Hanbridge - Nhịp cầu Hán ngữ

Hanbridge - Nhịp cầu Hán ngữ

Share

Luyện HSK 1-5; Tiếng Trung giao tiếp cho người mới bắt đầu; Giờ học, sỉ số linh hoạt

07/11/2022

📣📣 𝐇𝐀𝐍𝐁𝐑𝐈𝐃𝐆𝐄 𝐊𝐇𝐀𝐈 𝐆𝐈𝐀̉𝐍𝐆 𝐊𝐇𝐎́𝐀 𝐇𝐎̣𝐂 📌📌

💎Người xưa có câu, 玉不琢, 不成器 人不学, 不知道 (“Ngọc bất trác, bất thành khí; Nhân bất học, bất tri đạo"), ý nói con người mà không học tập, trau dồi kiến thức, tìm tòi học hỏi thì khó mà hiểu được đạo lý làm người, cũng giống như viên ngọc mà không mài giũa thì cũng không thể trở thành những vật tinh xảo đẹp đẽ được. Câu nói trong “Tam tự kinh” này muốn răn dạy con người cần phải không ngừng nỗ lực học tập, có như thế mới trở thành nhân tài. Và thực vậy, giáo dục nói chung hay việc học nói riêng chưa bao giờ nằm ngoài những ưu tiên hàng đầu của một quốc gia. Bởi lẽ, dẫu cho đứng từ một góc nhìn có phần "thực dụng" và "vật chất" mà nói, “An investment in knowledge pays the best interest” (Tạm dịch: "Đầu tư vào tri thức đem lại lợi nhuận cao nhất")

🔊Việc học đã quan trọng, việc học ngoại ngữ lại càng quan trọng hơn, bởi như Nelson Mandela từng nói “If you talk to a man in a language he understands, that goes to his head. If you talk to him in his language, that goes to his heart" (Tạm dịch: Nếu bạn nói chuyện với một người bằng ngôn ngữ mà họ hiểu, những điều đó sẽ được khắc ghi trong đầu họ; nhưng nếu bạn giao tiếp bằng chính ngôn ngữ của họ, những điều bạn nói sẽ khắc sâu vào tim họ.)

🀄Là quốc ngữ của một đất nước đông dân với nền kinh tế được cho là đứng thứ 2 trên thế giới, tiếng Trung dần trở nên quen thuộc với chúng ta hơn bao giờ hết, khi mà tùy ý vào một siêu thị hay một trang mua sắm điện tử bất kỳ, ta đều dễ dàng bắt gặp các mặt hàng có xuất xứ Trung Quốc. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc nhu cầu sử dụng tiếng Trung để giao tiếp, giao thương trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Có thể nói, minh chứng rõ rệt nhất trong nhu cầu sử dụng tiếng Trung là việc mở rộng tiêu chí đánh giá bài thi quốc tế HSK từ 6 bậc sang 9 bậc, với 3 bậc mới nhắm đến đối tượng là bậc nghiên cứu sinh, sử dụng tiếng Trung như chuyên ngành hay kiến thức chuyên môn cần có.

🥇Hiểu được rằng việc học một ngôn ngữ mới nói chung và việc chinh phục tiếng Trung chưa bao giờ là dễ dàng, mình với background là cựu học sinh trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong từng đạt Giải Nhất HSG Cấp Quốc gia và đang giữ trong tay bằng HSK 6 vẫn luôn ấp ủ “đứa con" tinh thần là Hanbridge 🌉, với mong muốn Hanbridge, như chính tên gọi của nó, trở thành chiếc cầu nối, đưa các bạn học viên đến nhiều “bến đỗ" khác nhau, bất kể đó là để phục vụ mục đích thăng tiến sự nghiệp, du học, hay thậm chí chỉ đơn giản là vì tấm bằng ngoại ngữ không chuyên để tốt nghiệp.

🎯Hiện tại, mình đang chuẩn bị khai giảng các lớp Giao tiếp cơ bản và các lớp luyện 𝐇𝐒𝐊 𝐜𝐚́𝐜 𝐜𝐚̂́𝐩 đ𝐨̣̂ 𝐭𝐮̛̀ 𝟏 - 𝟓. Lớp học có 2 hình thức: 𝐎𝐧𝐥𝐢𝐧𝐞 hoặc 𝐭𝐫𝐮̛̣𝐜 𝐭𝐢𝐞̂́𝐩, với khung giờ, sỉ số linh hoạt, và đặc biệt là với mức giá cực kỳ “học sinh, sinh viên"! Riêng 10 bạn đăng ký sớm nhất sẽ được 𝐠𝐢𝐚̉𝐦 𝟏𝟎% 𝐡𝐨̣𝐜 𝐩𝐡𝐢́ trong tháng đầu tiên!!

☎️Các bạn quan tâm có thể comment bên dưới hoặc trực tiếp inbox, Hanbridge sẽ tư vấn thông tin cụ thể đến từng bạn ạ!


04/11/2022

Hê lô mọi người, là Hanbridge đây!
Hôm nay series 𝐀 𝐝𝐫𝐨𝐩 𝐢𝐧 𝐭𝐡𝐞 𝐨𝐜𝐞𝐚𝐧 sẽ trở lại với chủ đề liên quan đến “𝐓𝐮̛̀ 𝐦𝐮̛𝐨̛̣𝐧” (loanwords).
Chắc hẳn mọi người đều biết rằng tiếng Việt của chúng ta chịu ảnh hưởng rất nhiều từ văn hoá Trung Hoa lẫn văn hoá phương Tây, nên ngoài việc sở hữu lượng lớn từ Hán Việt ra, tiếng Việt còn có nhiều từ mượn từ tiếng Anh như “ra-đi-ô" (xuất phát từ “radio") hay “vắc-xin" (xuất phát từ “vaccine"), và một số từ bắt nguồn từ tiếng Pháp như “sơ-mi" (“chemise") hoặc “cà-vạt" (“cravat"). Thế nhưng, đã bao giờ các bạn tự hỏi, tiếng Trung “mượn từ" như thế nào chưa?
Thực ra, quy tắc mượn từ của tiếng Trung cũng không khác tiếng Việt là bao, khi mà những từ mượn vẫn dùng chính chữ Hán phiên ra, chú trọng chọn từ nào nghĩa vừa hay và quan trọng hơn hết là phiên âm cho ra cách đọc giống nhất với từ gốc.
Chẳng hạn, về tên các nước trên thế giới, tiếng Trung có những từ mượn điển hình như 新加波 (Singapore), 印度尼西亚 (Indonesia), 马来西亚 (Malaysia), v.v. Cũng chính vì vậy mà thay vì tạo từ mượn khác từ tên các nước, đôi khi người Việt gọi tên các quốc gia bằng cách dịch tiếng Hán Việt của các từ mượn trong tiếng Trung luôn. Ví dụ như thay vì nói nước Malaysia thì một số bộ phận người Việt thời trước thường gọi là nước Mã Lai (trích 2 chữ đầu trong từ 马来西亚). Nói đến từ mượn thì không thể không nhắc tới các thương hiệu thời trang quốc tế đúng không nè các bạn? Và tất nhiên, tiếng Trung đã cho ra đời những từ mượn nghe cũng không kém phần “sang chảnh", như 路易威登 (Louis Vuitton), 华伦天奴 (Valentino), 迪奥 (Dior), v.v. Sẽ là một thiếu sót lớn nếu ta không đề cập đến các hãng “xế hộp" như 劳斯莱斯 (Rolls Royce), 梅赛德斯-奔驰 (thường gọi tắt như các bạn thấy trong tiểu thuyết ngôn tình là 奔驰 - Mercedes-Benz), hay 奥迪 (hãng xe Audi), v.v. Ngoài ra, từ mượn còn “len lỏi” đến những thương hiệu mang tính thường nhật của đời sống như 高洁丝 (Kotex), 乐高 (Lego), 可口可乐 (Coca Cola) hay 百事可乐 (Pepsi). Không dừng lại ở tên thương hiệu, từ mượn còn xuất hiện trong các môn thể thao hay kì thi có nguồn gốc từ nước khác như 高尔夫 (Golf) hay 马拉松 (Marathon) nữa nè.
Cái hay ở đây là các nhà ngôn ngữ học không những tìm ra những từ rất cận âm, giúp người dùng dễ ghi nhớ, mà những từ được chọn, đặc biệt là tên thương hiệu, đều mang ý nghĩa rất hay mà đôi khi bản thân tên gốc không có được. Ví dụ như 百事可乐 (Pepsi) - “Bách sự khả lạc", hiểu nôm na là trăm sự như ý, trăm sự đáng mừng; hay 高洁丝 (Kotex) - tạm dịch có thể hiểu là những sợi vải/ bông tinh khiết.
Bài post hôm nay đến đây là hết rồi. Cảm ơn các bạn vì đã đọc đến đây. Hẹn gặp lại mọi người vào bài post sau nha!



03/11/2022

[1 DANH NGÔN & 1 GÓC NHỎ VỀ CÂU CHUYỆN ĐẠT GIẢI HSGQG CỦA MÌNH?]
Hế lô mọi người, lại là Hanbridge với series 𝐀 𝐝𝐫𝐨𝐩 𝐢𝐧 𝐭𝐡𝐞 𝐨𝐜𝐞𝐚𝐧 (沧海一粟) đây!
Như đã trình bày trong post đầu thì ngoài thành ngữ ra, ad cũng sẽ chia sẻ về những câu nói/ danh ngôn mà ad tâm đắc, và tá đa, bài post hôm nay sẽ là về câu nói của nữ nhà văn hiện đại nổi tiếng của Trung Quốc - Tân Di Ổ, với câu nói 日出之美便在于它脱胎于最深的黑暗。(Rì chū zhī měi biàn zàiyú tā tuōtāi yú zuìshēn de hēi'àn. - Tạm dịch: 𝐕𝐞̉ đ𝐞̣𝐩 𝐜𝐮̉𝐚 𝐛𝐢̀𝐧𝐡 𝐦𝐢𝐧𝐡 𝐧𝐚̆̀𝐦 𝐨̛̉ 𝐬𝐮̛̣ 𝐦𝐚̣𝐧𝐡 𝐦𝐞̃ 𝐯𝐮̛𝐨̛𝐧 𝐦𝐢̀𝐧𝐡 𝐜𝐮̉𝐚 𝐧𝐨́ 𝐬𝐚𝐮 𝐦𝐚̀𝐧 đ𝐞̂𝐦 𝐭𝐨̂́𝐢 𝐭𝐚̆𝐦.)
Mình thích câu này vì đằng sau một hiện tượng tự nhiên mang ngụ ý vô cùng sâu sắc: Không trải qua gian khó thì làm sao đi đến thành công? Không trải qua mưa gió thì làm sao thấy được cầu vồng? Hay nói cách khác, muốn thành đại sự, trước tiên ta phải chịu được những điều mà người khác không thể. (“成大事者,必先忍常人之所不能”) Vẻ đẹp thanh cao của hoa sen sở dĩ được người đời thán tụng đôi khi cũng bởi vì chính nó đã vươn lên từ bùn lầy, giữ mình tinh sạch giữa chốn bùn nhơ. (“清莲之净便在于它脱胎于最脏的淤泥”)
Đối với ad cũng vậy. Có bạn biết ad từng đạt giải Nhất HSGQG môn tiếng Trung cái hỏi ad mấy câu đại loại kiểu chắc được thưởng nhiều tiền lắm ha, hay chắc được thầy cô bạn bè mến mộ dữ lắm,... Hhm, cụ thể giải thưởng này cho ad được cái gì thì ad xin nói thật là tinh thần nhiều hơn vật chất gấp n luôn ạ (tại vật chất ít lắm huhu). Nhưng mà điển hình nhất thì là ad được sự công nhận của chính bản thân mình, khi đã thoát khỏi những ngày miệt mài ôn tập; những lúc thấy tương lai mịt mờ, căng thẳng, lo sợ; những khoảnh khắc tưởng chừng tối tăm không thấy lối thoát đó để tìm thấy một trong một bình minh siêu rực rỡ. Nên cũng vì vậy mà khi đọc được câu nói này của nhà văn Tân Di Ổ, mình đồng cảm sâu sắc.
Thấy vậy chứ mà 3 câu tiếng Trung trong bài post này “nhỏ mà có võ" lắm nha. Ad chắt lọc qua rồi nên ai muốn viết văn HSK điểm cao đừng bỏ qua nhoa!
Hẹn gặp mn post sau ạaaa!
Cre: 纸条君 - Zhihu


02/11/2022

Há lỏ mọi người,
Như đã hứa thì hôm nay một vài thành ngữ Anh-Trung điển hình của cặp chiều kích văn hoá là 𝐌𝐨𝐧𝐨𝐜𝐡𝐫𝐨𝐧𝐢𝐬𝐦 và 𝐏𝐨𝐥𝐲𝐜𝐡𝐫𝐨𝐧𝐢𝐬𝐦 sẽ được chào sân.
Trước khi đến với các thành ngữ cụ thể thì mình xin nói ngắn gọn về khái niệm của cặp chiều kích này. Cụ thể, 2 thái cực của cặp chiều kích này thể hiện cách nhìn nhận về thời gian khác nhau giữa các nền văn hoá - trong khi trường phái 𝐌𝐨𝐧𝐨𝐜𝐡𝐫𝐨𝐧𝐢𝐬𝐦 (thời gian đơn tuyến) cho rằng “thời gian là vàng là bạc", là hữu hạn và là “món hàng” vô giá, thì đối với những người theo chủ nghĩa 𝐏𝐨𝐥𝐲𝐜𝐡𝐫𝐨𝐧𝐢𝐬𝐦 (thời gian đa tuyến), con người không phải “nô lệ” của thời gian, và rằng thời gian có thể linh hoạt mọi lúc mọi nơi. Chính vì vậy mà việc kế hoạch hay deadlines được đưa ra hoặc dời lại vào “phút 89" không còn là chuyện lạ ở những quốc gia thuộc thái cực văn hoá này.
Cũng từ đó mà ta có những thành ngữ/ câu nói mang sắc thái khá đối lập nhau khi nói về thời gian. Chẳng hạn, nếu như phương Tây có những câu nói làm nổi bật sự tuyến tính của thời gian như “𝐀 𝐬𝐭𝐢𝐭𝐜𝐡 𝐢𝐧 𝐭𝐢𝐦𝐞 𝐬𝐚𝐯𝐞𝐬 𝐧𝐢𝐧𝐞" (Một mũi khâu đúng lúc sẽ đỡ phải khâu 9 mũi sau này, tức nếu bạn làm ngay việc gì, thì đỡ mất công sức hơn rất nhiều về sau) hay “𝐏𝐫𝐨𝐜𝐫𝐚𝐬𝐭𝐢𝐧𝐚𝐭𝐢𝐨𝐧 𝐢𝐬 𝐭𝐡𝐞 𝐭𝐡𝐢𝐞𝐟 𝐨𝐟 𝐭𝐢𝐦𝐞" (Sự do dự chính là kẻ cắp thời gian), thì tiếng Trung có những câu mang thiên hướng “chậm mà chắc” hơn, như “慢工出细活” (tạm dịch: Chế tác tỉ mỉ mới có sản phẩm đẹp), “姜还是老的辣” (Gừng càng già càng cay) hay “欲速不达” (Dục tốc bất đạt).
Tuy nhiên, cũng giống như bao cặp chiều kích văn hoá khác, không có một nền văn hoá nào chỉ tồn tại duy nhất một thái cực. Chính vì vậy mà những thành ngữ tưởng chừng chỉ có ở tiếng Anh thì cũng có những versions tương đương và thậm chí là rất thông dụng ở Trung Quốc. Ví dụ như trong tiếng Anh có “𝐓𝐡𝐞 𝐞𝐚𝐫𝐥𝐲 𝐛𝐢𝐫𝐝 𝐜𝐚𝐭𝐜𝐡𝐞𝐬 𝐭𝐡𝐞 𝐰𝐨𝐫𝐦" (Con chim dậy sớm thì bắt được sâu, ý nói ai đến sớm sẽ có khả năng thành công hơn), thì tiếng Trung cũng có câu nói tương tự “早起的鸟儿有虫吃”. Hai ví dụ điển hình khác bao gồm: 𝐒𝐭𝐫𝐢𝐤𝐞 𝐰𝐡𝐢𝐥𝐞 𝐭𝐡𝐞 𝐢𝐫𝐨𝐧 𝐢𝐬 𝐡𝐨𝐭 - 趁热打铁 (Rèn thanh sắt khi nó còn nóng - hãy hành động ngay lập tức khi cơ hội đến); 𝐓𝐢𝐦𝐞 𝐚𝐧𝐝 𝐭𝐢𝐝𝐞 𝐰𝐚𝐢𝐭 𝐟𝐨𝐫 𝐧𝐨 𝐦𝐚𝐧 - 时不我待 (thời gian chẳng chờ đợi ai). Thậm chí, nếu như trong tiếng Việt, ta có câu “𝐓𝐡𝐨̛̀𝐢 𝐠𝐢𝐚𝐧 𝐧𝐡𝐮̛ 𝐭𝐡𝐨𝐢 đ𝐮̛𝐚" thì tiếng Trung cũng có câu nói tương tự là “光阴荏苒,日月如梭” (trong đó, 梭 là con thoi dệt vải).
Vậy mới thấy, thật không ngoa khi nói rằng ngôn ngữ là tấm gương phản chiếu rõ nhất văn hoá đúng không nè các bạn. Tiếng Trung nói riêng và những ngôn ngữ liên quan nói chung còn những điều gì hay ho mới lạ nữa thì mình sẽ cùng nhau khám phá trong những post sau nhe. Hẹn gặp lại các bạn!

#成语

01/11/2022

Chào mừng các bạn đến với post thứ 3 của series 𝐀 𝐝𝐫𝐨𝐩 𝐢𝐧 𝐭𝐡𝐞 𝐨𝐜𝐞𝐚𝐧.
Items được giới thiệu đến các bạn hôm nay không đơn thuần chỉ một thành ngữ, mà là nhiều thành ngữ cùng góp phần thể hiện sự khác biệt của cặp chiều kích văn hóa khác nhau là: 𝐈𝐧𝐝𝐢𝐯𝐢𝐝𝐮𝐚𝐥𝐢𝐬𝐦 (tạm dịch: chủ nghĩa cá nhân) và 𝐂𝐨𝐥𝐥𝐞𝐜𝐭𝐢𝐯𝐢𝐬𝐦 (tạm dịch: chủ nghĩa tập thể).
Nghe tên thì chắc bạn cũng phần nào đoán được (顾名思义), những người thuộc Individualist culture thường coi trọng thành tích cá nhân và những cá thể nổi trội hơn, trong khi "thần dân" bên Collectivist culture có xu hướng đề cao tinh thần tập thể, và cho rằng sự nổi bật hay đi kèm với rắc rối. Cũng chính vì vậy mà 2 đại diện điển hình của 2 chiều kích văn hóa này là Mỹ và Trung Quốc có những câu thành ngữ khá trái ngược nhau về vấn đề "self" (cái tôi). Chẳng hạn, nếu bên Mỹ ta có các proverbs như "𝐆𝐨𝐝 𝐡𝐞𝐥𝐩𝐬 𝐭𝐡𝐨𝐬𝐞 𝐰𝐡𝐨 𝐡𝐞𝐥𝐩 𝐭𝐡𝐞𝐦𝐬𝐞𝐥𝐯𝐞𝐬" (tạm dịch: Chúa giúp đỡ những ai biết tự giúp chính mình) hay "𝐓𝐡𝐞 𝐬𝐪𝐮𝐞𝐚𝐤𝐲 𝐰𝐡𝐞𝐞𝐥 𝐠𝐞𝐭𝐬 𝐭𝐡𝐞 𝐠𝐫𝐞𝐚𝐬𝐞" (tạm dịch: Bánh xe càng kêu càng dễ được tra dầu - tức là, những cá nhân càng dám lên tiếng, càng được chú ý thì dễ nhận được sự giúp đỡ hơn), thì ngược lại, trong văn hóa Trung Quốc ta có những thành ngữ như "树高招风" (tạm dịch: 𝐂𝐚̂𝐲 𝐜𝐚𝐨 đ𝐨́𝐧 𝐠𝐢𝐨́ 𝐥𝐨̛́𝐧, ý nói những người càng thành công, càng xuất chúng thì càng dễ rước thiệt vào thân) hay một câu nói siêu quen thuộc trong Cbiz - "人红是非多" (tạm dịch: Người càng hot thì càng nhiều thị phi bủa vây).
Dĩ nhiên, không có gì là tuyệt đối, và xét về phương diện văn hóa thì càng không có một quốc gia nào mà chỉ tồn tại duy nhất một chiều kích văn hóa. Vậy nên bên cạnh một loạt thành ngữ cổ vũ tinh thần tập thể như 单丝不成线,独木不成林 (tạm dịch: 𝐌𝐨̣̂𝐭 𝐬𝐨̛̣𝐢 𝐤𝐡𝐨̂𝐧𝐠 𝐭𝐡𝐞̂̉ 𝐝𝐞̣̂𝐭 𝐭𝐡𝐚̀𝐧𝐡 𝐯𝐚̉𝐢, 𝐦𝐨̣̂𝐭 𝐜𝐚̂𝐲 𝐤𝐡𝐨̂𝐧𝐠 𝐭𝐡𝐞̂̉ 𝐭𝐚̣𝐨 𝐭𝐡𝐚̀𝐧𝐡 𝐫𝐮̛̀𝐧𝐠) thì trong tiếng Trung cũng có những câu tôn vinh bản thân như 人不为己,天诛地灭 (𝐍𝐠𝐮̛𝐨̛̀𝐢 𝐤𝐡𝐨̂𝐧𝐠 𝐯𝐢̀ 𝐦𝐢̀𝐧𝐡, 𝐭𝐫𝐨̛̀𝐢 𝐜𝐡𝐮 đ𝐚̂́𝐭 𝐝𝐢𝐞̣̂𝐭).
Bấy nhiêu đây là về sự khác biệt giữa cặp chiều kích văn hóa thứ nhất là 𝐈𝐧𝐝𝐢𝐯𝐢𝐝𝐮𝐚𝐥𝐢𝐬𝐦 và 𝐂𝐨𝐥𝐥𝐞𝐜𝐭𝐢𝐯𝐢𝐬𝐦 trong thành ngữ tiếng Anh và tiếng Trung. Bài post sau sẽ nói về một cặp chiều kích khác cũng thú vị không kém, đó là 𝐌𝐨𝐧𝐨𝐜𝐡𝐫𝐨𝐧𝐢𝐬𝐦 và 𝐏𝐨𝐥𝐲𝐜𝐡𝐫𝐨𝐧𝐢𝐬𝐦. Mọi người nhớ đón đọc nhee.

#成语

31/10/2022

Hế lô mọi người, lại là Hanbridge với series 𝐀 𝐝𝐫𝐨𝐩 𝐢𝐧 𝐭𝐡𝐞 𝐨𝐜𝐞𝐚𝐧 (沧海一粟) đây.
Hôm nay mình xin giới thiệu đến các bạn một thành ngữ mà mình cảm thấy khá dễ nhớ và mang tính ứng dụng cao, đó là: 宁缺毋滥 nìngquē-wúlàn (tạm dịch: Thà thiếu chứ không cẩu thả). Trong tiếng Việt chúng ta cũng có những cách nói quen thuộc với ý nghĩa tương tự: "Tốt gỗ hơn tốt nước sơn" hay "Chất lượng hơn số lượng".
Mình nói nó dễ nhớ vì mình hoàn toàn có thể suy luận nghĩa của cả thành ngữ này bằng cách ghép nghĩa từng chữ lại. Cụ thể:
宁: xuất phát từ 宁愿 nghĩa là "thà rằng"
缺: xuất phát từ 缺少 nghĩa là "thiếu thốn"
毋: đồng nghĩa với 不 nghĩa là "không"
滥: xuất phát từ 泛滥 nghĩa là "tràn lan" (thường mang nghĩa tiêu cực)
Xét về mặt ứng dụng của nó thì ngoài việc sử dụng thành ngữ này trong công việc hay học tập (Chẳng hạn: "Thay vì ôm đồm làm việc A, việc B lẫn việc C thì tôi chỉ chọn làm việc A, vì tôi thà làm ít chứ không làm ẩu." - "与其一次性包办A事, B事, 和C事,我只选择做A事,毕竟宁缺毋滥啊。"), thì các bạn còn có thể dùng nó như một lý do cho việc mình tìm hoài tìm mãi mà vẫn chưa tìm ra Mr. Right - đối tượng để "dựng vợ gả chồng" (谈婚论嫁) của mình, và tự tin nói rằng: "Chị đây là thà chọn ít chứ không chọn bừa nhá!" ("我这叫宁缺毋滥!")
Okay that's all. Hope you enjoy it và hẹn gặp lại các bạn vào bài post tiếp theo nhé!


30/10/2022

Chào mừng mọi người đến với series 沧海一粟 (𝐀 𝐝𝐫𝐨𝐩 𝐢𝐧 𝐭𝐡𝐞 𝐨𝐜𝐞𝐚𝐧). Series 沧海一粟 (𝐀 𝐝𝐫𝐨𝐩 𝐢𝐧 𝐭𝐡𝐞 𝐨𝐜𝐞𝐚𝐧) là một series mà A đã ấp ủ làm từ lâu. Tại đây, ad sẽ chia sẻ những từ, thành ngữ hoặc câu nói tiếng Trung mà ad rất tâm đắc trong ngày. Việc học là việc cả đời, nên mới có câu nói “Học, học nữa, học mãi", hay mới có 3Ls trong tiếng Anh - “life-long learning", và cũng vì vậy mà có thành ngữ “学海无涯” (nghĩa: Biển học vô bờ) trong tiếng Trung. Hiểu rằng những gì mình đã học và biết về tiếng Trung chỉ như muối bỏ biển, vô cùng nhỏ bé, nên là khi lập ra chiếc series này, ad không mong gì hơn ngoài việc có thể tích góp những “giọt nước” đó cho nó “significant" hơn, cũng như là có thể cung cấp vài thông tin bổ ích cho mọi người khi lướt trúng chiếc feed này.
Oke vậy thì 废话不多说 (without further ado), mình sẽ bắt đầu series này bằng một câu nói mà fan của phim cung đấu chắc hẳn đã quá đỗi quen thuộc: “戴王冠者, 必承其重” (hoặc “欲戴王冠,必承其重”) - dịch nôm na nghĩa là “Muốn đội được vương miện thì phải gánh được sức nặng của nó”. Ngày xưa thời còn vua chúa thì câu này nói đến việc những người lên kế vị ngôi vua thì phải sẵn sàng chịu đựng những thử thách, trọng trách và hiểm nguy tiềm ẩn mà ngai vàng đem đến. Sau này thì câu nói này thường được dùng để ám chỉ những người chức cao vọng trọng hay những người nổi tiếng phải chấp nhận những áp lực và rủi ro mà chức vị cao quý đó mang lại. Không nói đâu xa, gần đây câu nói này đã được nhà biên kịch Trung Quốc - Vu Chính trích lại khi đính chính về tin đồn hẹn hò của “gà cưng" Bạch Lộc và nam diễn viên mới nổi Trương Lăng Hách. Trích nguyên văn như sau:
“戴王冠者,必承其重。
(Tạm dịch: Người đội được vương miện thì phải gánh được sức nặng của nó)
谈笑经得住!
(Tạm dịch: Chịu được lời đàm tiếu!)
谣言抵得住!
(Tạm dịch: Chống được tin đồn thất thiệt!)
困难承得住!
(Tạm dịch: Vượt qua được gian nan!)
时间耐得住!”
(Tạm dịch: Chống chọi được với thời gian!)
Tức là Vu Chính đang ám chỉ rằng Bạch Lộc là nhân vật của công chúng, nên đối mặt với những lời đồn thổi vô căn cứ của dư luận là chuyện thường tình. Hay nói cho dễ hiểu hơn thì ẩn ý của Vu Chính là đang ngầm phủ nhận tin đồn nêu trên - kiểu “Người nổi tiếng như Bạch Lộc đây còn lạ gì những lời gièm pha này, chúng tôi không quan tâm.” Còn trong thực tế cuộc sống, mình cũng có thể dùng câu này cho “ngầu" khi cảm thấy hơi áp lực khi đảm nhận một vị trí khá quan trọng trong một nhóm hay một tổ chức nào đó, kiểu “Ờm thì mình đang đội vương miện lấp la lấp lánh mà ha, nên nặng đầu xíu hong xao ~”
Vậy là xong status đầu tiên của series này rồi đó! Mong là nó sẽ bổ ích cho các bạn ha! Hẹn gặp lại mọi người trong bài post sau ^&^
P.S: ảnh là vương miện của Hoàng gia Anh, hong liên quan cho lắm; mình up là do thấy nó đẹp thôi hihi.


Want your school to be the top-listed School/college in Ho Chi Minh City?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Telephone

Website

Address


154/49 Phong Phú P12, Q8
Ho Chi Minh City