Vietnamese Language Studio Hanoi

Vietnamese Language Studio Hanoi

Share

Teaching Vietnamese Language and culture to the foreigners living in Hanoi and Vietnam

02/02/2026

Một bài viết hay của cụ Nguyễn Văn Tố trên tạp chí Tri Tân ra ngày 3-6-1941. Bài nói có giải thích rõ về việc tên các miền của nước Việt thời xưa và thời Pháp thuộc:

QUỐC HIỆU NƯỚC TA
của Ứng Hòe Nguyễn văn Tố

Không nên gọi là An-nam
TRONG một tập thư cũ của Hội Truyền-giáo xuất bản tại Paris năm 1821 (Nouvelles Lettres édifiantes des Missions de la Chine et des Indes orientales, quyển VI trang X) có một câu rằng : «Vua trị vì bây giờ (là vua Gia-long, 1802-1819) đã đổi tên An-nam làm tên Việt nam và đã cấm dùng tên An-nam». (1)
Tại sao ?
Tại An-nam là tên của Tầu đặt cho tự ngày nội thuộc; nếu người mình đem ra dùng khi nói chuyện hay viết sách viết báo, thì thế nào cũng có cái vẻ thần-phục: xem quyển An-nam chí lược của Lê-Tắc cũng đủ biết.
Quyển Từ - nguyên chép « đời thượng cổ An-nam là đất trăm nước Việt; tự nhà Tần, nhà Hán đến nhà Đường, vào bản đồ Trung-quốc ; nhà Đường đặt An-nam đô hộ phủ ở Giao-châu: tên nước An-nam thực bởi đấy mà khởi ra ».
Quyển Việt-Nam tự-điển (trang 5) của Hội Khai-trí-tiến-đức lại nói « đến đời Trần mới lấy làm tên nước: như thế thì sai, vì quyển Đại Nam quốc sử diễn ca có chua ở mục Quốc - hiệu thông - khảo » một câu rằng: 李英宗時,宋改交趾郡為安南國稱國始此 « Thời Lý Anh Tôn (1138-1175) nhà Tống đổi quận Giao-chỉ làm An-nam quốc, xưng quốc mới tự đây ».
Sách Tầu cũng chép như thế : bộ Văn hiến thông khảo (quyển 330, trang 27) nói vua Cao Tôn nhà Tống thấy vua Thiên-Tộ nhà Lý (Lý Anh Tôn) « nối ngôi bốn mươi năm, cho nên hậu lễ phong cho là « An-nam quốc »; sau khi được gia phong, dần dần tự tôn lên, xưng là nước, từ đấy không đổi nữa ».
Bộ Văn hiến thông khảo còn chép một vài tên nữa như sau này: « Khoảng năm Thiên-hy (1017-1021) tiến phong Lý Công-Uẩn (Lý Thái Tổ, 1009-1028) làm Nam-bình quận vương... Kien-Đức (Lý Nhân Tôn, 1072-1127) lại vào triều cống, xin trả lại những châu huyện đã cướp: vua Tầu chiếu bảo cho biết rằng : « Ngươi coi có đất Nam-giao...» v. v.
Quốc sử diễn ca không chép Nam giao, chỉ chép có Giao-nam, Giao chỉ và Giao-châu. Ba tên hiệu này, nhiều nhà sử học đã nghiên cứu đến; nay muốn kiểm-điểm lại, phải viết đến một quyển sách con. Vậy chỉ xin nhắc lại rằng kinh Thư có chép Nam-giao, mà kinh Lễ thì nói:南方日望,雕 Nam gọi là Mân, 器,交趾 «Phương chạm khắc vào trán, ngón chân cùng hướng với nhau », nên gọi là Giao-chỉ.
Còn Giao-châu vốn là một bộ thuộc của đất Việt thường, nay là cõi Quảng-đông, Quảng-tây; trong sử Nam nói là tên gồm những khi Bắc - thuộc: Đường Cao-Tổ, năm Võ-đức thứ năm (tức là năm 622) đổi Giao-châu làm An-nam đô hộ phủ; Túc Tôn năm Chí-đức thứ ba (758) đổi là Trấn-nam; Đại Tôn năm Đại-lịch thứ ba (763) lại đổi làm An-nam.
Trước Tây- lịch kỷ nguyên, vào khoảng năm 207, Triệu-Đà (Triệu Võ-Đế, 207-137) đặt tên nước là Nam-Việt 南越 (có chỗ viết là 葫粤); nay Nam-Việt là đất Quảng-đông, Quảng-tây.
Nhưng đó toàn là tên của Tầu đặt ra.
Tên của ta đặt lấy là những tên gì ?
Sử chép đời Hồng - bàng đặt là Văn-lang.
Thục An-dương vương (257- 208 trước kỷ nguyên) đổi làm Âu-lạc.
Lý Nam - đế (544-548) đặt là Van-xuân.
Đinh Tiên Hoàng (968-979) đặt là Đại Cồ Việt.
Lý Thánh Tôn (1054-1072) đặt là Đại Việt.
Gia-long (1802-1819) nhất thống cả ba kỳ (Trung, Nam, Bắc) đặt là Việt-Nam.
Lúc đầu người Âu gọi Trung-kỷ và Nam-kỳ là Cochin-Chine (viết làm hai chữ): Cochin do chữ Giao-chỉ mà ra, người Tầu thì đọc là Kiao-tche, người Bồ-đào-nha đọc là Cauchi, người Mã-lai đọc là Kutchi. Ấn - độ cũng có tỉnh Kutchi, nên người Âu thêm chữ Chi-na, vị chi Cochin-Chine, nghĩa là Giao-chỉ ở phía Trung-hoa (xuất xứ ở tập kỷ yếu của trường Bác-Cổ, quyển III) trang 299).
Sau người Pháp muốn phân-biệt rõ ràng, gọi Trung-kỳ là Cochinchine, Nam-kỳ lục-tỉnh là Basse Cochinchine (Basse là dưới), nhưng chưa gọn, nên đổi Trung-kỳ là An-nam, Nam-kỳ là Cochinchine, còn Bắc-kỳ thì gọi là Tonkin (do chữ Đông-kinh mà ra).
Khoảng năm Minh-mạng (1820-1840) quốc hiệu cả ba kỳ đổi làm Đai-Nam. Những sách chữ Hán nói về nước ta từ hồi đó đều gọi là Đại-Nam hội điển, Đại-Nam liệt truyện, Đại-Nam thực lục, v. v..
Đáng lẽ bộ Việt-nam tự điển của hội Khai trí cũng nên đề là Đại-Nam tự-điển.
Tất có người bảo: « Làm gì mà tự cao, tự đại thế ?»
Xin trả lời rằng: Quốc hiệu « Đại-Nam » đặt ra chưa thấy đổi, thì việc gì tự ý mình lại đổi đi ? Da-dĩ có người bắt chước người ngoại quốc nói: « nước An-nam », « người An-nam », thì sao ta lại không tự trọng mà giữ lấy cái quốc hiệu « Đại-Nam » sẵn có ? Đối với nước nhà, tự hạ quá chưa chắc đã là việc hay.
NG. V. TỐ
(1) Nguyên văn là: « Le roi qui règne ma ntenant a substitué le nom de Việt-nam à celui d'An-nam, et a fait défense de se servir de ce dernier nom ».

Send a message to learn more

04/01/2026

Ai biết chờ, người ấy sẽ được (who can wait can get)
Ai giàu ba họ, ai khó ba đời (None is rich in three families and none is poor in three generations)
hoặc:
Đừng có chết mất thì thôi
Sống thì có lúc no xôi chán chè (you will be fed fully some day as long as you do not die)

In English proverbs:

Everything comes to him who waits.
The ball comes to the player.
Every dog has its/his day.
The longest day must have an end.
The morning sun never lasts a day.

Send a message to learn more

21/11/2024

"Ai giàu ba họ, ai khó ba đời"
In English: Who is rich for three families (father's, mother's and wife's) and who is poor for three generations?
Meaning: Be patient. Do your best and you will get rich.

Comparative Idioms in English:

- Everything comes to him who waits.
- The ball comes to the player.
- Every dog has its/his day.
- The longest day must have an end.
- The morning sun never lasts a day.

Send a message to learn more

03/08/2024

Bên sông

Tác giả: Nguyễn Bính

Có hai em bé học trò,
Xem con kiến gió đi đò lá tre.
Nứa xuôi từng một thôi bè,
Nắng sang bãi cát bên kia có chiều.
Thoáng như một lớp phù kiều,
Chim đàn nối cánh bay vèo ngang sông.
Thuyền buôn đã mấy ngày ròng,
Nằm suông, lái chửa ăn xong giá hàng.

1937

Mấy chục năm trước thấy 2 từ "phù kiều" khó hiểu quá. Bảo rằng ấy là cái gì đó mà chỉ ở vùng quê Nguyễn Bính mới có, chỉ Nguyễn Bính mới hiểu. Nay đọc Tam Quốc thấy nói: Trương Phi hò hét trên cầu Tràng Bản xong rồi chặt gẫy cầu. Tháo cho Trương Liêu, Hứa Chử đi thám thính thấy thế bèn "tốc tháp tam tòa phù kiều" - làm gấp ba cầu phao. Mới thấy "phù kiều" chẳng qua là "cầu phao" mà thôi. Thơ sính chữ Nho nó có cái hại như vậy.

23/07/2024

卻說曹操罷三公之職,自以丞相兼之,以毛玠為東曹掾;崔琰為西曹掾;司馬懿為文學掾
Tào Tháo bỏ chức tam công, tự kiêm chức Thừa Tướng. Cử Mao Giới làm Đông Tào Duyện, Thôi Diễm làm Tây Tào Duyện, Tư Mã Ý làm Văn Học Duyện.
Từ đời xưa đã có chuyện người làm văn học lại lấy được nước rồi đấy. Có lẽ mưu cao kế sâu đều nằm trong sách cả, chứ không "truyền tay" như võ thuật.

10/01/2024

HÀNH ĐỘNG ĐÚNG SAI, DO TIM HAY NÃO?
Bùi Đức Huyên

Lương tâm là một từ có sức mạnh mơ hồ huyền bí, có khả năng xáo trộn suy nghĩ của một con người, xáo trộn mọi hành động trong quá khứ và tượng lai, nó có tính tự vấn xem hành động nào của ta là có lương tâm hay không.
Bản chất về mặt ngôn ngữ thì chữ "lương tâm" là gì mà lại ghê gớm như vậy? Xét trong tiếng Anh, lương tâm được dịch là "conscience". Mà conscience là anh em gần với consciousness – sự ý thức, vậy có lẽ nó liên quan đến "ý thức" chăng? Đúng vậy! "Conscience" được từ điển Cambridge định nghĩa là khả năng kiểm soát kiến thức và phân biệt đúng sai của trí não, hay là "sự ý thức về đúng sai" và "sự biết" nói chung. Nhưng đó chỉ là cách mà người ta dịch từ "lương tâm" sang "conscience" hay là ngược lại khi làm từ điển mà thôi. Dịch là chuyển ngữ, chuyển hết ý được thì ít khi lắm, cùng lắm là tải được 70% ý nghĩa của từ nguyên gốc là tốt lắm rồi.
Cũng theo từ điển Cambridge thì lại có ví dụ minh họa từ conscience bằng câu She had a guilty conscience about the injured man - Cô ấy nhận thức được về sự tội lỗi đối với người đàn ông bị thương. Như vậy thì có cả lương tâm tội lỗi và lương tâm bình thường hay sao? Không ổn rồi. Vậy "conscience" chỉ là khả năng nhận biết tốt-xấu, đúng-sai, chứ chưa phải là "khả năng tốt".
Vì sao hành động đúng hay sai lại có liên quan đến trái tim?
Theo chữ Hán, "lương tâm" được viết là "良心" và được định nghĩa là "cái lòng tốt sẵn có mà trời phú cho mỗi người – từ điển Nguyễn Quốc Hùng". Chữ "tâm-心" nghĩa là quả tim - khá quen thuộc với người học chữ Hán thì chữ "lương-良" cũng là từ hay gặp như trong các từ "lương thiện", "hiền lương"… Vậy hiểu nôm na lương tâm là "trái tim tốt lành".
Chúng ta đều biết não óc có vai trò suy nghĩ, tính toán, ngôn ngữ, phê bình... và như vậy não óc có vai trò trong việc phân biệt phải-trái đúng-sai. Vậy trái tim có vai trò gì trong việc thể hiện lòng tốt và sự phân biệt đúng-sai, phải-trái mà người phương Đông lại dùng trái tim để phân biệt phải trái đúng sai? Ta thường nghe nói: người ấy có tâm tốt, tâm tính tốt, có trái tim nhân ái, "con tim", tâm trạng,.. Tất cả đều vì rằng: tuy não biết đúng sai nhưng trong cơ thể lại có một hệ thần kinh chỉ đạo các phản ứng của cơ thể (nó gồm hệ thần kinh giao cảm và phó giao cảm – hệ thần kinh tự chủ hoặc còn gọi là tự luật – theo Wikipedia), hệ thần kinh này sẽ phản ứng trước các vấn đề đúng-sai, phản đối-ủng hộ,… nhằm cân bằng tối ưu cho cơ thể. Vậy cơ thể, khi đứng trước một vấn đề có tính lựa chọn: làm hay không làm, tốt hay xấu, sẽ được quyết định bởi hệ thần kinh trên. Não óc chỉ có vai trò nhận tín hiệu âm thanh từ tai nghe truyền về, tính hiệu hình ảnh của mắt mang lại và trích xuất các thông tin cũ. Hệ thần kinh sẽ phản ứng với các tín hiệu nhận được. Và cơ thể chúng ta thường cảm nhận các nỗi sợ, vui mừng,… qua nhịp đập của quả tim, của huyết áp vì tim và máu chịu sự ảnh hưởng của hệ thần kinh giao cảm và phó giao cảm. Điều này lý giải vì sao những người chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc lại cho rằng mọi tình cảm đều liên quan đến "tim" và trong chữ Hán, các từ ngữ liên quan đến tình cảm, cảm xúc con người lại có bộ tâm -心忄(tim) đứng bên cạnh. Vậy não óc biết đúng sai nhưng hệ thần kinh mới là kẻ gây ra cảm xúc của con người – thông qua tim. (Trong văn hóa phương Tây cũng đề cao vai trò của trái tim như hình ảnh trái tim Đức mẹ trong Thiên chúa giáo)
Vậy chúng ta hãy quay lại vấn đề "lương tâm" hay nói đúng hơn là quay về nghĩa nguyên gốc của từ "lương tâm" được diễn giải bằng tiếng Việt. Ta có thể định nghĩa nó lại như sau: "lương tâm là khả năng nhận biết đúng sai, tốt xấu v.v. của hệ thần kinh ".
Vậy con người ta đứng trước một vấn đề có tính lựa chọn. Ví dụ ta đứng trước quyết định phản ứng thế nào đối với kẻ đã gây cho ta sự khốn khổ nào đó. Trí não ta nhận những thông tin của kẻ đó: xấu xa, tàn ác, phản đối của kẻ đó đối với ta… và các thông tin đó khiến cho hệ thần kinh của ta kích hoạt. Lúc ấy lương tâm sẽ xuất hiện và làm vai trò của mình. Người "có lương tâm" sẽ không phản ứng hoặc chỉ phản ứng nhẹ, người "không có lương tâm" sẽ phản ứng mạnh, thậm chí tàn ác. Vậy để "có lương tâm", ta phải biết kiểm soát hệ thần kinh: thấy điều chướng tai g*i mắt, thấy mối thù, sự khó chịu ta không căng thẳng dẫn đến các hành động thiếu kiểm soát (có thể dễ đến các hành động vô lương tâm) ta phải kiểm soát được gốc rễ của các cảm xúc được thể hiện qua nhịp tim, mạch máu: đó là phản ứng của hệ thần kinh.
Làm thế nào kiểm soát được các cảm xúc không thân thiện đó?
Trong cuốn Khí công thiền pháp (của 2 tác giả Trung Quốc: Tế Văn và Viên Thông) và nhiều cuốn sách khác như Luyện thở dưỡng sinh (Nguyễn Minh Kính), Phương pháp Dưỡng sinh (Nguyễn Văn Hưởng), … đều có hướng dẫn cách hô hấp để điều hòa cảm xúc. Vì như cuốn Khí công Thiền pháp đã nói "chỉ có hô hấp mới khống chế được hệ thần kinh". Hô hấp là quan trọng nhất hay nói cách khác, ô-xy là quan trọng nhất đối với sự sống.
Vậy người có lương tâm là gì?
Đó là người biết kiểm soát lại các cảm xúc thái quá (cả tiêu cực và tích cực) do trí não khơi gợi mỗi khi có điều kiện phù hợp để mà hành động đúng (nói văn vẻ là theo đạo lý đã được công nhận và được đúc kết qua kinh nghiệm của quá khứ của mỗi một nền văn hóa.). Nói rộng ra, khi bạn hay nói rằng nói bạn là người tốt, không nghĩ xấu về ai bao giờ… nhưng khi xảy ra việc, con ma hệ thần kinh nó xúi bản thân bản khiến bạn không kiểm soát được hành vi, và bạn trở thành người không có lương tâm. Đơn giản vậy thôi. Vậy, hãy chú ý vào hành động (lúc có vấn đề), đừng tin vào lời nói (lúc bình thường). Hơn nữa, khi nhận xét một hành động của ai đó có lương tâm hay không, đừng dựa vào trình độ của anh ta. Bạn hãy đừng quan tâm anh ta là tiến sĩ hay bộ trưởng và và cũng đừng cho rằng người có trình độ như thế thì phải biết cách cư xử đúng? Không, hoàn toàn không, hãy dựa vào phản ứng của họ khi "vào việc" sẽ đoán ra đặc tính hành động của anh ta. Và bạn có thể biết được anh ta sẽ là kẻ nhận hối lộ, đạp đầu dân đen, cư xử không đúng mực với gia đình, bạn bè v.v. thông qua những phản ứng như vậy. Vậy ta cũng dễ dàng lý giải được câu thơ gtrong truyện Kiều của cụ Nguyễn Du:"chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài" .
Tôi tạm dựa vào tiêu đề của cuốn sách "Những tấm lòng cao cả" - một cuốn tiểu thuyết trẻ em của nhà văn người Ý Edmondo De Amicis mà tiêu đề nguyên bản tiếng Ý của nó là Cuore – nghĩa là trái tim để kết thúc bài viết này. Bản dịch sang tiếng Pháp thì được đặt tiêu đề là Grand Coeurs - Những trái tim vĩ đại. Trước năm 1945 ở Việt Nam có bản dịch từ bản tiếng Pháp và đặt tên là Những tâm hồn cao thượng. Năm 1977, Giáo sư Hoàng Thiếu Sơn dịch và đặt tên là Những tấm lòng cao cả. Năm 1995 tôi có dịp được nghe giáo sư nói chuyện về cuốn sách tại Thư viện Hà Nội và còn nhớ rõ giáo sư có đề cập đến tên của cuốn sách rằng bản dịch tiếng Anh lấy tên là Heart – trái tim. Cuốn tiểu thuyết nói về cuộc sống ở gia đình, học đường, thành phố của cậu bé Enrico Bottini mà nhà khoa học Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh đã kể trong tự truyện rằng cuốn sách đã cho ông "…nhiều bài học về lòng thương người, phương cách cư xử chung thủy với bè bạn, và hiếu kính với mẹ cha... ". Trong truyện có kể lại việc Vottini ghen tỵ với Rossi – một cậu bé thông minh và học giỏi khiến cho thầy giáo phải nói với cậu ta rằng "đừng để con rắn ghen tị luồn vào trái tim, đó là một con rắn độc, nó gặm mòn khối óc và làm đồi bại trái tim." Vâng! Vẫn là trái tim và mọi điều đều xuất phát từ trái tim.

04/04/2023

Ác giá ác báo (black meaning: evil to people, receiving evil from people)
Words:
Ác: Evil, brutal, devil
Giả (Chinese rooted: people)
Báo: report, call...

In English culture:
1. Curses (like chickens) come home to roost.
2. As the call, so the echo.
3. He that mischief hatches, mischief catches.

02/11/2021

Pronouns in Vietnamese language

22/06/2020

Teaching Vietnamese at 83 Nguyen Khang street, Cau Giay at 5$/hour (8h-21h)

Want your school to be the top-listed School/college in Hanoi?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Category

Telephone

Address


83 Nguyễn Khang
Hanoi