Nghiên cứu khoa học - VCED

Nghiên cứu khoa học - VCED

Share

Chuyên tổ chức các khóa về nghiên cứu khoa học: quản lý tài liệu theo ENNOTE, c?

08/09/2022

🆘 NHỮNG LỖI “CHẾT NGƯỜI” PHẢI TRÁNH TRONG SPEAKING VÀ CÁCH KHẮC PHỤC CHÚNG 🆘 ❌⛔️⛔️❎🔴
❎1. Dũng sĩ "diệt thời gian"
Vào phòng thi nhìn mặt giám khảo xong sợ quá, căng thẳng quá, bao nhiêu chữ nghĩa trong đầu bạn bỗng “bay sạch.”
Giám khảo hỏi gì cũng “Ờm…”, “À…”, “Ừ…” => Mất điểm.
💡Dũng sĩ phải làm sao?
Áp dụng ngay những cách “câu giờ” sau:
♦️That’s a tough/ difficult question. Let me think for a second/moment...
♦️That’s a very interesting question. Let me see...
♦️It’s very difficult to know exactly, but perhaps…
Nhớ là “áp dụng” chứ đừng “lạm dụng” các bạn nhé.
❎2. Nhiều ăn ít? Hay Liều ăn hết?
Theo bạn nói nhiều hay nói ít là tốt?
Câu trả lời đúng: Không cái nào cả!
Nói quá ít => bạn bỏ lỡ cơ hội thể hiện khả năng
Nói quá nhiều => “nói dài, nói dai, nói dại!”, câu trả lời sẽ lê thê, thiếu mạch lạc, chưa kể bạn có thể mắc thêm nhiều lỗi hơn!
💡Lối đi nào cho bạn?
Thuộc nằm lòng CÔNG THỨC VÀNG sau:
♦️2- 4 câu cho mỗi câu hỏi Part 1
♦️Part 2 đã có sẵn thời gian giới hạn
♦️3- 6 câu cho mỗi câu hỏi Part 3
❎3. Hỏi ngược lại examiner
Chẳng may gặp đúng topic mình chẳng biết gì, bạn sẽ làm thế nào?
Hỏi ngược lại examiner: “I don’t know, what do you think?”?
Im lặng chờ câu hỏi tiếp?
Nếu làm theo 1 trong 2 cách trên, bạn CHẮC CHẮN mất điểm!
💡Giải pháp:
Đây không phải cuộc thi test IQ, không biết thì bạn cứ bảo không biết!
♦️“I’m afraid I know nothing about this topic”
Hoặc
♦️Khéo léo lái đề của giám khảo để trả lời (cái này trong khóa Speaking One Kick của Mysheo dạy cực chi tiết và dễ hiểu luôn!)
❎4. "Câm như hến"
Mysheo vừa bảo không nên hỏi ngược lại giám khảo, thế nếu không nghe rõ câu hỏi thì sao nhỉ?
Bạn cứ mạnh dạn hỏi lại nhé! Nhưng hỏi như nào?
💡"Cạy vỏ hến":
Thay vì nói “I don’t understand”, bạn có thể hỏi:
♦️“Could you say that again, please?”
♦️“Do you mean…?” để thể hiện rằng mình cũng hiểu phần nào câu hỏi.
❎5. Làm một chú vẹt
Ví dụ cho việc “nhai lại” câu hỏi một cách máy móc:
Giám khảo hỏi “What’s your favourite sport to watch on TV?” và câu trả lời của bạn là “My favourite sport to watch on TV is basketball”
Tiêu chí chấm điểm của bài nói dựa trên việc bạn có thể truyền tải nội dung một cách phong phú hay không, cũng việc việc paraphrase các từ và cấu trúc một cách nhanh chóng.
💡"Thoát lốt vẹt":
Thay vì làm một chú vẹt, bạn có thể đáp một cách đơn giản: “I think it must be basketball.”

Nguồn: cô Huong Mysheo

Photos from Nghiên cứu khoa học - VCED's post 22/06/2020

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC THEO CHUẨN QUỐC TẾ.

I. MỤC TIÊU KHÓA HỌC.

💪💪 Giúp nghiên cứu sinh, học viên cao học, người làm nghiên cứu khoa học đẩy nhanh tiến độ luận văn, luận án và các đề tài khoa học.

💪💪 Trang bị phương pháp nghiên cứu khoa học theo tiêu chuẩn quốc tế cho những người có nhu cầu.

II. ĐỐI TƯỢNG KHÓA HỌC.

👉 Học viên sau đại học tại các cơ sở đào tạo cả khối tự nhiên và xã hội, đặc biệt là nghiên cứu sinh.

👉 Giảng viên các trường đại học có nhu cầu nâng cao kiến thức và phương pháp trong nghiên cứu khoa học theo chuẩn quốc tế.

👉 Nghiên cứu viên ở các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu….

👉 Những ai có nhu cầu trang bị kiến thức về nghiên cứu khoa học.

III. NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH.

1. Trích dẫn và quản lý tài liệu tham khảo theo Endnote

2. Cách xác định đề tài nghiên cứu.

3. Cách tìm tài liệu nghiên cứu.

4. Cách viết lược sử tài liệu nghiên cứu.

5. Cách viết đề cương nghiên cứu.

6. Cách triển khai, thu thập dữ liệu nghiên cứu.

7. Cách trình bày và phân tích dữ liệu nghiên cứu.

8. Cách viết và công bố bài báo khoa học

9. Cách viết luận án nghiên cứu.

10. Cách báo cáo (thuyết trình) kết quả nghiên cứu.

11. Đạo đức và ứng dụng kỹ năng nghiên cứu khoa học trong đời sống.

IV. PHỤ TRÁCH GIẢNG DẠY: PGS.TS. NGUYỄN THỜI TRUNG.

1. PGS.TS. Nguyễn Thời Trung hiện đang là Viện trưởng Viện khoa học tính toán, là một trong 10 nhà khoa học Việt Nam có tên trong top 100.000 nhà khoa học có trích dẫn nhiều nhất với 6.400 trích dẫn khoa học (theo dữ liệu Scopus). Chỉ số H-index là 44 (tức có 44 bài được trích dẫn từ 44 lần trở lên). Năm 2010, Đại học Quốc gia Singapore trao giải thưởng luận văn tiến sĩ xuất sắc nhất (Best PhD thesis Award). PGS.TS. Nguyễn Thời Trung phụ trách 10/11 chuyên đề của khóa học.

🕵️‍♀️🕵️‍♀️ Một số thông tin về PGS.TS. Nguyễn Thời Trung

🦸‍♂️🦸‍♂️ Nhà khoa học Việt Nam được mời sang Mỹ giảng dạy: https://bit.ly/2YajC8S

👍👍 PGS.TS. Nguyễn Thời Trung vinh dự vào danh sách các nhà khoa học hàng đầu thế giới: https://bit.ly/3cEikIt

💝💝 Nhà khoa học Việt Nam được trích dẫn nhiều nhất thế giới: https://bit.ly/3eUxHhg

2. TS. Nguyễn Trương Khang, tiến sĩ Hàn Quốc, hiện công tác tại Viện khoa học tính toán. TS.Nguyễn Trường Khang có nhiều công trình nghiên cứu khoa học trên các tạp chí uy tín quốc tế: SCI, SCIE, SCOPUS…

V. THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG THỨC HỌC.

1. Thời gian: 50 tiết, học vào 5 ngày chủ nhật. Sáng từ 8h-12h, chiều từ 13h-17h00.

2. Phương thức học: trên lớp KẾT HỢP với trực tuyến (giảng viên dạy trên lớp, người học ở xa có thể kết nối trực tuyến, tương tác với giảng viên và lóp học từ xa).

3. Địa điểm học: 45 Đinh Tiên Hoàng, phường Đakao, Quận 1, TP.HCM.

VI. HỌC PHÍ: 5.500.000 đồng/khóa.

😘🥰 Giảm 5% học phí cho người học đăng ký thanh toán trước ngày khai giảng.

🥰 🥰 Giảm 10% học phí cho nhóm đăng ký 5 người trở lên.

🥰 🥰 Phòng học máy lạnh, trang thiết bị hiện đại phục vụ cho dạy và học.

VII: KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC SAU KHÓA HỌC.

👍👍 Sau khóa học, học viên có đủ kiến thức làm việc.

👍👍 Trường Đại học Kinh tế – Luật, ĐHQG-HCM cấp chứng chỉ có giá trị toàn quốc.

Xem chi tiết và đăng ký trực tuyến tại đây: https://bit.ly/2Uow1F8
_______________________________________

VIII. LIÊN HỆ: CÔNG TY PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ TƯ VẤN VIỆT NAM (VCED).

🏣 Địa chỉ: 29 đường D1A, khu Nam Long, phường Phước Long B, Quận 9, TPHCM.

👩‍💻👩‍💻 Tư vấn chương trình: 0909.15.78.15 (Ms. Ngọc Minh)

👉👉Email: [email protected]

👉👉Có thể đăng ký trực tuyến tại website: www.vced.edu.vn

27/12/2019

👉 Xác định đề tài nghiên cứu thế nào cho phù hợp
👉 Cách thức xây dựng khung lý thuyết và khung phân tích luận án,
👉 Cách thức tìm kiếm tài liệu trong và ngoài nước, quản lý và trích dẫn tài liệu tham khảo.
👉 Xác định lỗ hổng nghiên cứu.
👉 Lựa chọn phương pháp tiếp cận và mô hình phân tích định lượng phù hợp.
👉Nguồn số liệu thế nào để đảm bảo độ tin cậy và thuyết phục hội đồng…

😭😭😭😭 Là những khó khăn thách thức đối với hầu hết nghiên cứu sinh. Đây là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự trễ hạn của luận án tiến sĩ, gây ra tâm lý lo lắng, ảnh hưởng đến công việc, thời gian cũng như tiền bạc của nghiên cứu sinh.

💥💥💥 Tham gia khóa học: THỰC HIỆN LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ sẽ giúp nghiên cứu sinh giải quyết những căng thẳng đó.😍😍

Scimago Journal & Country Rank 01/12/2019

Scopus là gì?

Scopus là cơ sở dữ liệu chỉ mục chứa bản tóm tắt và trích dẫn các bài báo khoa học và thuộc sở hữu của Nhà xuất bản Elsevier (Hà Lan).

Scopus được xây dựng từ tháng 11 năm 2004, dành cho thuê bao trực tuyến, có trả phí. Đó là một cơ sở dữ liệu thư mục chứa bản tóm tắt và trích dẫn các bài báo khoa học. Scopus có chứa hàng chục triệu bản tóm tắt, gần 22.000 danh mục từ hơn 5.000 nhà xuất bản, trong đó hơn 30.000 là tạp chí đánh giá chuyên ngành trong khoa học, kỹ thuật, y tế, xã hội, nghệ thuật và nhân văn.

Để được liệt kê vào danh sách Scopus, các tạp chí cũng được lựa chọn nghiêm ngặt. Số lượng tạp chí nằm trong Scopus gần gấp đôi số lượng nằm trong ISI, nhưng không bao gồm tất cả mà chỉ chứa khoảng 70% số lượng của ISI. Tuy nhiên, nguồn Scopus chỉ bao gồm các bài báo xuất bản từ năm 1995 trở lại đây. Cách đánh giá chất lượng các tạp chí của Scopus cũng dựa vào chỉ số ảnh hưởng IF (Impact Factor), nhưng nội dung trang web của Scopus (www.scopus.com) rất tiện ích khi sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, từ tra cứu tài liệu đến đánh giá tình hình nghiên cứu khoa học của các cá nhân và các cơ sở đào tạo, nghiên cứu...

Việt Nam đã có duy nhất tạp chí toán học Acta Mathematica Vietnamica (Viện Toán học Việt Nam) được lọt vào danh sách Scopus. Trong khi đó, Malaysia đã có 48 và Thái Lan 21 tạp chí được công nhận xếp hạng vào hệ thống Scopus.

Làm thế nào để biết một tạp chí là Scopus-indexed?

https://www.scimagojr.com/

Scimago Journal & Country Rank The Shape of Science is an information visualization project whose aim is to reveal the structure of science. Its interface has been designed to access the bibliometric indicators database of the SCImago Journal & Country Rank portal.

Web of Science Master Journal List 01/12/2019

ISI là gì?

ISI là viết tắt của Institute for Scientific Information (Viện Thông tin Khoa học) – Hoa Kỳ. ISI được thành lập năm 1960 bởi Eugene Garfield (1925-2017).

ISI được Thomson Scientific & Healthcare mua lại vào năm 1992, được biết đến với tên Thomson ISI và hiện nay là một phần của Intellectual Property & Science thuộc Thomson Reuters. Năm 2016, Intellectual Property & Science đổi tên thành Clarivate Analytics.

ISI (Hoa Kỳ) là cơ sở dữ liệu phong phú với hơn 10.000 tạp chí được lựa chọn khách quan và có xử lý của các chuyên gia để phân loại theo các lĩnh vực, trong đó:

- Khoa học tự nhiên với hơn 7.100 tạp chí có từ năm 1900 đến nay,

- Khoa học xã hội với hơn 2.100 tạp chí từ năm 1956.

- Nghệ thuật và nhân văn với hơn 1.200 tạp chí từ năm 1975.

ISI đã xếp các tạp chí có uy tín của:

- Khoa học tự nhiên:

Science Citation Index Expanded (SCI-E)

- Khoa học xã hội:

Social Sciences Citation Index (SSCI)

Arts & Humanities Citation Index (AHCI)

Master Journal lists: http://mjl.clarivate.com/

Làm thế nào để biết một tạp chí là ISI-indexed?

Làm thế nào để biết 1 bài báo đã vào cơ sở dữ liệu của ISI và 1 tác giả có bao nhiêu bài báo ISI?

ĐIẾC TAI LÀ TẠI HƯỚNG ĐÌNH
CẢ LÀNG ĐIẾC HẾT CHỨ MÌNH EM ĐÂU

Theo TS. Phan Thị Huyền Trang
Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia HN

Web of Science Master Journal List

01/12/2019

THẾ NÀO LÀ "CƠ SỞ KHOA HỌC"?

Hai chữ "khoa học" đang trở thành một loại ngôn ngữ thời thượng của một số người muốn tăng trọng lượng cho phát biểu của mình. Các quan chức, không chỉ riêng ngành y tế, sử dụng hai chữ đó như là một dấu ấn cho độ tin cậy của những nhận xét. Nhưng tôi e rằng hai chữ "khoa học" đã bị hiểu nhầm, rồi từ hiểu nhầm dẫn đến lạm dụng, và lạm dụng khoa học dẫn đến việc gây khó khăn cho nhiều người và bất bình đẳng trong xã hội.

Khi được hỏi trên cơ sở nào mà Bộ Y tế ra quy định người lái xe gắn máy trên 50cc phải có chiều cao trên 145cm và cân nặng trên 40kg, các quan chức y tế cho biết họ dựa trên "cơ sở khoa học". Họ giải thích thêm rằng đó là những số liệu về chiều cao và trọng lượng trung bình tính từ một cuộc điều tra nhân trắc học ở nước ta vào thập niên 1990. Phát biểu của một quan chức y tế cho biết: "Người Việt Nam 20-24 tuổi, nam có chiều cao 163,72 + (-) 4,32cm, cân nặng là 52,11+(-)4,70 và nữ có chiều cao lá 153,00 +(-)4,42cm, cân nặng là 44,60 + (-) 4,22. [...]. Như vậy việc quy định người có chiều cao dưới 145cm hoặc cân nặng dưới 40kg thì không được lái xe A1 là có cơ sở khoa học và cũng phù hợp với hầu hết người dân Việt Nam". Ngoài ra, Bộ Y tế còn cho biết họ đã tham khảo ý kiến của các chuyên gia về nhân trắc học, xã hội học, chuyên gia pháp luật, các giáo sư và những vị có uy tín trong ngành ý tế.

Thật khó hiểu được cái logic biện chứng cho tiêu chuẩn thể trạng về an toàn giao thông bằng một liên kết giữa những con số trung bình và quy định về một ngưỡng chiều cao hay cân nặng. Thật ra một liên kết như vậy càng không thể xem đó là giải thích "khoa học". Thế mà câu hỏi đặt ra là: CƠ SỞ KHOA HỌC LÀ GÌ?

Theo cách hiểu được cộng đồng khoa học nhất trí, một quy định hay phát biểu được xem là KHOA HỌC nếu hội đủ ít nhất 3 điều kiện: (i) dữ liệu thật, (ii) công bố trước công chúng và (iii) tính tái xác định. Một quy định hay phát biểu không hội đủ ba điều iện này không thể xem là mang tính khoa học được.

Khoa học dựa vào sự thật hay dữ liệu thật. Những sự thật phải được quan sát hay thu thập và đo lường bằng những phương pháp chuẩn. Điều quan trọng và cần thiết trong khoa học là không chỉ sự thật mà dữ liệu có liên quan đến vấn đề đang được điều tra. Ở đây vấn đề đang được quan tâm là và an toàn giao thông và yếu tố gây nên tai nạn giao thông, chứ không phải những con số thống kê mang tính mô tả về chiều cao, cân nặng hay vòng ngực. Do đó, việc đưa ra những con số trung bình từ một cuộc điều tra cộng đồng (chưa hẳn là một nghiên cứu khoa học) chẳng liên quan gì đến an toàn giao thông không thể xem là bằng chứng khoa học được.

Khoa học không dựa vào kinh nghiệm cá nhân (dù cá nhân đó là chuyên gia) hay suy luận theo cảm tính. Theo y học thực chứng, ý kiến cá nhân của các giáo sư và chuyên gia có giá trị khoa học thấp nhất. Điều này đúng vì lịch sử y tế và y học cho thấy suy luận theo cảm tính đã gây ra nhiều tác hại cho bệnh nhân. Do đó dựa vào kiến thức của chuyên gia thì không thể nói đó là bằng chứng khoa học được.

Bằng chứng khoa học là những kết quả và dữ liệu nghiên cứu đã được công bố trên các tập san khoa học chuyên ngành, các tập san này có hệ thống bình duyệt (phản biện) từ các chuyên gia. Tác giả đã xem qua thư viện y sinh học quốc tế và chưa thấy một bất cứ nghiên cứu nào từ Việt Nam về mối liên hệ giữa chiều cao, cân nặng hay vòng ngực và tai nạn giao thông. Các nghiên cứu từ nước ngoài cho thấy chẳng có mối tương quan nào giữa chiều cao hay trọng lượng và tai nạn giao thông, nhất là ở nữ. Do đó chưa thể nói rằng quy định của Bộ Y tế về thể trạng để cấp bằng lái xe gắn máy là dựa vào bằng chứng khoa học được.

Để mang tính chất khoa học, tất cả các nghiên cứu đều phải có khả năng TÁI XÁC NHẬN. Liên quan đến đặc điểm này, có thể nói mối liên hệ giữa chiều dài của chân và chiều cao mang tính khoa học, bởi vì nghiên cứu từ Việt Nam, Đài Loan (Trung Quốc), Trung Quốc đại lục và Nhật Bản đều cho ra một kết quả nhất quán: chiều dài của chân bằng 46% chiều cao khi đứng. Kết quả của một nhiên cứu đơn thuần chưa thể xem là mang tính khoa học nếu kết quả này chưa được lặp lại nhiều lần trong nhiều quần thể khác nhau. Do đó, giả định của Bộ Y tế cho rằng chiều dài của chân bằng 51,7% chiều cao (để quy định chiều cao tối thiểu 145cm) là không có cơ sở khoa học. Cho đến nay chúng ta chưa thấy bất kỳ mối liên hệ nào giữa thể trạng và tai nạn giao thông tại Việt Nam, vì vậy chúng ta có quyền nghi ngờ "cơ sở hoa học" của Bộ Y tế.

Y tế và y khoa ngày nay dựa vào bằng chứng khoa học (còn gọi là y học thực chứng - evidence - based medicine). bằng chứng khoa học có thể không hoàn hảo, nhưng dụa vào bằng chứng khoa học chúng ta ít sai hơn là dựa vào kinh nghiệm và niềm tin duy ý chí. Do đó, ở các nước tiên tiến ngày nay, mọi chính sách y yế công cộng đều dựa vào bằng chứng từ nghiên cứu khoa học và kiến thức thực địa chứ không phải dựa vào ý kiến cá nhân của chuyên gia hoặc một chỉ đạo duy ý chí nào.

Chính vì dựa vào bằng chứng khoa học về mối liên hệ giữa việc thắt dây an toàn và tai nạn giao thông mà ở các nước phương Tây, nhà nước có quy định bắt buộc người lái xe hành khách xe ô tô phải thắt dây an toàn, hay người đi xe gắn máy và xe đạp phải đội nón bảo hiểm. Nhưng vì chưa đủ bằng chứng khoa học về thể trạng và an toàn giao thông nên chưa có nước nào dựa vào chiều cao, cân nặng hay vòng ngực để hạn chế cấp bằng lái xe gắn máy. Thật vậy, ở các nước phương Tây, người khuyết tật, người mắc bệnh mãn tính như tiểu đường, thấp khớp, cao huyết áp, v.v... cũng được quyền lái xe.

Những lý giải trên đây cho thấy rõ ràng rằng quy định của Bộ Y tế chẳng những không có cơ sở khoa học mà còn không phù hợp với trào lưu quốc tế, vô hình trung gây khó khăn cho hàng triệu người, nhất là phụ nữ và gây ra bất bình đẳng xã hội một cách nghiêm trọng.

Theo GS. Nguyễn Văn Tuấn.

30/11/2019

THẾ NÀO LÀ MỘT "BÀI BÁO KHOA HỌC"?✍️✍️✍️✍️📜📜

Bài báo khoa học (tiếng Anh: scientific paper hay có kho viết tắt là paper) là một bài báo có nội dung khoa học được công bố trên một tập san khoa học (scientific journal) đã qua hệ thống bình duyệt (peer-review) của tập san. Ở đây có 2 vấn đề được bàn đến: NỘI DUNG BÀI BÁ, TẬP SAN KHOA HỌC VÀ HỆ SỐ ẢNH HƯỞNG.

1. NỘI DUNG KHOA HỌC của một bài báo.

👉 Thứ nhất, bài báo mang tính cống hiến nguyên gốc (original contributions). Hai chữ "nguyên gốc" ở đây có thể hiểu theo hai nghĩa: dữ liệu mới và ý tưởng hoặc phương pháp mới. Một bài báo nguyên gốc là bài báo có dữ liệu chưa từng công bố trước đây. Cách hiểu này để phân biệt với những bài báo tổng quan.

Một công trình nghiên cứu nếu được thiết kế tốt sẽ có hàng loạt bài báo gốc chứ không phải chỉ một bài duy nhất.

Ý nghĩa thứ hai của bài bá "nguyên gốc" là những bài báo có ý tưởng hoặc phương phá mới. Đó là những công trình nghiên cứu đề ra một cách tiếp cận mới, một ý tưởng mới hay một cách diễn giải mới. Có khi một công trình nhiên cứu có thể có nhiều phát hiện mới và cần phải có nhiều bài báo nguyên gốc để truyền đạt những phát hiện này. Cống hiến mới cho khoa học không chỉ phát hiện mới, mà có thể bao hàm phương pháp mới để tiếp cận vấn đề cũ, hay một cách diễn dịch mới cho phát hiện xa xưa. Do đó, các bài báo khoa học ở dạng này cũng có thể xem là những cống hiến nguyên gốc.

Tất cả các bài báo thể hiện những cống hiến nguyên gốc, trên nguyên tắc, đều phải thông qua hệ thống bình duyệt trước khi được công bố. Một bài báo chưa qua hệ thống bình duyệt chưa thể xem là một "bài báo khoa học".

👉 Thứ hai, những bài báo nghiên cứu ngắn (short communications, hay research letters hay short paper...v.v...). Đây là những bài báo rất ngắn (chỉ khoảng từ 600-1000 chữ, tùy theo quy định của tập san) mà nội dung chủ yếu tập trung giải quyết một vấn đề rất hẹp hay báo cáo một phát hiện nhỏ nhưng quan trọng. Những bài báo này vẫn phải qua hệ thống bình duyệt nghiêm chỉnh nhưng mức độ rà soát không cao như các bài báo cống hiến nguyên gốc. Cần phải nói thêm ở đây phần lớn các bài báo công bố trên tập san Nature (một tập san uy tín vào hàng số 1 trong kha học) là Letter, nhưng thực chất là bài báo nguyên gốc có giá trị khoa học rất cao, chứ không phải những lá thư thông thường.

👉 Thứa ba là những báo cáo trường hợp (case reports).

Những báo cáo trường hợp cũng qua bình duyệt, nhưng nói chung không khó khăn như những bài báo nguyên gốc.

👉 Thứ tư là những bài tổng quan (reviews)

Những bài điểm báo thường tập trung một chủ đề hẹp nào đó mà tác giả pahi3 đọc tất cả những bài báo liên quan, tóm lược lại và bàn qua những điểm chính, cũng như đề ra một số đường hướng nghiên cứu cho chuyên ngành. Những bài điểm báo thường không qua hệ thống bình duyệt, hay có qua bình duyệt nhưng không nghiêm chỉnh như những bài báo khoa học nguyên gốc.

👉 Thứ năm là những bài xã luận (editorials).

Xã luận cũng không phải là một cống hiến nguyên thủy, do đó giá trị của nó không thể tương đương những bài báo nguyên thủy. Thông thường các bài xã luận không qua hệ thống bình duyệt mà chỉ được ban biên tập đọc qua và góp vài ý nhỏ trước khi công bố.

👉 Thứ sáu là nhưng thư cho tòa soạn (letters to the editor).

Nhiều tập san dành hẳn một mục cho bạn đọc phản hồi những bài báo đã đăng trên tập san. Đây là những bài viết rất ngắn (chỉ từ 300-500 chữ, hay một trang, tùy theo quy định của tập san) của bạn đọc về một điểm nhỏ nào đó của bài báo đăng. Những thư này thường phê bình hay chỉ ra một sai lầm nào đó trong bài báo khoa học đã đăng. Những thư bạn đọc không phải qua hệ thống bình duyệt nhưng thường gửi cho tác giả bài báo nguyên thủy để họ đáp lời hay bàn thêm. Tuy nói là thư bạn đọc, nhưng không phải thư nào cũng được đăng nếu không nêu được vấn đề một cách súc tích và có ý nghĩa.

👉👉 Sau cùng là những bài báo trong kỷ yếu hội nghị. Có 2 loại bài báo trong nhóm này: nhóm 1 gồm những bài báo ngắn (proceeding paper) và nhóm 2 gồm những bìa báo tóm lược (abstracts)

2. TẬP SAN KHOA HỌC VÀ HỆ SỐ ẢNH HƯỞNG.

Tập san khoa học là những tờ báo xuất bản định kỳ, có thể mỗi tuần, mỗi tháng hay mỗi ba tháng, thậm chí 6 tháng 1 lần. Mục tiêu chính của các tập san khoa học là chuyên chở thông tin đến giới nghiên cứu khoa học nhằm từng bước phát triển khoa học. các tập san khoa học còn là những diễn đàn khoa học để giới khoa học có cùng cuyên môn trao đổi học hỏi lẫn nhau.

Uy tín của một tập san thường được đánh giá qua hệ số ảnh hưởng (Impact Factor hay IF). IF được tính toán dựa vào số lượng bài báo công bố và tổng số lần những bài báo đó được tham khảo hay trích dẫn (citations). Do đó tập san nào có hệ số IF cao cũng được hiểu ngầm là có uy tín và ảnh hưởng cao.

3. Ý NGHĨA XÃ HỘI CỦA BÀI BÁO KHOA HỌC.

Một bài báo chỉ khi nào được xem là "bài báo khoa học" nếu nó qua cơ chế bình duyệt và được công bố trên một tập san chuyên môn. Những bài báo xuất hiện dưới dạng bản tóm tắt hay thậm chí bài báo ngắn không thể xem là những bài báo khoa học bởi vì nó không đáp ứng được hai yêu cầu trên.

Theo GS. Nguyễn Văn Tuấn

( 💥💥💥💥Để lại thông tin để được tư vấn miễn phí)

30/11/2019

VĂN HÓA KHOA HỌC

Văn hóa khoa học bao gồm những quy ước, giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy trong quá trình tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên. Văn hóa khoa học có các đặc điểm:

Thứ nhất là THÓI QUEN ĐẶT CÂU HỎI.

Đứng trước sự kiện hay sự vật, người có văn hóa khoa học phải đặt câu hỏi tại sao, đào sâu suy nghĩ và từ đó phát hiện vấn đề. Một khi đã phát hiện vấn đề thì giải pháp để giải quyết cũng có thể theo sau. Chính vì thế mà có người nói trong khoa học, biết được câu hỏi, biết được vấn đề cũng có ý nghĩa là thành công 50% trong nghiên cứu.

Kỹ năng phát hiện vấn đề được hệ thống giáo dục phương Tây đặc biệt chú trọng ngay từ bậc tiểu học: Ngay từ lúc mới vào học, học sinh đã được khuyến khích tự mình nghiên cứu thế giới chung quanh, đặt câu hỏi và tranh luận trước lớp học. Trong khi ở Việt Nam, phương pháp giáo dục phổ thông đòi hỏi học sinh phải nhồi nhét một số kiến thức cơ bản và giải quyết những vấn đề theo một công thức đã định sẵn, nhưng không khuyến khích cách đặt vấn đề và phát hiện vấn đề.

Một điểm đáng chú ý khác là giáo dục Việt Nam một cách vô hình đã đặt người học sinh và sinh viên vào một vị trí học thuật khiêm tốn. Tôn ti trật tự học thuật đó đòi hỏi người học sinh và sinh viên phải biết mình đang ở vị trí không có quyền đặt vấn đề, không có quyền tranh luận. Hệ quả là chưa lên tiếng đã bị phê bình ngay "con nít mới học vài ba chữ biết gì mà nói" hay "không biết dựa cột mà nghe", thậm chí "hỗn với thầy cô". Thái độ như thế làm thui chột khả năng phát hiện vấn đề và suy giảm sự tự tin của học sinh.

Thứ hai là: NÓI CÓ SÁCH MÁCH CÓ CHỨNG

Kiến thức mang tính kế thừa từ đời này sang đời khác. Thành ra đối với người có tinh thần khoa học nghiêm túc, phát biểu phải có sơ sở và tài liệu tham khảo là điều đương nhiên....Ở Việt Nam, văn hóa "nói có sách mách có chứng" này chưa được chấp nhận rộng rãi...

Cần phải nói thêm rằng "nói có sách mách có chứng" có nghĩa là dựa vào tài liệu tham khảo gốc mà người phát biểu có trong tay, tận mắt nhìn thấy và từng đọc qua. Nếu không như vậy thì có thể dẫn lại từ người khác (hẳn nhiên phải đáng tin cậy) và phải ghi rõ điều này. Trong khá nhiều bài báo nghiên cứu khoa học ở Việt Nam, nhiều tác giả có xu hướng trích dẫn tài liệu theo những bài bá khác mà không buồn ghi xuất xứ.

Thứ ba là TÔN TRỌNG SỰ THẬT KHÁCH QUAN.

Khoa học dựa vào những sự thật có thể thấy, có thể nghe, có thể sờ được chứ không dựa vào kinh nghiệm cá nhân hay suy luận theo cảm tính. ĐIỀU QUAN TRỌNG VÀ CẦN THIẾT TRONG KHOA HỌC LÀ KHÔNG CHỈ SỰ THẬT, MÀ LÀ SỰ THẬT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ ĐANG ĐƯỢC ĐIỀU TRA. Những sự thật này phải được thu thập: (i) có tổ chức, trực tiếp và khách quan; (ii) độc lập với lý thuyết; và (iii) một cách tin cậy để làm nền tảng cho suy luận.

Thứ tư là LÀM VIỆC VÀ THỰC HÀNH DỰA VÀO BẰNG CHỨNG KHÁCH QUAN.

Trong khoa học, niềm tin và kinh nghiệm cá nhân không thể xem là khách quan và không thể là nền tảng để hành động nếu những kinh nghiệm đó chưa qua thử nghiệm khách quan.

Người Việt còn quá quen với thói quan phát biểu theo kinh nghiệm cá nhân, niềm tin, thậm chí theo cảm tính.

Thứ năm là HỆ THỐNG HÓA NHỮNG GÌ MÌNH BIẾT, KHÔNG GIẤU GIẾM.

Trong hoạt động khoa học, tất cả những giả thuyết, phương pháp nghiên cứu, phương pháp phân tích, kết quả và ý nghĩa của kết quả phải được hệ thống hóa trong một báo cáo khoa học và công bố cho thế giới biết. Đặc điểm "văn hóa mở" này rất quan trọng và có lẽ là một yếu tố thúc đẩy phát triển khoa học ở các nước phương Tây.

Ở Việt Nam, "văn hóa giấu nghề" hình như vẫn tồn tại trong không ít nhà khoa học. Những câu chuyện về giáo sư cố tình không truyền hết kỹ năng cho sinh viên và nghiên cứu sinh ở nước ta đối khi nghe qua rất khôi hài, nhưng tiếc là lại thực tế.

Thứ sáu là DÂN CHỦ.

Hoạt động khoa học là một môi trường DÂN CHỦ, hiểu theo nghĩa tất cả các phát kiến của nhà khoa học đều được đồng nghiệp bình duyệt nghiêm túc, và ngược lại, nhà khoa học cũng có cơ hội bình duyệt các nghiên cứu của đồng nghiệp mình.

Tinh thần dân chủ khoa học còn có nghĩa là các nhà khoa học lớn và có kinh nghiệm phải lắng nghe ý kiến của các nhà khoa học trẻ, chứ không phải tình trạng "cây đa cây đề" dùng uy tín cá nhân để lấn ép đồng nghiệp trẻ.

Tinh thần DÂN CHỦ này chưa thể hiện rõ ở Việt Nam vì vẫn còn nhiều giáo sư lâu năm tự cho mình cái quyền "lên lớp" giới trẻ mà không chịu lắng nghe hay đánh giá thấp ý kiến của giới trẻ. Có nhiều vị không chịu tiếp cận một cái nhìn mới về một vấn đề cũ mà hệ quả là các trao đổi chỉ có một chiều làm cho hoạt động khoa học mất hào hứng và tất nhiên là thiếu dân chủ.

Thứ bảy là KẾ THỪA.

Không có kế thừa, khoa học sẽ đi vào bế tắc rất nhanh. Ở các nước phương Tây, người ta có những kế hoạch cụ thể, kể cả lập ra những ngân sách đặc biệt để nuôi dưỡng thế hệ nghiên cứu khoa học trẻ, những người đã có học vị tiến sĩ và đang làm nghiên cứu hậu tiến sĩ. Ngân sách này được phân phối cho các trung tâm nghiên cứu có điều kiện và cơ sở vật chất sử dụng các nhiên cứu sinh hậu tiến sĩ và từng bước đào tạo họ thành những nhà nghiên cứu độc lập, những con chim đầu đàn. Ngoài ra, trong các hội nghị quốc gia, những "cây đa cây đề" thậm chí nhường những chức vụ và vai trò quan trọng cho giới trẻ đảm trách để chuẩn bị cho một tương lai kế thừa sự nghiệp của những người đang sắp hưu.

Ở VIệt Nam, việc chuẩn bị cho thế hệ kế tiếp vẫn là một... Ý NGUYỆN. Nhiều nhà khoa học trẻ được đào tạo bài bản từ trong và ngoài nước vẫn chỉ là cái bóng bên cạnh các "cây đa cây đề", chưa được giao những trọng trách. Có người chờ mòn mỏi và không đủ kiên nhẫn nên đành phải tìm ra nước ngoài và khả năng quay về nước thật thấp.

Thứ tám là TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI.

Bản chất của nghiên cứu khoa học là nhân đạo và vì thế hoạt động khoa học phải có trách nhiệm với xã hội. Người làm khoa học nói cho cùng, cũng là một thành viên trong xã hội, chứ không thể nào đứng ngoai2hay đứng cao hơn xã hội. Nhà khoa học phải thông qua cơ chế dân chủ để truyền đạt tri thúc, để có tiếng nói. Không thông qua cơ chế này là biểu hiện của sụ kiêu ngạo

Theo GS. Nguyễn Văn Tuấn

27/11/2019

💥 𝗣𝗛Â𝗡 𝗕𝗜𝗘̣̂𝗧 𝗞𝗛𝗢𝗔 𝗛𝗢̣𝗖 𝗖Ơ 𝗕𝗔̉𝗡 🎗 𝗞𝗛𝗢𝗔 𝗛𝗢̣𝗖 Ứ𝗡𝗚 𝗗𝗨̣𝗡𝗚.

Ở Việt Nam, có quan điểm cho rằng nghiên cứu khoa học ứng dụng thì không cần công bố quốc tế nhưng nghiên cứu cơ bản thì việc công bố quốc tế là yêu cầu bắt buộc. Theo GS. Nguyễn Văn Tuấn điều này là sai vì trong thực tế cả hai đều công bố quốc tế được.

Để phân biệt giữa hai thực thể thì cần phải có tiêu chí: Theo GS. Nguyễn Văn Tuấn, có thể dùng 3 tiêu chí: (1) động cơ nghiên cứu; (2) Sản phẩm nghiên cứu, và (3) Giá trị nội tại.

🖍 Động cơ của khoa học cơ bản là mở rộng tri thức của con người. Còn khoa học ứng dụng thì có động cơ chính là ứng dụng tri thức, biến đổi hoặc cải tiến phương pháp, hay giải quyết vấn đề thực tế. Nếu khoa học cơ bản phát hiện ra gen, thì khoa học ứng dụng có thể phân tích xem gen đó có liên quan đến bệnh tật hông, nếu có thì có thể can thiệp để giảm nguy cơ mắc bệnh. Khoa học ứng dụng cũng có thể là những nghiên cứu thực tế hơn như cải tiến một phương pháp hiện hành cho một điều kiện mới.

🖍 Sản phẩm nghiên cứu của khoa học cơ bản là tri thức mới mang tính lý thuyết và dữ liệu mới. Các nhà khoa học cơ bản không biết công trình và kết quả của họ sẽ ứng dụng cho cái gì. Khoa học ứng dụng là những công trình nghiêng về ứng dụng những tri thức hiện hành để có những kết quả cho một mục đích cụ thể.

🖍 Khái niệm "internal goods" - giá trị nội tại - là những giá trị bao hàm trong hành động thực tiễn. Đối với khoa học cơ bản, giá trị nội tại hiểu thế giới chung quanh. Đối với khoa học ứng dụng, giá trị nội tại là thay đổi thế giới (hoặc gìn giữ không cho thay đổi)

Nhưng có những trường hợp mà lằn ranh giữa khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng không rạch ròi như những tiêu chí trên.

(Theo GS. Nguyễn Văn Tuấn, )

27/11/2019

THẾ NÀO LÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC?
==========-✍️✍️✍️✍️✍️-=========

Nghiên cứu khoa học nói một cách ngắn gọn: là một hoạt động của con người nhằm mở rộng tri thức qua các phương pháp khoa học.

Theo cách hiểu này, có hai điều kiện để một hoạt động có thể xem là nghiên cứu khoa học: MỤC TIÊU và PHƯƠNG PHÁP

Các hoạt động thường ngày mới nhìn vào thì thấy cũng chẳng khác gì nghiên cứu khoa học, nhưng thật ra đó không phải là nghiên cứu khoa học do không đáp ứng hai điều kiện cần thiết: MỤC TIÊU và PHƯƠNG PHÁP. Vì không phân biệt được hai điều kiện này nên nhiều người không hiểu thế nào là nghiên cứu khoa học.

Nghiên cứu khoa học phải nhằm mục tiêu phát triển tri thức mới, hay đóng góp thêm cho kho tàng tri thức của con người. Những tri thức này phải mang tính phổ quát hay có thể khái quát hóa. Một bà nội trợ có thể ra chợ khảo sát giá cả thực phẩm và có những so sánh thú vị, nhưng đó không phải là nghiên cứu khoa học, bởi vì tri thức đó không thể khái quát hóa.

Nghiên cứu khoa học là một cuộc điều tra hay khảo sát có hệ thống. Hai chữ "Hệ thống" ở đây có nghĩa là công trình nghiên cứu được thực hiện theo những quy trình chuẩn. Quy trình chuẩn trong nghiên cứu khoa học gồm 8 bước: đặt câu hỏi, thu thập thông tin hiện hành, đặt giả thuyết; thử nghiệm và thu thập dữ liệu; phân tích dữ liệu; diễn giải kết quả phân tích; công bố kết quả và tái kiểm định giả thuyết. Trong quy trình này PHƯƠNG PHÁP đóng vai trò quan trọng, vì chính PHƯƠNG PHÁP quyết định tính khoa học của một hoạt động và phân định hoạt động đó là KHOA HỌC hay PHI KHOA HỌC.

Bởi vì phương pháp khoa học dựa trên lý thuyết và giả định cho nên kết quả nghiên cứu khoa học phải được diễn giải bằng bằng chứng, bằng lý luận dựa vào logic hay lập luận toán học, không đi ra ngoài phạm vi của dữ liệu cho phép. Trong khi đó các hoạt động mang tính tôn giáo thường dựa vào niềm tin và sự trung thành.

(Theo GS. Nguyễn Văn Tuấn)

Want your school to be the top-listed School/college in Ho Chi Minh City?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Telephone

Address


669 QL1A, Khu Phố 3, Quận Thủ Đức
Ho Chi Minh City
700000

Opening Hours

Monday 08:00 - 17:00
Tuesday 07:00 - 17:00
Wednesday 08:00 - 17:00
Thursday 08:00 - 17:00
Friday 07:00 - 17:00
Saturday 07:00 - 17:00
Sunday 07:00 - 17:00