Ôn thi THPT Quốc Gia cấp tốc môn Ngữ Văn- Hà Nội

Ôn thi THPT Quốc Gia cấp tốc môn Ngữ Văn- Hà Nội Là nơi đào tạo học sinh đạt được số điểm cao nhất hoặc tối đa môn Ngữ Văn trong kỳ thi THPT Quốc Gia. Liên hệ 0968598751

Có thể đào tạo trực tiếp hoặc bằng phương pháp học trực tuyến.

PHÂN BIỆT GIỮA “ĐỀ TÀI” VÀ “CHỦ ĐỀ”Nhiều người thường nhầm lẫn giữa “đề tài” và “chủ đề” do chúng có một số yếu tố tương...
05/11/2024

PHÂN BIỆT GIỮA “ĐỀ TÀI” VÀ “CHỦ ĐỀ”
Nhiều người thường nhầm lẫn giữa “đề tài” và “chủ đề” do chúng có một số yếu tố tương đồng. Vì vậy, Tiếng Việt giàu đẹp mời bạn đọc cùng tìm hiểu về hai thuật ngữ này trong lĩnh vực văn học nhé!
Theo sách “Tác phẩm và thể loại văn học” (2021) của Huỳnh Như Phương, đề tài được xem như yếu tố tương ứng với khuôn khổ hình tượng qua bức tranh thiên nhiên, xã hội, con người được tái hiện trong văn bản ngôn từ. Dựa trên chất liệu đề tài, chủ đề là vấn đề trọng tâm mà người viết đặt ra. Chủ đề thể hiện cách đánh giá, khai thác và xử lý của nhà văn đối với đề tài đó. Thông qua chủ đề, nhà văn có thể bộc lộ những suy tư, cảm xúc đối với cuộc sống và con người.
Ví dụ như cùng viết về đề tài cuộc sống người nông dân trong xã hội thực dân và phong kiến trước năm 1945, có sự khác biệt về chủ đề giữa “Tắt đèn” (1937) của Ngô Tất Tố, “Chí Phèo” (1941) của Nam Cao, “Vợ nhặt” (1962) của Kim Lân. “Tắt đèn” ca ngợi sự đấu tranh của người phụ nữ (chị Dậu) trước cảnh sưu cao thuế nặng. “Chí Phèo” quan tâm đến sự tha hóa và khát vọng hoàn lương của người cố nông (Chí Phèo). “Vợ nhặt” khắc họa phẩm giá của người đàn bà (thị) trước cái đói.
Sự khác biệt giữa hai khái niệm này được thể hiện ở bốn điểm. Một là, đề tài là phạm vi hiện thực tạo thành chất liệu của cấu trúc hình tượng trong tác phẩm; chủ đề là sự khái quát, nhìn nhận về đối tượng, vấn đề, phạm vi hiện thực. Hai là, đề tài cụ thể hơn; chủ đề trừu tượng hơn. Ba là, đề tài chú ý đến kiểu hình xã hội, loại hình nhân vật (đặc biệt là nhân vật chính), hoạt động cơ bản của nhân vật,...; chủ đề đặc trưng hóa bối cảnh xã hội, nhân vật,...Bốn là, đề tài chỉ có một; còn chủ đề có thể có một hoặc nhiều hơn trong cùng một tác phẩm, tạo thành hệ chủ đề.
Hệ chủ đề gồm các chủ đề khác biệt cùng thống nhất phản ánh đề tài của tác phẩm. Trong đó, có một chủ đề chính và một hoặc một vài chủ đề phụ. Truyện thơ Nôm “Lục Vân Tiên” (1889) của Nguyễn Đình Chiểu là một minh chứng. Từ đề tài tình nghĩa con người, hệ chủ đề bao gồm: trung hiếu tiết nghĩa (đặc điểm của truyện tài tử giai nhân); làm ác gặp ác, ở hiền gặp lành (đặc điểm của truyện cổ tích); triết lý về nhân tình thế thái (đặc điểm của tiểu thuyết). Tuy việc phân chia chủ đề chính - phụ chỉ mang tính tương đối, do còn bị ảnh hưởng bởi sự cảm nhận của người đọc, nhưng triết lý về cuộc đời dường như là vấn đề nổi trội nhất.
Tóm lại, trong khi đề tài thể hiện góc nhìn khái quát về một đối tượng, hiện thực nào đó thì chủ đề lại là cách tiếp cận, triển khai đối với mối quan tâm ấy của người viết.

Tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” (*) của Bảo Ninh trong hai mươi năm qua, ở trong nước, đã tạo ra những luồng nhận địn...
27/10/2024

Tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” (*) của Bảo Ninh trong hai mươi năm qua, ở trong nước, đã tạo ra những luồng nhận định khác nhau và trái chiều nhau, nhất là ở thời điểm sau ngày được trao giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, một năm sau khi nó được chính thức xuất bản (1991). Cũng về nó, nhưng ở nước ngoài, hầu như các bình luận đều một mực đề cao. Gần đây nhất, một giải thưởng từ Nhật Bản đã được trao cho “Nỗi buồn chiến tranh” với ý kiến đánh giá rất cao, rằng đó là “tinh hoa của văn chương nhân loại”.
Tôi cảm thấy cần thiết phải đọc lại tiểu thuyết ấy một lần nữa, sau lần đọc đầu tiên vào năm 1992. Đọc, ban đầu tôi chỉ nhằm rà soát lại thẩm thức của chính mình. Đọc xong, tôi lại muốn viết về cuốn sách đó những dòng cảm nhận. Cảm nhận, chứ không phải nghiên cứu, cũng không phải cảm nhận trên cơ sở đã tự nghiên cứu, tôi tự giới hạn như thế, nên cũng không thực hiện công đoạn thiết lập lịch sử đề tài.
Giả định như lúc này, có người bạn văn nào đó vui chuyện hỏi tôi nghĩ gì về “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh, chắc hẳn tôi cũng vui chuyện trả lời như một cách trao đổi.
Điều có thể nói ngay, đó là về kĩ thuật viết tiểu thuyết theo trường phái “dòng ý thức”. Có lẽ không thể không công nhận Bảo Ninh đã thành công khi vận dụng thủ pháp “dòng ý thức”, vốn được xem như thủ pháp chủ yếu của James Joyce, William Faulkner... Nói rõ hơn, mặc dù không phải là người đầu tiên ở Việt Nam vận dụng nó ở cấp độ chủ đạo, xuyên thấm từng chi tiết, chương đoạn, quán xuyến toàn bộ cuốn tiểu thuyết, nhưng Bảo Ninh vẫn là người đầu tiên trong nền văn học cách mạng đã vận dụng đến mức như thế. Đặc biệt, Bảo Ninh ý thức rất rõ về kĩ thuật đó, và thể hiện điều đó một cách khá minh bạch ngay trong “dòng ý thức”, dòng chảy tâm trạng, hữu thức và vô thức, hiện tại, quá khứ và cả dự định tương lai đan xen, lẫn lộn của nhân vật chính tên Kiên. Thậm chí, có những khi bị vô thức xâm chiếm, hay nói rõ hơn, những sự thật bị chôn vùi, che lấp bởi ý thức do áp lực của truyền thông chính thống một chiều, chúng đã bật dậy, đòi hỏi phải được lên tiếng, để trình bày cho mọi người thấy “nửa kia của sự thật” bằng một kĩ thuật hiệu quả nhất. Kĩ thuật ấy, nhà văn Kiên viết hẳn ra bằng ngôn ngữ khá tường minh:
“Mặc dù vẫn hết trang này sang trang khác, chương này sang chương khác, song càng viết Kiên càng âm thầm nhận thấy rằng, tuồng như không phải là anh mà là một cái gì đấy đối lập, thậm chí thù nghịch với anh đang viết, đang không ngừng vi phạm, không ngừng lật ngược tất cả những giáo điều cùng tất cả những tín niệm văn chương và nhân sinh sâu bền nhất của anh. Và hoàn toàn không cưỡng nổi, mỗi ngày Kiên một dấn mình thêm vào vòng xoáy của nghịch lý hiểm nghèo ấy của bút pháp. Ngay từ chương đầu tiên cuốn tiểu thuyết của anh đã buông lơi cốt truyện truyền thống, không gian và thời gian tự ý khuấy đảo, không kể gì đến tính hợp lý, bố cục bấn loạn, dòng đời các nhân vật bị phó mặc cho ngẫu hứng. Trong từng chương một Kiên viết về cuộc chiến tranh một cách rất tuỳ ý như thể ấy là một cuộc chiến tranh của riêng anh. Và cứ thế, nửa điên rồ, Kiên lao đầu vào chiến đấu lại cuộc chiến của đời mình một cách đơn độc, phi hiện thực, một cách cay đắng, đầy rẫy va vấp và lầm lạc” (sđd., tr. 52-53).
Thật ra, làm gì có cái gì đó đối lập, thù nghịch với anh, tồn tại trong anh, đang viết thay anh, mà đó chính là trạng thái tự phân thân, tương khắc, tương sinh theo quy luật biện chứng của tâm lí con người, của hiện thực xã hội (hiện thực xã hội ấy phản ánh vào vô thức của Kiên). Theo nguyên lí âm dương, hễ cái gì đi đến cực đoan thái quá, chính nó sẽ tự phản hồi về một cực đối lập ở một mức độ cực đoan tương đương, đối xứng, hệt như quả lắc, nhằm thiết lập lại sự quân bình cho tâm lí, cho sự vận động, phát triển hiện thực của mỗi cá thể, của nhiều bộ phận nhân dân, của toàn xã hội. Đó là thông điệp và ý nghĩa của một danh ngôn: “Một nửa cái bánh mì vẫn là bánh mì, nhưng một nửa sự thật thì chỉ là giả dối”.
Kiên là một người lính từ Hà Nội vào chiến đấu tận Bắc Tây Nguyên từ 1965, và vào năm 1975, trận đánh cuối cùng của anh diễn ra tại Sài Gòn – Gia Định, khu vực Lăng Cha Cả và phi trường Tân Sơn Nhất. Sau đó, Kiên xuất ngũ, về sống tại một căn hộ do thân sinh để lại, tại Hà Nội, với đời sống độc thân, do một vết thương quái ác trong chiến tranh, khiến anh không thể cưới vợ, lập gia đình riêng (sđd., tr. 155, 231). Và “hội chứng sau chiến tranh” thực sự bùng phát ngấm ngầm mà dữ dội ở nhân vật này, hẳn vào những năm 80, khoảng mươi năm sau Ngày Thống nhất. Trong Kiên luôn luôn sống dậy những ám ảnh quá khứ, cùng những ấn tượng mới trong những chuyến đi thu nhặt hài cốt tử sĩ trên chiến trường xưa, và những ám ảnh ấy, ấn tượng ấy, còn gồm cả tình yêu thơ mộng, ngọt ngào nhưng cũng rất bất hạnh trước khi nhập ngũ, cũng không thiếu vắng những con người, cảnh huống thô bạo, dung tục, cùng những chết chóc, chém giết tàn bạo, huỷ diệt khủng khiếp của chiến tranh từ hai phía, phía anh cùng đồng đội và phía địch, Mỹ - nguỵ. Xáo lên để trộn vào đó là những gì thuộc về thì hiện tại của anh, một “nhà văn cấp phường” trong khu nhà tập thể thân quen, với Phương, người yêu cũ, với cô gái câm mới dọn đến, với những đồng đội cũ và với cả Hà Nội đang “bung ra”, ấy là thời gian hậu chiến anh đang trải qua nhiều đêm thức trắng để viết lại ám ảnh, ấn tượng đó. Không phải một chiều, “hiện thực phải đạo”, không phải “một nửa sự thật”, Kiên muốn viết cả mặt trái lẫn mặt phải của cuộc chiến, về anh lính giải phóng quân, về lính đối phương...
Và ngay trong những dòng chữ ở đoạn trích bên trên, nhà văn Kiên cũng đã bị áp lực truyền thông chính thống và nhà tù, buộc anh phải “tự rào chắn” lại chính bản thân mình. Anh không dám thừa nhận anh đang khái quát hoá, điển hình hoá, mà cá biệt hoá, chủ quan hoá cuộc chiến tranh. Anh tự cho mình viết một cách phi hiện thực, lầm lạc... Ở những trang khác, nhà văn Kiên còn làm ra vẻ thú nhận là anh đã thực sự có dự tính “phải viết về chiến tranh trong niềm thôi thúc ấy, viết sao cho xao xuyến nổi lòng dạ, xúc động nổi trái tim con người như thể viết về tình yêu, về nỗi buồn, sao cho có thể truyền được vào cuộc sống đương thời luồng điện của những cảm xúc chỉ có thể diễn đạt bằng quá khứ. Kiên nghĩ. Mặc dù cố nhiên chiến tranh không hề là như vậy... [...] bởi vì thâm tâm muốn viết về chiến tranh sao cho khác trước” (sđd., tr. 59).
Cũng về thủ pháp “dòng ý thức”, “dòng chảy trạng thái tâm lí tự động” mà Kiên đã bày tỏ ở đoạn trên, một lần nữa, Kiên lại giãi bày rõ hơn, sau khoảng một trăm rưởi trang sách: “Hằng đêm Kiên mất ngủ vì những chuỗi dài giấc mơ kể lại chính cuộc đời anh nhưng bằng những lối kể kỳ lạ. Vô tận những đoạn đời khác biệt, so le nhau hằng năm trời đã đột hiện cùng một lúc, đan xen, lồng vào nhau trên cùng một thời điểm của hồi tưởng, tạo nên trong ký ức của Kiên những vùng không gian mới, những vùng quá khứ chưa từng có...” (sđd., tr. 200). Đó là một sự lắp ghép ngẫu nhiên trong vô thức, tiềm thức và ý thức, y hệt như những mẩu gỗ, mẩu nhựa vuông nhiều màu trong món đồ chơi ru-bích, mà mỗi cái xoay vặn tay là mỗi lần biến hoá, y hệt như những mảnh vụn đa sắc trong ống kính vạn hoa, mà mỗi lần lắc tay là mỗi lần hiển hiện khác nhau, thiên hình vạn trạng.
Với thủ pháp “dòng ý thức”, các nhà văn với các tác phẩm thuộc loại kinh điển của trường phái này trên thế giới, từ rất lâu, đã tin chắc rằng, họ có thể khai quật được những khối quặng dưới lòng đất trong tâm thức con người. Còn với Bảo Ninh, anh hẳn tin rằng, nhờ vào đó, anh sẽ tái hiện được toàn vẹn “hai nửa sự thật” của hiện thực chiến tranh, và đồng thời, qua “hội chứng sau chiến tranh” của nhân vật nhà văn Kiên, Bảo Ninh muốn truyền đi một thông điệp phản chiến với nội dung sám hối, lên án chiến tranh, tố giác chiến tranh nói chung là tai hoạ của loài người, bởi lẽ, Kiên đã là một người lính chiến đấu, đến khi thoát ra khỏi cuộc chiến, mới trở thành một nhà văn hậu chiến, thời “bung ra”, chuẩn bị cho công cuộc Đổi mới, khác với những nhà văn trước đó vốn đề cao chiến tranh chống xâm lược, bạo lực cách mạng, đánh đổ xã hội cũ để xây dựng một xã hội mới, tốt đẹp hơn. Nhưng Bảo Ninh còn “cao tay”, “khôn khéo” ở chỗ không những để cho nhân vật Kiên của mình tự khẳng định và tự phủ định những gì đã khẳng định đó, một cách lấp lửng, đúng như trạng thái trăn trở, Bảo Ninh còn viết hẳn một phần cuối (sđd., tr. 277-283), nhằm xác định rằng suốt cả cuốn tiểu thuyết gồm những dòng chữ từ tr. 5 đến tr. 276 là hoàn toàn của nhân vật Kiên. Ở phần cuối này, Bảo Ninh mới thực sự xưng “tôi” để nhận xét, phê phán “nhà văn của phường” có tên là Kiên, dùng một đại từ ngôi thứ ba trung tính hay hơi xem nhẹ một chút là “y”, để chỉ Kiên. Thậm chí, Bảo Ninh còn thực sự “lên gân”, “cao đạo” phê phán nhân vật Kiên đến mức quá đáng, có khía cạnh cố ý sai bét, chẳng hạn như phần hồn của Kiên không bao giờ là ái nam ái nữ như Bảo Ninh phê phán (sđd., tr. 278). Hoặc giả, Bảo Ninh xuất phát từ quan niệm đàn ông phải nam tính hơn, thể hiện bằng sự chủ động, đừng tôn trọng, gìn giữ trinh tiết của bạn tình nữ quá lắm? Nhưng rồi, cuối cùng, Bảo Ninh lại tỏ ra thông cảm, có điểm đồng tình, đồng cảm với “nhà văn phường”, đặc biệt là “nỗi buồn chiến tranh mênh mang, nỗi buồn cao cả, cao hơn hạnh phúc và vượt lên đau khổ” (sđd., tr. 282), chính nhờ “nỗi buồn chiến tranh” mà những người lính quen tay chém giết sẽ trở nên lương thiện, không còn chai lì với bạo lực, trong cuộc sống hoà bình. Và Bảo Ninh kết lại: “Đấy chắc chắn là điều mà tác giả thực sự của tác phẩm này muốn nói” (sđd., tr. 282). Hơn thế nữa, lập trường, quan điểm của Bảo Ninh (trong vai một cán bộ biên tập) phải được khẳng định rõ, về cuộc chiến tranh: “những ngày mà chúng ta biết rõ vì sao chúng ta cần phải bước vào cuộc chiến tranh, chúng ta cần phải chịu đựng tất cả và hy sinh tất cả: Ngày mà tất cả đều còn rất son trẻ, trong trắng và chân thành” (sđd., tr. 283). Với thủ pháp đó, Bảo Ninh vẫn bảo toàn được bản thân anh, được giải thưởng và không bị treo bút.
Những “thủ pháp” của nghề “viết phải lách” ấy không phải qua mắt được tất cả, nhưng tiểu thuyết của Bảo Ninh đã có được một “bối cảnh xuất bản thuận lợi”. Đó là thời điểm mà trước đó khoảng mươi năm, những tác phẩm văn chương thuộc loại “chủ nghĩa hiện thực phải đạo” đã bị PTS. Hoàng Ngọc Hiến mỉa mai và giễu cợt ngay trên tuần báo Văn Nghệ(1979), lại được công luận bừng tỉnh và đồng tình, tuy trên mặt báo vẫn còn những bài phê phán Hoàng Ngọc Hiến khá nặng nề.
Để viết lên được “hai nửa sự thật” của một cuộc chiến tranh, nhà văn phải luồn lách ngòi bút của mình trước hai luồng thẩm thức, ủng hộ – chê bai, trái ngược nhau, một cách khốn khổ đến thế!
Thực sự sau khi được trao giải Hội Nhà văn Việt Nam 1991, tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh cũng bị “đánh” tơi tả trên báo chí. Thế rồi, dần dà, “Nỗi buồn chiến tranh” lại ít nhiều được khen ngợi, nhất là sau khi được tái bản ở nước ngoài, được dịch ra một số ngữ có nhiều người sử dụng như tiếng Anh, tiếng Pháp... Trong nước, dần dà, dư luận hai chiều cũng bình tâm hơn.
Thật ra, có lẽ nên nói cho công bằng, “hai nửa sự thật” trong sự thật lịch sử còn khủng khiếp hơn, dễ sợ hơn. “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh dù sao cũng chỉ chạm đến một phần nào đó của “hai nửa sự thật” chiến tranh ấy. Nhưng vấn đề là ở chỗ không phải dung lượng hiện thực, cũng không phải mức độ khủng khiếp, dễ sợ của “hai nửa sự thật”, mà chính là không còn “một chiều”, không còn “phải đạo”, không còn “tô hồng – bôi đen” một cách cực đoan. Và vấn đề là đã dám sử dụng thủ pháp vốn có từ rất lâu của trường phái “dòng ý thức” trên thế giới.
[...]
Dẫu vậy, khi đọc xong “Nỗi buồn chiến tranh” lần thứ hai, tôi cũng chỉ muốn đề cập đến thủ pháp “dòng ý thức” đã được Bảo Ninh vận dụng thành công trong đó. Tuy nhiên, giá trị của một tiểu thuyết đâu phải chỉ căn cứ vào kĩ thuật! Nếu thêm vào nhận định về ngôn ngữ nội tâm trong cuốn tiểu thuyết, có lẽ không thể không thấy Bảo Ninh đã rất tinh tế, tài hoa, chữ nghĩa có hồn vía, tuy vẫn còn sót vài hạt sạn nhỏ (có thể do tác giả hay do người sắp chữ). Nếu đi sâu vào những hình tượng nhân vật, hẳn có nhiều điều rất đáng ngẫm ngợi hơn.
-Trần Xuân An

ĐIỂM NHÌN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN ĐIỂM NHÌN NGHỆ THUẬT1. Khái lược về điểm nhìn nghệ thuậtĐiểm nhìn là vị trí, chỗ đứng ...
29/09/2024

ĐIỂM NHÌN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN
ĐIỂM NHÌN NGHỆ THUẬT
1. Khái lược về điểm nhìn nghệ thuật
Điểm nhìn là vị trí, chỗ đứng để xem xét, miêu tả, bình giá sự vật, hiện tượng trong tác phẩm. Trong tác phẩm tự sự, tương quan giữa nhà văn và chủ đề trần thuật hay giữa điểm nhìn của người trần thuật với những gì anh ta kể là điều đặc biệt quan trọng. Điểm nhìn trần thuật được xem như một camera dẫn dắt người đọc vào mê cung văn bản ngôn từ. Khi nghiên cứu điểm nhìn nghệ thuật, người ta chia điểm nhìn thành các loại như điểm nhìn tác giả, điểm nhìn nhân vật, điểm nhìn không gian, điểm nhìn thời gian, điểm nhìn tâm lí, điểm nhìn tư tưởng,…
- Khái niệm: Nguyễn Thị Thu Thủy trong cuốn sách Điểm nhìn và ngôn ngữ trong truyện kể đã khẳng định điểm nhìn trong truyện kể chi phối tới quá trình quan sát và kể lại: "Điểm nhìn là vị trí, xuất phát điểm mà từ đó hiện thực được quan sát và kể lại". Tác giả Nguyễn Thị Hoài An trong luận án tiến sĩ của mình khẳng định “Điểm nhìn nghệ thuật trong tự sự là vị trí, chỗ đứng nhất định để nhìn nhận, xem xét, đánh giá sự vật, hiện tượng ...và sau đó kể, miêu tả, thể hiện chúng bằng hình thức của một tác phẩm nghệ thuật ngôn từ”. Cần lưu ý rằng vị trí, chỗ đứng không chỉ là vị trí trong không gian, thời gian mà còn là tầm nhận thức, trình độ, văn hóa, lứa tuổi, giới tính, trải nghiệm… của người kể chuyện. Từ điểm nhìn nghệ thuật người kể chuyện xác định thông tin trọng tâm (tiêu điểm) để kể, miêu tả và thể hiện thái độ, bình luận. Mối quan hệ giữa chủ thể của điểm nhìn với truyện và tiêu điểm sẽ quyết định ngôi kể trong truyện”.
- Tầm quan trọng của điểm nhìn nghệ thuật: Tác phẩm văn học nào dù là thơ hay truyện cũng xuất phát từ điểm nhìn cụ thể. Không thể không có tác phẩm văn học nếu không có điểm nhìn và điểm nhìn góp phần quan trọng tạo nên giá trị tác phẩm. Tác giả Nguyễn Thái Hòa trong Điểm nhìn trong lời nói giao tiếp và và điểm nhìn trong nghệ thuật trong truyện đã khẳng định điểm nhìn điểm bắt đầu và chi phối sâu sắc đến tác phẩm. Đồng thời ông cũng nhận thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa điểm nhìn với người kể, tác phẩm và người đọc: “Điểm nhìn nghệ thuật là điểm xuất phát của một cấu trúc nghệ thuật, hơn thế nữa là một cấu trúc tiềm ẩn được người đọc tiếp nhận bằng thao tác suy ý từ các mối quan hệ phức hợp giữa người kể và văn bản, giữa văn bản và người đọc văn bản, giữa người kể và người đọc hàm ẩn"
- Mối quan hệ của điểm nhìn với đối tượng được nói đến trong tác phẩm: Điểm nhìn của chủ thể có điểm rơi vào khách thể. Từ điểm nhìn nghệ thuật, chủ thể của điểm nhìn quan sát, kể lại, miêu tả và bình luận khiến đối tượng được nói đến hiện lên sống động. Nhìn chung, khi phân tích tác phẩm theo điểm nhìn nghệ thuật chúng ta phải trả lời cho các câu hỏi: Người trần thuật là ai? Anh ta miêu tả cái gì? Và dưới cái nhìn của anh ta thì cái được miêu tả hiện ra như thế nào? Từ đó, điểm nhìn nghệ thuật trong tác phẩm có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp người đọc thâm nhập sâu vào tác phẩm trên bình diện nghệ thuật, khám phá một cách sâu sắc giá trị nội dung, tư tưởng mà nhà văn muốn gửi gắm ở đứa con tinh thần của mình.
- Điểm nhìn thể hiện phong cách nhà văn: Về bản chất điểm nhìn nghệ thuật luôn xuất phát từ điểm nhìn của tác giả và mỗi tác phẩm truyện đều ẩn chứa trong đó hình tượng tác giả. Từ việc phân tích điểm nhìn nghệ thuật của tác phẩm, người đọc còn có thể tìm ra được nét riêng độc đáo trong phong cách nghệ thuật của mỗi nhà văn.
2. Phân loại điểm nhìn nghệ thuật
- Theo vị trí quan sát của người kể, có thể phân theo điểm nhìn kể chuyện như: điểm nhìn bên ngoài, bên trong; điểm nhìn không gian (xa, gần), điểm nhìn di động (từ đối tượng này sang đối tượng khác), điểm nhìn thời gian (quá khứ, hiện tại, tương lai), điểm nhìn luân phiên (trong, ngoài). Sự luân phiên điểm nhìn này cho thấy sự linh hoạt của các kiểu tổ chức miêu tả và bình luận trong cốt truyện.
- Tuy nhiên, điểm nhìn người kể chuyện thường được phân chia thành ba loại chính: điểm nhìn toàn tri (vô điểm nhìn), điểm nhìn bên ngoài, điểm nhìn bên trong. Ngoài ra, còn có thể kể đến kiểu điểm nhìn di động. Dựa trên tầm nhìn, vai trò của người kể chuyện và mối quan hệ giữa điểm nhìn với tiêu điểm, ngôi nhân xưng, hình thức ngôn ngữ người ta xác định các tiêu chí nhận diện điểm nhìn trong tự sự như sau:
2.1. Các tiêu chí nhận diện tác phẩm kể chuyện theo điểm nhìn toàn tri
- Về tầm nhìn và vai trò của người kể chuyện: Người kể chuyện có khả năng biết hết về câu chuyện, biết nhiều hơn nhân vật và là chủ thể của điểm nhìn. Người kể chuyện không chỉ có vai trò kể lại câu chuyện mà còn có thể bình luận, điều khiển nhân vật.
- Về ngôi, nhân xưng:
+ Người kể chuyện thường không xuất hiện (hàm ẩn) hoặc hiếm khi là người kể chuyện tường minh xưng "tôi".
+ Nhân vật thường ở ngôi thứ ba.
- Về tiêu điểm kể chuyện: Người kể chuyện có cái nhìn biết hết nên nhân vật có thể được kể từ bên ngoài (ngoại hình, lời nói, hành động) vào bên trong (nội tâm) một cách rõ nét.
- Về ngôn ngữ kể chuyện: chủ yếu là lời người kể chuyện, là lời kể gián tiếp.
2.2. Các tiêu chí nhận diện tác phẩm kể chuyện theo điểm nhìn bên ngoài
- Về tầm nhìn và vai trò của người kể chuyện: Người kể chuyện mặc dù vẫn là chủ thể của điểm nhìn nhưng biết ít hơn nhân vật, chỉ có khả năng nhìn nhận từ bên ngoài mà không biết gì về nội tâm bên trong của nhân vật. Người kể chuyện ít có khả năng đánh giá, phán đoán và không có khả năng điều khiển nhân vật.
- Về ngôi, nhân xưng:
+ Người kể chuyện không xuất hiện trong tác phẩm, hoàn toàn giấu mình.
+ Nhân vật thường ở ngôi thứ ba.
- Về tiêu điểm kể chuyện: Nhân vật chỉ có thể được kể từ bên ngoài bằng ngoại hình, lời nói, hành động.
- Về ngôn ngữ kể chuyện: Ngôn ngữ gián tiếp, chủ yếu là ngôn ngữ người kể chuyện. Trong một số tác phẩm ngôn ngữ đối thoại của nhân vật được coi trọng và chiếm một tỉ lệ cao.
2.3. Các tiêu chí nhận diện tác phẩm kể chuyện theo điểm nhìn bên trong
- Về tầm nhìn và vai trò của người kể chuyện: Chủ thể của điểm nhìn là nhân vật. Người kể chuyện có thể là nhân vật kể chuyện mình hoặc nhập thân vào nhân vật để kể chuyện nên chỉ có thể nhìn nhận, kể chuyện, bình luận, lí giải, phán đoán bằng tầm nhìn của một nhân vật.
- Về ngôi, nhân xưng: Người kể chuyện đồng thời là nhân vật, có thể xuất hiện trong tác phẩm ở ngôi thứ nhất (với trường hợp người kể chuyện là nhân vật kể chuyện mình) hoặc ngôi thứ ba (với trường hợp người kể chuyện nhập thân vào nhân vật để kể chuyện).
- Về tiêu điểm kể chuyện: Tiêu điểm kể chuyện là nội tâm của nhân vật nên truyện kể thường ít sự kiện, ít nhân vật, ít hành động, lời nói.
- Về ngôn ngữ kể chuyện: Ngôn ngữ kể chuyện là lời kể trực tiếp với trường hợp người kể chuyện là nhân vật kể chuyện mình hoặc nửa trực tiếp với trường hợp người kể chuyện nhập thân vào nhân vật để kể chuyện.
2.4. Điểm nhìn di động: Là kiểu kể chuyện mà người kể chuyện tựa vào nhiều điểm nhìn khác nhau để kể chuyện: Trong tác phẩm người kể chuyện di chuyển từ điểm nhìn này sang điểm nhìn khác để kể chuyện. Tiêu biểu cho phương thức kể chuyện này là tác phẩm Đời thừa. Ban đầu, người kể chuyện kể chuyện kể từ điểm nhìn của Từ với đối tượng được quan sát và kể, miêu tả là nhân vật Hộ. Sau đó, người kể chuyện lại xuất phát từ điểm nhìn của nhân vật Hộ để quan sát, kể và miêu tả về nhân vật Từ. Điểm nhìn di chuyển như vậy cung cấp một cái nhìn đa chiều về cuộc sống mòn mỏi của người trí thức trong xã hội cũ.
Nguồn: (st)

Như vậy năm nay đã thay đổi điểm xét tốt nghiệp chia buồn với những em bé học 10,11 là nháp 😂😂😂😂Điểm học bạ chỉ chiếm 50...
03/09/2024

Như vậy năm nay đã thay đổi điểm xét tốt nghiệp chia buồn với những em bé học 10,11 là nháp 😂😂😂😂
Điểm học bạ chỉ chiếm 50% nên các cô thầy không gánh nổi

Để vào 10 cho các con nhé
29/08/2024

Để vào 10 cho các con nhé

Với điểm số chạm nóc các trường vừa công bố thì Đại học Kinh tế quốc dân đã có những thay đổi đầu tiên trong năm 2025. +...
19/08/2024

Với điểm số chạm nóc các trường vừa công bố thì Đại học Kinh tế quốc dân đã có những thay đổi đầu tiên trong năm 2025.
+ Phương thức xét tuyển thẳng (2% chỉ tiêu như năm 2024).
+ Phương thức xét tuyển kết hợp theo đề án tuyển sinh của trường (83% chỉ tiêu, tăng 3% so với năm 2024).
+ Phương thức xét kết quả thi tốt nghiệp THPT năm 2025 (15% chỉ tiêu, giảm 3% so với năm 2024).
Như vậy với những động thái này cho ta thấy được việc sự cạnh tranh càng ngày càng lớn của các trường ĐH top 1. Vì vậy việc lựa chọn thêm 1 phương án dự phòng như các kì thi đánh giá năng lực, đánh giá tư duy là một điểm an toàn.

Cmt để nhận file đề mẫu đánh giá năng lực của năm 2025 nhé các bạn 2k7

Hiện nay có rất nhiều trường định hướng cho con thi khối C, D và A1 😀 Mình cũng đọc được bài viết này cop lại để đâyTrướ...
04/07/2024

Hiện nay có rất nhiều trường định hướng cho con thi khối C, D và A1 😀

Mình cũng đọc được bài viết này cop lại để đây

Trước năm học mới cho lớp 10 2k8 theo định hướng mới 2018 thấy nhiều thầy cô, thậm chí các vị lãnh đạo nhà trường định hướng ban C, D, A1 nhiều quá mà mình chỉ cười 😀

🙄 Lớp 10 mới cho 2K8: Định hướng môn thi khối A1 - Toán - Lý - Anh: " Có phải là sự lựa chọn Sáng suốt?".

😀 Trên quan điểm cá nhân tôi có một số nhận định như sau:
💥 ƯU ĐIỂM KHỐI A1:
👉 Xét tuyển được nhiều nghành ở nhiều trường ĐH cả ở KHTN và KHXH. Học sinh có phổ chọn nghề rộng, tha hồ lựa chọn, tăng cơ hội lựa chọn trường ĐH.
👉 Trong tổ hợp thi có 2 môn là ưu thế mà học sinh vừa ôn để thi vào 10 là Toán + Tiếng anh. Chỉ cần học thêm 1 môn là Vật Lý.
👉 Thi tuyển vào các trường khối KHTN mà không phải học môn Hóa học. Vậy, thay vì học cả Lý Hóa như khối A thì giờ chỉ cần học mỗi mình môn Lý. Nhẹ đi 1 nửa gánh nặng học tập.
👉 Tiếng anh là rất cần thiết, không chỉ cho thi cử mà còn ứng dụng khi đi làm việc.
🌾🌾🌾 Chốt: Chọn khối A1 là nhất cử lưỡng tiện, ưu thế trên mọi khía cạnh🌾🌾🌾
💥 RỦI RO CỦA KHỐI A1:
👉 Rủi ro Lớn nhất của khối A1 là PHỤ THUỘC HOÀN TOÀN VÀO KÌ THI TỐT NGHIỆP THPT của Bộ Giáo dục tổ chức. Học sinh chọn khối A1 có nghĩa là "phải" có niềm tin là: Vai trò của kì thi tốt nghiệp sẽ không thay đổi (giữ nguyên như hiện tại) và các trường đại học cũng không thay đổi phương thức tuyển sinh. => Tôi thấy học sinh chọn khối A1 là những học sinh Kiên định, luôn tin tưởng vào sự ổn định của Bộ giáo dục và luôn tin tưởng việc "Đổi mới giáo dục nhưng thi cử sẽ không thay đổi"
💥 NHỮNG DẤU HIỆU KHÔNG VUI CHO KHỐI A1
👉 ĐH KTQD năm sau sẽ không lấy Kq của thi tốt nghiệp để tuyển sinh. Vậy, khối A1 hết cửa lấy điểm TN.
👉 Năm sau: Các khoa Hót hít của ĐH BK Hà nội sẽ không lấy kết quả tốt nghiệp.
👉 Năm 2021 ĐH QG TPHCM đã tổ chức 2 kì thi ĐGNL với quy mô lớn trên 17 tỉnh thành và đạt kết quả rất khả quan.
👉 Các trường ĐH đầu cao đang đa dạng hình thức tuyển sinh, giảm dần tỉ lệ của KQ thi TN quốc gia.
👉 Theo luật GD: Bộ giáo dục không có trách nhiệm tuyển sinh ĐH. Kì thi TN + kì thi tuyển ĐH gộp lại 1 đã cho thấy sự mệt mỏi và nhiều tiêu cực. Bộ giáo dục đã quá mệt mỏi để xử lí tiêu cực nhiều năm liên tiếp. Dự đoán, Bộ GD sẽ đưa kì thi TN về đúng nghĩa thi TN của nó.
💥 KHỐI A1 - KHỐI THI KHÓ "QUAY XE" NHẤT KHI THI CỬ THAY ĐỔI.
👉 Một cái nghịch lí lù lù mà nhiều người cứ nhắm mắt bỏ qua là: Học định hướng phân ban KHTN hoặc KHXH nhưng khối A1 lại không nằm ở "Cái vở nào hết cả". A1 giống như đứa trẻ bơ vơ không ban nào thừa nhận.
👉 Pha quay xe đầy dang dở: Nếu khối A1 quay xe sang ban A thì môn Hóa sẽ là môn "Trời đày". Học sinh đã bỏ hóa từ lớp 10, quay lại học hóa ở lớp 11 hoặc lớp 12 thì quá dang dở...tỉ lệ thành công rất thấp. Còn nếu quay xe sang xã hội thì học thêm Sử Địa => tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa.
🌾🌾Chốt: Quay xe thì vẫn được, nhưng hơi đẫm nước mắt, nước mũi và mồ hôi cày lại từ đầu các môn. Xuất phát chậm hơn, khó mà mong về đích sớm hơn, trừ khi hs đấy Rất giỏi🌾🌾
💥 KHỐI A1 - ĐỨA TRẺ BỊ BỎ RƠI, LẠC LÕNG TRONG CÁC KÌ THI ĐGNL CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC.
👉 Thứ nhất: Xu hướng thi ĐGNL của các trường ĐH là tất yếu. . . Ta đi theo thế giới chứ ta cũng chẳng bịa ra được các kì thi.
👉 Thứ 2: Học phân ban thì thi ĐGNL cũng sẽ phân ban. KHTN chắc chắn phải thi Lý Hóa Sinh. KhXH thi đủ các môn sử địa CD-PL.
🌾Nhìn đã thấy: A1 ở đâu trong dạng thi cử này?. Nói thật, học chuyên sâu A1 thi ĐGNL kết quả sẽ không cao. Học khối A1 là tự tước đi ưu thế học lực của mình trong các kì thi này🌾
💥💥💥 Tôi cũng không chắc chắn mọi thứ sẽ thay đổi chính xác theo hướng nào? Mọi thứ suy đoán đều theo các sự kiện và xu hướng.
💥💥💥 Tôi nêu ra quan điểm để chia sẻ, chứ không để tranh luận. Không tìm đúng sai.
💥💥💥 Mỗi người có 1 suy nghĩ, nhưng nếu đặt địa vị có con muốn thi vào các nghành khoa học tự nhiên tôi sẽ chọn Khối A. 😆 khi cần thi ĐGNL thì chỉ cần học thêm môn Sinh một cách nhẹ nhàng.

🙋‍♂️P/S: Tôi viết bài này do có nhiều người hỏi tôi về quan điểm khối A1 là khối cần suy nghĩ nhiều nhất. Vậy, theo các thầy cô học kiểu gì giờ là Ngon nhất?

Nhả vía cho các bạn nào ❤️❤️❤️❤️
24/03/2024

Nhả vía cho các bạn nào ❤️❤️❤️❤️

Đề minh hoạ năm 2024
22/03/2024

Đề minh hoạ năm 2024

- Bài thi đánh giá năng lực ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI- 1. Gồm 3 phầnBài thi ĐGNL học sinh THPT làm trên máy tính, thời gia...
25/02/2024

- Bài thi đánh giá năng lực ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI-
1. Gồm 3 phần
Bài thi ĐGNL học sinh THPT làm trên máy tính, thời gian từ 195 - 199 phút gồm 3 phần với các câu hỏi trắc nghiệm khách quan (lựa chọn đáp án) và câu hỏi điền đáp án về các lĩnh vực Toán học (50 câu hỏi, 75 phút), Văn học - Ngôn ngữ (50 câu hỏi, 60 phút), Khoa học tự nhiên – xã hội (50 câu hỏi, 60 phút). Phần 1 và phần 3 sẽ có thêm 1-3 câu hỏi thử nghiệm không tính điểm.

2. Danh sách các trường xét điểm thi đánh giá năng lực 2023 của Đại học Quốc gia Hà Nội:
1. Trường Đại học Y Dược - Đại học Quốc gia Hà Nội

2. Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN

3. Trường Đại học Công nghệ - ĐHQG HN

4. Trường ĐH Khoa học Tự nhiên - ĐHQGHN

5. Trường ĐH Khoa học Xã hội & Nhân văn - ĐHQGHN

6. Trường ĐH Kinh tế - ĐHQGHN

7. Trường ĐH Giáo dục - ĐHQGHN

8. Trường ĐH Việt Nhật - ĐHQGHN

9. Trường ĐH Luật - ĐHQGHN

10. Trường Quốc tế- ĐHQGHN-

11. Trường Quản trị & Kinh doanh - ĐHQGHN

12. Khoa các Khoa học Liên ngành - ĐHQGHN

13. Trường ĐH Sư phạm - ĐH Thái Nguyên

14. Trường ĐH Kinh tế & Quản trị Kinh doanh - ĐH Thái Nguyên Trường

15. ĐH Công nghệ và Truyền thông - ĐH Thái Nguyên

16. Trường ĐH Khoa học Tự nhiên - ĐH Thái Nguyên

17. Trường ĐH Nông Lâm - ĐH Thái Nguyên

18. Trường ĐH Y Dược - ĐH Thái Nguyên

19. Khoa Quốc tế - ĐH Thái Nguyên

20. Trường Đại học Ngoại thương

21. Học viện Ngân hàng

22. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

23. Trường Đại học Thương Mại

24. Trường Đại học Hà Nội

25. Học viện Tài chính

26. Trường ĐH Tài nguyên - Môi trường -

27. Trường Đại học Thăng Long

28. Trường Đại học Y Thái Bình (cộng điểm)

29. Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên

30. Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật Nam Định

31. Trường Đại học Hồng Đức (Thanh Hóa)

32. Trường Đai học Công nghiệp Việt Trì

33. Trường ĐH Kỹ thuật Y tế Hải Dương

34. Trường ĐH Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp

35. Trường Đại học Vinh

36. Trường Đại học Tân Trào

37. Trường Đại học Sư phạm 2 Hà Nội

38. Trường Đại học Điện lực

39. Trường Đại học Tây Bắc

40. Học viện Chính sách và Phát triển

41. Trường Đại học Mở Hà Nội

42. Trường ĐH Nguyễn Tất Thành

43. Trường Đại học Duy Tân

44. Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội

45. Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật Vinh

46. Trường ĐH Công nghệ Giao thông Vận tải

47. Trường Đại học Tây Bắc

48. Trường Đại học Lâm Nghiệp

49. Trường Đại học Nha Trang

50. Trường Đại học Y tế Công cộng

51. Trường Đại học Hoa Sen

52. Trường Đại học Dầu khí

53. Trường ĐH Công nghệ và Quản lý Hữu nghị

54. Trường Đại học Đà Lạt

55. Trường ĐH Xây dựng Miền Trung

56. Trường ĐH Tài chính - Quản trị Kinh doanh

57. Trường ĐH Kinh tế Nghệ An

58. Trường Đại học Nguyễn Trãi

59. Trường ĐH Công nghiệp Dệt may Hà Nội

60. Trường Đại học Kinh Bắc

61. Trường ĐH Tài chính - Marketing

62. Trường Đại học Quảng Bình

63. Học viện Hàng không

64. Trường Đại học Quy Nhơn

65. Trường Đại học Nam Cần Thơ

66. Trường Đại học Hòa Bình

67. Trường Đại học Công nghệ Đông Á

68. Trường Đại học Đông Đô

69. Trường Đại học Quốc tế - ĐHQG TP.Hồ Chí Minh

70. Học viện Bưu chính - Viễn thông

71. Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội

72. Đại học Hải Phòng

Address

Hoàng Kim

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Ôn thi THPT Quốc Gia cấp tốc môn Ngữ Văn- Hà Nội posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The School

Send a message to Ôn thi THPT Quốc Gia cấp tốc môn Ngữ Văn- Hà Nội:

Shortcuts

Share