá hiệu quả của chiến lược xâm nhập thị trường của mình.
Dựa trên kết quả đánh giá, doanh nghiệp có thể điều chỉnh chiến lược của mình cho phù hợp.
Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần lưu ý một số vấn đề sau:

Tuân thủ các luật pháp và quy định của quốc gia sở tại.
Bảo vệ sở hữu trí tuệ của mình.
Quản lý rủi ro ngoại hối.
Xây dựng đội ngũ nhân viên có trình độ và kinh nghiệm.
Cần xem xét, phân tích chi tiết các khía cạnh PESTLE.

(Nguồn: tác giả tổng hợp kiến thức, hình ảnh: internet)

09/12/2023

Bức tranh về ngành Dịch vụ tại VN...
Cơ hội & Thách Thức

25/11/2023

"Không có Khách hàng được thỏa mãn nếu không có lực lượng lao động được thỏa mãn".
Vì vậy, kế hoạch hay chiến lược hàng năm không chỉ lấy KH làm trung tâm, mà còn chú trọng đến nhân sự, văn hóa tổ chức.
Jack Welch là nhà điều hành của General Electric (GE) từ năm 1981 đến năm 2001. Ông được mệnh danh là "nhà quản lý xuất sắc nhất thế kỷ 20" và là một trong những CEO thành công nhất trong lịch sử. Dưới thời lãnh đạo của ông, GE đã tăng gấp đôi doanh thu và lợi nhuận, trở thành công ty lớn nhất thế giới. Ông không gọi Nhân viên là Employees hay Staffs, ông gọi họ là "Participants"

04/11/2023

“Bình thường hóa lệch lạc” có thể xem là biến cố kiểu "Thiên Nga Đen"
1 sai lệch lần đầu, bạn có thể sợ- near miss (suýt chết). Nhưng nếu sai lệch lần 2, lần 3 trên cùng 1 lỗi đó. Bạn thấy đó là điều bình thường. Cho đến khi nó là lần cuối cùng thì Rủi ro đã xảy ra không thể kiểm soát nữa.
Sáu sai lầm thường gặp trong QTRR:
1. Tin rằng mình có thể quản lý rủi ro khi đã dự đoán được những biến cố cực hạn

Đây là sai lầm tệ hại nhất mà chúng ta mắc phải bởi một vài nguyên do sau. Thứ nhất, chúng ta có một thư viện khổng lồ sẵn sàng chỉ ra cách dự đoán các biến cố Thiên Nga Đen. Thứ hai, khi chỉ tập trung vào một số viễn cảnh cực hạn, chúng ta sẽ bỏ qua các khả năng khác. Và như thế, chúng ta sẽ dễ bị tổn thương hơn bao giờ hết.

Sẽ hiệu quả hơn nếu chúng ta dành sự tập trung của mình cho hậu quả, nghĩa là, sẽ đánh giá những tác động có thể có của những biến cố cực hạn. Nếu nhận thức được điều này, các công ty năng lượng sẽ chuyển trọng tâm của mình từ dự đoán thời điểm xảy ra tai nạn trong các nhà máy hạt nhân sang chuẩn bị đón đầu những tình huống có thể xảy ra.

Tương tự như thế, hãy đánh giá xem, so với đối thủ cạnh tranh, công ty của bạn sẽ bị ảnh hưởng đến mức nào trước những thay đổi đột ngột từ môi trường (kinh doanh). Liệu một sự tụt giảm không đáng kể nhưng hoàn toàn không nằm trong dự đoán của bạn về nguồn cung hoặc nhu cầu có ảnh hưởng nghiêm trọng đến công ty của bạn không? Nếu có, công ty bạn rõ ràng sẽ không thể trụ nổi khi số lượng đơn đặt hàng sụt giảm đột ngột, hàng tồn kho gia tăng đột biến…

Nếu xét ở khía cạnh đời tư của mỗi người, nhiều lúc chúng ta hành động theo những cách có thể giúp giảm bớt tác động của các biến cố Thiên Nga Đen. Chúng ta không cố tính toán xác suất xảy ra của các biến cố; chúng ta chỉ lo lắng liệu mình có thể xử lý hậu quả khi các biến cố ấy xảy ra hay không.

Ví dụ, chúng ta rất sẵn sàng mua bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm ôtô, nhà cửa và nhiều thứ khác. Liệu có ai mua xong nhà rồi mới tính toán đến chi phí phải trả để mua bảo hiểm cho nó? Dĩ nhiên bạn chỉ quyết định mua nhà sau khi đã tính toán tất cả chi phí liên quan đến bảo hiểm. Tuy nhiên, trong kinh doanh, chúng ta xem bảo hiểm như một phương án tùy chọn. Bảo hiểm hoàn toàn không phải là một tùy chọn; các công ty phải chuẩn bị để sẵn sàng đương đầu với các hậu quả và phải mua bảo hiểm để phòng ngừa rủi ro.

2. Tin rằng nghiên cứu quá khứ sẽ giúp quản lý được rủi ro

Các nhà quản lý rủi ro đã sai lầm khi sử dụng khả năng hiểu biết những sự kiện đã qua để dự báo những sự kiện sắp xảy đến. Nhưng tiếc thay, nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra rằng không có mối liên hệ nào giữa các biến cố trong quá khứ và những cú sốc của tương lai. Điển hình là những biến cố lớn như Thế chiến I hay vụ tấn công khủng bố ngày 11/9/2001, trước nay chưa hề có tiền lệ.

Điều này cũng tương tự với những thay đổi về giá. Cho đến tận cuối thập niên 1980, mức giảm của giá cổ phiếu, dù vào thời điểm tồi tệ nhất, cũng chưa vượt quá 10%/ngày. Nhưng giá cả bất ngờ tụt giảm 23% vào ngày 19/10/1987 [2]. Vì sao tại thời điểm đó mọi người đều tin rằng sắp có tai họa trong khi giá chứng khoán chỉ mới tụt dốc 23%? Lịch sử đã đánh lừa nhiều người.

“Việc này chưa hề có tiền lệ” là lời biện hộ phổ biến của các chuyên gia quản lý rủi ro, đặc biệt là những người làm việc trong ngành tài chính. Họ cho rằng nếu nỗ lực đến một mức nào đó, họ có thể tìm thấy tiền lệ của bất cứ thứ gì và có thể dự đoán bất kỳ điều gì. Tuy nhiên, các biến cố Thiên Nga Đen không hề có tiền lệ. Hơn nữa, thế giới ngày nay đã khác xưa rất nhiều; tính tương thuộc và phi tuyến tính cũng đã gia tăng. Nhiều chính sách trước nay vô hại nhưng giờ lại gây phản ứng ngược.

Người ta không quan tâm đến các dạng ngẫu nhiên cố hữu của nhiều biến số kinh tế. Thật ra có hai dạng, trong đó ngẫu nhiên kinh tế xã hội ít mang tính cơ cấu và dễ theo dõi hơn so với ngẫu nhiên mà bạn gặp trong các giáo trình thống kê hay tại các sòng bạc. Nó tạo ra hiện tượng “người thắng lấy hết” vốn để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng.

Chưa đến 0,25% số công ty trên toàn thế giới chiếm hết phân nửa giá trị vốn hóa thị trường, chưa đến 0,2% tổng số đầu sách chiếm một nửa doanh số bán hàng, chưa đến 0,1% các loại thuốc tạo ra hơn một nửa doanh số của ngành công nghiệp dược phẩm, và chưa đến 0,1% tổng các biến cố nguy hiểm là nguyên nhân của ít nhất là một nửa các trường hợp thua lỗ.

Nhờ ngẫu nhiên kinh tế xã hội, không có thứ gì đại loại như thất bại “điển hình” hay thành công “điển hình”. Có chiều cao và cân nặng điển hình nhưng không có thứ gì giống như chiến thắng “điển hình” hay thảm họa “điển hình”. Chúng ta phải dự đoán cả biến cố lẫn tầm ảnh hưởng của nó, một việc làm hết sức khó khăn bởi không thể có tác động điển hình trong các hệ thống ngày càng phức tạp như hiện nay.

Ví dụ như khi nghiên cứu về ngành công nghiệp dược phẩm, chúng tôi nhận thấy hầu hết các dự báo doanh số không hề phản ánh đúng doanh số thực tế của các sản phẩm mới. Thậm chí khi các công ty này dự đoán đúng thì nhiều trường hợp, doanh số dự báo thấp hơn thực tế đến 22 lần! Do đó, dự đoán được những biến động lớn gần như là không thể.

3. Không chịu nghe lời khuyên về những gì không nên làm

Lời khuyên dạng “không nên” thường thiết thực hơn rất nhiều so với dạng “nên”. Ví dụ, lời khuyên không nên hút thuốc mà bạn dành cho người khác sẽ có tác dụng hơn những lời khuyên chung chung liên quan đến sức khỏe. Nhà nghiên cứu di truyền học Druin Burch có lần phát biểu trên tạp chí Taking the Medicine rằng: “Tác hại của việc hút thuốc tương đương với tổng lợi ích của các biện pháp can thiệp y khoa được phát triển từ sau Thế Chiến II đến nay. Từ bỏ thói quen hút thuốc sẽ mang lại nhiều lợi ích hơn việc có thể chữa khỏi bất kỳ loại ung thư nào cho con người”.

Tương tự như thế, nếu như các ngân hàng ở Mỹ chịu lắng nghe các lời khuyên và không tự làm mình ngày càng gặp nhiều hiểm nguy trước các biến cố xác suất thấp, ảnh hưởng lớn thì dù cho lợi nhuận thu được có thể thấp hơn nhưng họ sẽ không rơi vào cảnh gần như phá sản như hiện nay.

Các nhà tâm lý học xem xét hành động “bỏ sót một công việc” và “thực hiện sai một công việc” là hai vấn đề khác nhau. Mặc dù ảnh hưởng của nó xét trên phương diện kinh tế là như nhau – không mất đi một đôla tức là có thêm một đôla – nhưng các nhà quản lý rủi ro thì không nghĩ như thế. Họ quan tâm đến việc tạo ra lợi nhuận hơn việc tránh thua lỗ. Tuy nhiên, trên thực tế, một công ty có thể thành công khi không để thua lỗ trong khi đối thủ của nó đều phá sản và nhờ đó, công ty này có thể giành lấy thị phần từ tay đối thủ.

Trong thi đấu cờ vua, các đại kiện tướng tập trung làm sao không mắc sai lầm trong khi những “tân binh” thì chỉ cố gắng làm sao chiến thắng. Cũng tương tự, các nhà quản lý rủi ro không thích dòng tiền nằm yên mà không được mang đi đầu tư, và nhờ đó có thể bảo toàn giá trị của nó. Tuy nhiên, hãy nghĩ mà xem bạn sẽ như thế nào khi danh mục đầu tư của mình vẫn được giữ nguyên vẹn suốt hai năm qua thay vì giảm mất 40% như nhiều nhà đầu tư khác. Không thua lỗ gần một nửa kế hoạch về hưu của mình chính là một thành công không cần bàn cãi.

Lời khuyên mà chỉ nói những điều tích cực là thứ gì đó bịp bợm. Khu vực sách kinh doanh trong các hiệu sách thì đầy ắp các câu chuyện thành công trong khi có quá ít đầu sách nói về thất bại. Chính thái độ xem nhẹ lời khuyên cảnh báo những tiêu cực như thế khiến các công ty xem nhiệm vụ quản trị rủi ro là một phần việc hoàn toàn tách biệt với tìm kiếm lợi nhuận và dần xa rời bản chất vốn có của nó khi chỉ được thể hiện qua việc truy hồi về quá khứ và giải thích cho những hiện tượng đã xảy ra.

Thay vì làm như vậy, các công ty hãy tích hợp các hoạt động quản trị rủi ro vào trung tâm sinh lợi [1] và xem đây là một trong những hoạt động tạo ra doanh thu, nhất là khi các công ty dễ bị tác động bởi các biến cố Thiên Nga Đen.

4. Cho rằng có thể giới hạn được rủi ro bằng độ lệch chuẩn

Độ lệch chuẩn – một khái niệm được sử dụng trong tài chính như một công cụ kiểm soát rủi ro trong hoạt động đầu tư – không nên được áp dụng trong quản trị rủi ro. Độ lệch chuẩn được tính bằng căn bậc hai của các phương sai bình phương trung bình, chứ không phải phương sai trung bình. Việc sử dụng bình phương và căn bậc hai khiến phương pháp tính toán trở nên phức tạp. Nó chỉ có ý nghĩa trong môi trường mà sự ngẫu nhiên đã “được thuần hóa”, trong đó hai phần ba các thay đổi đều rơi vào một số giới hạn nhất định (độ lệch chuẩn -1 và +1) và không thể có phương sai vượt quá 7 độ lệch chuẩn.

Tuy nhiên, kiến thức nói trên không thể áp dụng được trong thực tế khi mà các biến động có thể vượt quá 10, 20 hay thỉnh thoảng lên đến 30 độ lệch chuẩn. Các nhà quản lý rủi ro cần tránh sử dụng những phương pháp và cách tính toán liên quan đến độ lệch chuẩn như mô hình hồi quy, R-square và beta.

Người ta hiểu rất ít về độ lệch chuẩn. Ngay cả những chuyên gia phân tích định lượng cũng chưa hẳn hiểu thấu khái niệm này. Chúng tôi thực hiện nhiều thử nghiệm vào năm 2007, chúng tôi cho một nhóm các chuyên gia phân tích định lượng thông tin về dao động tuyện đối trung bình (độ lệch tuyệt đối trung bình) của một loại cổ phiếu, và khi chúng tôi yêu cầu họ thực hiện các phép tính, ngay lập tức họ nhầm lẫn nó với độ lệch chuẩn.

Khi mà các chuyên gia còn nhầm lẫn thì liệu rằng những ngườtoán đúng không? Trong bất kỳ trường hợp nào, nếu như ai đó hy vọng rằng rủi ro có thể được thể hiện i khác có thể tính qua một con số đơn thuần thì quả thật đó là một thảm họa.

5. Không hiểu rằng những gì tương đương về mặt toán học thì không tương đương về mặt tâm lý học

Năm 1965, nhà vật lý học Richard Feynman đã viết trong tác phẩm The Character of Physical Law rằng hai công thức tương đương nhau về mặt toán học có thể không tương đương nhau ở cách thể hiện của chúng trước bộ não con người. Tương tự, nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy cách thức trình bày một rủi ro sẽ ảnh hưởng đến cách hiểu của chúng ta về nó. Nếu bạn nói với các nhà đầu tư rằng trung bình phải mất 30 năm thì họ sẽ mất hết tài sản một lần thì họ sẽ sẵn sàng rót vốn hơn khi bạn nói khả năng họ thua lỗ hết tiền là 3,3% mỗi năm.

Điều này cũng lặp lại với thí nghiệm về di chuyển bằng máy bay. Chúng tôi hỏi những người tham gia vào thí nghiệm rằng: “Bạn đang đi nghỉ ở nước ngoài và cân nhắc liệu có nên thử di chuyển bằng một hãng hàng không ở nước ấy để ngắm hòn đảo đặc biệt ấy không. Các thống kê về an toàn cho thấy trong 1.000 năm thì hãng hàng không này mới để xảy ra 1 vụ tai nạn. Mà có lẽ sau này bạn không có dịp quay lại đất nước này nữa. Bạn có muốn chọn hãng hàng không địa phương đó không?”. Tất cả người tham gia thí nghiệm đều trả lời “Có”.

Sau đó, chúng tôi thay đổi câu thứ 2 như sau: “Các thống kê về an toàn cho thấy cứ 1.000 chuyến bay thì có 1 chuyến gặp tai nạn”. Chỉ 70% số người tham dự nói rằng họ sẽ chọn chuyến bay đó. Trong cả hai trường hợp, khả năng xảy ra tai nạn đều là 1 phần 1.000; nhưng cách tính sau nghe có vẻ rủi ro hơn rất nhiều.

Một viễn cảnh có vẻ càng lý tưởng thì thường tiềm ẩn rủi ro càng cao. Lúc nào bạn cũng nên tìm kiếm nhiều phương pháp thể hiện khác nhau của rủi ro để chắc chắn rằng bạn không bị hình thức hoặc toán học đánh lừa.

6. Không có chỗ cho tình trạng dư thừa nếu muốn đạt được hiệu quả và tối đa hóa giá trị của cổ đông

Hầu hết các nhà quản lý không nhận thấy việc tối ưu hóa hoạt động có thể khiến công ty dễ gặp khó khăn trước những thay đổi của môi trường. Các hệ thống phân loại sinh học cũng biết cách ứng phó với thay đổi và Mẹ Thiên Nhiên là một nhà quản trị rủi ro hàng đầu. Điều đó một phần là do bà yêu thích tình trạng dư thừa. Quá trình tiến hóa đã cho loài người chúng ta thêm nhiều bộ phận dự phòng – chẳng hạn như chúng ta có 2 lá phổi và 2 quả thận – và nhờ đó mà chúng ta tồn tại.

Trong doanh nghiệp, tình trạng dư thừa rõ ràng là biểu hiện của sự không hiệu quả: các năng lực bị “treo”, các thiết bị không được sử dụng, và tiền bạc nhàn rỗi. Ở khía cạnh ngược lại, chúng ta được dạy rằng tác dụng đòn bẩy (nợ) là một điều tốt đẹp. Nhưng không; nợ nần khiến cho công ty, và cả cấu trúc kinh tế, không còn vững chãi. Nếu bạn lệ thuộc quá nhiều vào vay nợ, công ty bạn có thể sụp đổ nếu như không thể đạt được doanh số dự báo, nếu như lãi suất biến động hay nếu như các rủi ro khác cùng ập đến. Nếu trong sổ cái kế toán của bạn sạch nợ, bạn sẽ đối phó với thay đổi tốt hơn.

Chuyên môn hóa cao độ cũng cản trở sự tăng trưởng của công ty. Theo lý thuyết về lợi thế so sánh của David Ricardo, để tối ưu hóa hiệu quả, một nước nên chuyên sản xuất rượu vang còn nước kia thì chuyên sản xuất quần áo,… Nhưng lập luận này đã bỏ qua yếu tố: những thay đổi đột ngột. Điều gì sẽ xảy ra khi giá rượu vang giảm mạnh? Vào thập niên 1800, nhiều nền văn hóa ở Arizona và New Mexico đã biến mất vì họ lệ thuộc hoàn toàn vào một vài loại cây lương thực nên kết quả là họ không thể sống sót khi thời tiết có biến động mạnh…

Một trong những câu chuyện thần thoại về chủ nghĩa tư bản là động cơ thúc đẩy làm việc… và cả bãi công nữa. Cuộc đời của mỗi người đều phải có những lúc thăng trầm. Tuy nhiên, bản chất của tiền phúc lợi chính là một trong những yếu tố làm tăng mức độ rủi ro. Nếu bạn trao cho ai đó một khoản tiền thưởng mà không kèm theo điều khoản thu hồi, người ấy sẽ có động lực để che giấu rủi ro bằng cách tham gia vào những giao dịch có nhiều khả năng tạo ra các khoản lợi nhuận nhỏ và ít khả năng đổ vỡ. Các nhà quản lý cứ theo đó mà nhận thưởng đều đặn mỗi năm. Nếu sau cùng đổ vỡ cũng xảy ra thì họ sẽ xin lỗi nhưng không bị buộc phải hoàn trả các khoản thưởng.

Điều này cũng đang thực sự diễn ra tại nhiều tập đoàn. Đó là lý do vì sao nhiều CEO trở nên giàu có trong khi các cổ đông thì vẫn nghèo. Xã hội và các cổ đông cần phải có quyền lực pháp lý để thu hồi các khoản thưởng đối với những ai không đáp ứng được yêu cầu. Điều đó sẽ giúp thế giới này tốt đẹp hơn.

Hơn nữa, chúng ta không nên trao các khoản tiền thưởng cho những người quản lý các tập đoàn lớn như nhà máy hạt nhân hay ngân hàng. Nhiều khả năng họ sẽ tham của rẻ tiền để tối đa hóa lợi nhuận. Xã hội chúng ta đang giao trọng trách quản trị rủi ro lớn nhất cho quân đội nhưng quân nhân thường không được nhận thưởng.

Xin hãy nhớ rằng rủi ro lớn nhất nằm trong chính bản thân chúng ta: Chúng ta đánh giá cao khả năng của mình nhưng đánh giá thấp nguy cơ dẫn đến thất bại. Thần thoại Hy Lạp cũng có không ít minh họa cho cái giá phải trả của thói ngạo mạn: Achilles và Agamemnon chết vì tính ngạo mạn; Xerces thất bại khi tấn công Hy Lạp vì thói tự phụ; và nhiều thống soái xuyên suốt lịch sử đã phải bỏ mạng vì không nhận ra giới hạn của bản thân. Bất kỳ tập đoàn này không nhận ra “Gót chân Achilles” của mình sẽ thất bại.

Ghi chú:

1/ Thiên Nga Đen: là một thuật ngữ được khai sinh bởi Giáo sư Nassim N. Taleb, một học giả uyên bác nổi tiếng với nhiều nghiên cứu về tính ngẫu nhiên và tri thức của con người, về môn khoa học thống kê, về những quyển sách bán chạy nhất thế giới của ông và về những cảnh báo trước khủng hoảng mà về sau đều ứng nghiệm. Trước khi người ta tìm ra nước Úc, cư dân ở Lục Địa Già đều tin rằng tất cả thiên nga đều có màu trắng. Nhưng vào đầu thập niên 1790, phát hiện của một nhà tự nhiên học người Anh, John Latham, về loài thiên nga đen ở vùng Tây Nam nước Úc đã khiến cả thế giới kinh ngạc. Do đó, theo cách diễn giải của Giáo sư Taleb, “những sự kiện mà ai cũng tin rằng hầu như không thể nào xảy ra nhưng lại tác động rất lớn được xem là Thiên Nga Đen” và “khả năng xảy ra của những sự kiện tưởng chừng như không thể cũng tương đương với khả năng không xảy ra của những sự kiện tưởng chừng như vô cùng chắc chắn”.

2/ “Ngày thứ Hai đen tối” của Mỹ

1′ Trung tâm sinh lợi: từ gốc là profit center, khái niệm này được hiểu như một chi nhánh hay phòng ban của một công ty có khả năng tự mình độc lập mang về lợi nhuận. Doanh thu và chi phí của trung tâm sinh lợi này sẽ được hạch toán độc lập đề nhờ đó tính toán được hiệu quả sinh lợi của nó.

16/10/2023
12/08/2023

Quảng cáo chéo (Cross Channel Marketing) có phải là xu hướng marketing tất yếu?
Quảng cáo chéo là gì?
Quảng cáo chéo (cross channel marketing) có thể hiểu là việc sử dụng những thông điệp khác nhau được xâu chuỗi thành hệ thống thông qua các kênh khác nhau, thay vì nhắm trúng đối tượng với cùng 1 thông điệp trên đa kênh.

Quảng cáo chéo cũng tương tự như quảng cáo đa kênh nhưng đòi hỏi một cách tiếp cận toàn diện hơn trong kế hoạch của bạn. Bạn cần phải gắn kết với đối tượng qua “đúng” kênh và “đúng” thời điểm. Sau đó bạn có thể hướng đối tượng mục tiêu từ một kênh họ tiếp cận đầu tiên đến các kênh khác.

quang-cao-cheo-cross-channel-marketing
Quảng cáo chéo – Cross Channel Marketing là gì?

Các phương pháp tối ưu quảng cáo chéo
Quảng cáo hiển thị (Display Advertising): Quảng cáo banner, quảng cáo video, quảng cáo tương tác,…
Email Marketing: Newsletters, email bán hàng,…
Quảng cáo trả tiền theo hiệu quả (CPC, CPM): Quảng cáo từ khóa của Google Adwords, quảng cáo ad network,…
PR Online: bài báo PR, chuyên mục tài trợ, tư vấn,…
Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm (Search Engine Optimization – SEO): SEO on-page, xây dựng hệ thống link liên kết,…
Affiliate Marketing: Chương trình hợp tác chéo, kết hợp nội bộ,…
Social Media Marketing (SMM): Facebook Group pages, Twitter marketing, Forum,…
Nội dung lan truyền (Viral content): Marketing du kích, viral video,…
Tối ưu hóa tỉ lệ chuyển đổi (Conversion Rate Optimization – CRO): Tăng tỉ lệ Click through rate – CTR
Mobile Marketing: Brand SMS, SMS chăm sóc khách hàng, SMS theo địa điểm…
Có nên áp dụng quảng cáo chéo?
Người tiêu dùng ngày nay đang ngày càng thông minh và có kinh nghiệm sử dụng các thiết bị công nghệ số trong việc lựa chọn, so sánh và quyết định mua hàng. Nếu một khách hàng nhận được thông tin về sản phẩm và buổi sáng trên điện thoại di động, họ có thể đi tới cửa hàng vào giờ nghỉ trưa để xem tận mắt và cuối cùng họ đặt hàng trực tuyến trên máy tính bảng sau khi trở về nhà vào buổi tối.

Vậy làm thế nào để đảm bảo rằng tất cả các thiết bị và các kênh có kết nối được với nhau một cách cân bằng và hiệu quả? Đó là điều mà tất cả các doanh nghiệp muốn đạt được, chìa khóa của thành công chính là sợi chỉ kết nối giữa các kênh, cung cấp cho người sử dụng những trải nghiệm “mượt mà” hơn và thống nhất khi trên mọi thiết bị.
Chính với quảng cáo chéo (cross channel marketing), khách hàng có thể sự dụng nhiều hơn một kênh với dùng một yêu cầu. Ý tưởng của chiến lược này là “trộn lẫn” các kênh khác nhau mang tới những trải nghiệm mượt mà hơn. “Click & collect” cho phép khách hàng đặt hàng online và đến cửa hàng để lấy sản phẩm. Mặc khác, một khách hàng cố gắng thử một vài bộ quần áo tại cửa hàng, thích nó nhưng lại lăn tăn chưa mua. Sau đó, cô ấy về nhà và cuối cùng lại đặt nó trực tuyến.

Hoặc là khách hàng nhận được một phiếu giảm giá qua email. Cô ấy đi đến cửa hàng xem sản phẩm nhưng lại đặt nó online để tận dụng được voucher. Những kênh này không còn cạnh tranh nữa, chúng bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau.

Với việc sử dụng quảng cáo chéo, thương hiệu đang tích cực gắn kết với người tiêu dùng, đáp ứng được nhu cầu và mong đợi của họ mà họ thậm chí còn chưa biết đến. Quảng cáo chéo chính là câu trả lời để thực sự khắc phục vấn đề tương tác. Sự hiện diện trên nhiều kênh và làm cho trải nghiệm người tiêu dùng nhất quán từ kênh này sang kênh tiếp theo. Và các marketer đã tạo ra điều này bằng cách giao tiếp với từng khách hàng theo cách thức dựa trên hành vi của khách hàng và những hành vi đó nói gì về sở thích của họ.
(nguồn: subiz.com.vn)

Công nghệ tài chính đối với phát triển kinh tế và hệ thống tài chính 03/06/2023

https://tapchitaichinh.vn/cong-nghe-tai-chinh-doi-voi-phat-trien-kinh-te-va-he-thong-tai-chinh.html
Những năm gần đây, công nghệ tài chính đã phát triển mạnh mẽ ở nhiều khu vực trên thế giới bao gồm các nền kinh tế phát triển, nền kinh tế mới nổi và đang phát triển. Công nghệ tài chính đã len lỏi vào trong tất cả lĩnh vực tài chính bao gồm ngân hàng, bảo hiểm, đầu tư, chứng khoán và bất động sản.
Công nghệ và đổi mới sáng tạo đã chuyển đổi ngành dịch vụ tài chính dựa trên nền tảng công nghệ tiên tiến như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, học máy và điện toán đám mây. Công nghệ tài chính đã len lỏi vào trong tất cả lĩnh vực tài chính bao gồm ngân hàng, bảo hiểm, đầu tư, chứng khoán và bất động sản.

Nhiều dịch vụ fintech đang được sử dụng bởi khách hàng tại các thị trường riêng biệt như: Trung Quốc, Singapore, Hoa Kỳ... Các công ty fintech đã kiến tạo các thị trường mới như, nền tảng cho vay ngang hàng (peer to peer lending), tài trợ đám đông (crowfunding), thanh toán giữa các quốc gia (cross-border payments)...

Các dịch vụ mới này được khách hàng như doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa hay khách hàng cá nhân ưa chuộng. Nhóm đối tượng này khó tham gia thị trường tài chính truyền thống do không hoặc khó đáp ứng các điều kiện về tín dụng hay thanh toán.

Công nghệ tài chính đóng một vai trò quan trọng trong thúc đẩy tài chính toàn diện. Theo báo cáo năm 2018 của ngân hàng thế giới, có đến 1,7 tỷ người trưởng thành không có cơ hội sử dụng dịch vụ của ngân hàng. Đặc biệt, trong các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển, việc sử dụng tiền mặt trong thanh toán còn phổ biến và quy mô các giao dịch kinh tế không được kiểm soát còn khá lớn.

Các dịch vụ như mở tài khoản, bảo hiểm và quản lý tài sản rất khó tiếp cận với một mức giá cả hợp lý cho khách hàng. Thậm chí ngay cả ở các nền kinh tế phát triển, các nhóm dân cư như người dân tộc thiểu số, người nhập cư hay cộng đồng tôn giáo thiểu số cũng ít có cơ hội được tiếp cận tới dịch vụ tài chính cơ bản.

Một số nghiên cứu chỉ ra rằng, các nhu cầu về dịch vụ tài chính không được đáp ứng bởi khu vực tài chính truyền thống tạo động lực cho sự phát triển của công nghệ tài chính.

Tại Trung Quốc, công nghệ tài chính giúp giảm bớt các hạn chế trong cung ứng dịch vụ tài chính như khoảng cách địa lý giữa người vay và chi nhánh ngân hàng, cho phép các công ty có điểm tín dụng thấp tiếp cận các nguồn tín dụng.

Ở Hoa Kỳ, các dịch vụ công nghệ tài chính đang hỗ trợ tín dụng ngân hàng với các món vay nhỏ và chiếm lĩnh thị trường cho vay mà trước đây ngân hàng không chú trọng tới. Một nghiên cứu tại Argentina chỉ ra rằng có tới 35% các khoản cho vay thông qua nền tảng ứng dụng fintech có thể không đạt các điều kiện vay vốn tại ngân hàng do điểm tín dụng thấp. Các dịch vụ công nghệ tài chính dễ bắt gặp hơn tại các quốc gia mà có mật độ chi nhánh ngân hàng trên dân số ở mức thấp.

Thực tiễn chứng minh vai trò quan trọng của fintech trong những khu vực mà hệ thống tài chính truyền thống hiện nay chưa đáp ứng được. Bên cạnh những tác động đáng kể của công nghệ tài chính tới tài chính toàn diện thì tác động đến kinh tế vĩ mô và chi phí tài chính cũng được ghi nhận.

Ứng dụng fintech đa dạng và phong phú tại các quốc gia nơi mà giá dịch vụ tài chính tương đối đắt đỏ và thiếu sự cạnh tranh giữa các nhà cung ứng dịch vụ. Chi phí dịch vụ tài chính ổn định ở mức cao trong nhiều thập kỷ trong bối cảnh sự xuất hiện của nhiều công nghệ hỗ trợ như máy tính, giao dịch điện tử trên nền tảng internet.

Sự ra đời và cạnh tranh của công nghệ tài chính buộc các định chế tài chính truyền thống phải đổi mới dịch vụ, tăng hiệu quả và giảm chi phí. Tín dụng được cung ứng bởi công ty fintech chiếm ưu thế trong các nền kinh tế có chi phí vốn cao.

Trong các nền kinh tế có thu nhập trung bình cao và khu vực ngân hàng có lợi nhuận biên cao thì tín dụng dựa trên fintech càng có cơ hội phát triển.

Chính sách tiền tệ chặt chẽ giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính toàn cầu (global financial crisis) cũng góp phần thúc đẩy các ứng dụng fintech, khi các chính sách này tạo ra nhiều rào cản hơn cho khách hàng khi muốn tiếp cận các nguồn tín dụng truyền thống. Các định chế truyền thống phải nâng cao năng lực quản trị rủi ro và theo đó cũng tạo ra những yêu cầu khắt khe với khách hàng.

Tóm lại, việc ứng dụng công nghệ tài chính có xu hướng phát triển mạnh mẽ trong bối cảnh khu vực ngân hàng thiếu tính cạnh tranh và do đó đạt mức lợi nhuận cao hơn với chi phí dịch vụ cao. Các công ty fintech ra đời có thể nâng cao hiệu quả và giảm chi phí dịch vụ tài chính thông qua các nền tảng ứng dụng tài chính mới dựa trên các công nghệ tiên tiến.

Công nghệ tài chính đối với phát triển kinh tế và hệ thống tài chính Những năm gần đây, công nghệ tài chính đã phát triển mạnh mẽ ở nhiều khu vực trên thế giới bao gồm các nền kinh tế phát triển, nền kinh tế mới nổi và đang phát triển. Công nghệ tài chính đã len lỏi vào trong tất cả lĩnh vực tài...

Want your school to be the top-listed School/college in Ho Chi Minh City?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Category

Website

Address


Ho Chi Minh City
70000