Du lịch và hướng dẫn viên du lịch's corner

Du lịch và hướng dẫn viên du lịch's corner

Share

CHỨNG CHỈ NGHIỆP VỤ HƯỚNG DẪN DU LỊCH là một chứng chỉ QUAN TRỌNG và CẦN THIẾT để xin cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch Nội địa và Quốc tế.

Bạn không học chuyên ngành hướng dẫn viên nhưng yêu thích Du lịch, muốn khám phá những vùng đất mới lạ, trải nghiệm phong tục tập quán, văn hóa, ẩm thực ở khắp mọi miền đất nước cũng như các nước trên thế giới.
❤ Hãy đến với KHÓA HỌC NGHIỆP VỤ HƯỚNG DẪN VIÊN DU LỊCH ( HỖ TRỢ ĐỔI THẺ, CẤP THẺ HDV ) để được trang bị những kiến thức cơ bản về nghề hướng dẫn viên. Đồng thời đây cũng là một chứng chỉ QUAN TRỌNG và CẦN THIẾT để xin cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch Nội địa và Quốc tế.

25/02/2019

🍀🍀 GIỚI THIỆU VỀ HÀ NỘI BẰNG TIẾNG ANH 🍀🍀

Ha Noi is the capital of the socialist republic of Viet Nam. The center of culture, politic, economy of the country.

It’s the largest city in Việt Nam, it lies on the red River in the north center of Viet Nam.

And it has a population about over 6 million people(as 2008) Ha Noi has become the capital of Việt Nam since 1010. Its name has changed several times. The capital was first called Thang Long, then D**g Do , D**g Kinh, and finally, it has been called Ha Noi since 1831

Ha Noi is situated in a tropical monsoon zone with two main seasons; dry season and wet season. The dry season last from October to April next year. It’s cold, cloudy and occasionally rainy. The wet season last from May to September. It’s hot and heavy rain, even storms

Ha Noi is exciting and peaceful capital. Hanoi still maintains many ancient architecture. Including : The old quarters and over 600 pagodas and Temples. One of the famous places is The one Pillar Pagoda; The Quoc Tu Giam temple Literature, Hanoi Opera House; Precedent Ho Chi Minh’s Mausoleum. And now, there’re a lot of big famous buildings as My Dinh stadium; Ho Tay water park; National conference center.

Ha Noi has a lot of green trees, parks, lakes, Which are lungs of the city, keep the air clean and fresh.

However, Ha Noi has problems with traffic and pollution. Only over 6 million people but there are 4.5 million motorbike and car. Traffic jams occur. There’s a lot of smoke and dust in the air. So the air isn’t really clean. Moreover the price and service is a bit expensive, so many people don’t like living here.

Apart from these problems. Hanoi is still a beautiful place to live and to work and I like living here.

Bài viết giới thiệu về Hà Nội bằng tiếng anh
Giới thiệu về Hà Nội bằng tiếng anh
The Vietnam War helped to unfairly saddle Hanoi with a reputation as a dour outpost for Communist apparatchiks. It may not be as chaotic as Saigon, but Hanoi ranks among the world’s most attractive and interesting cities. The city’s placid air gives it a gracious, almost regal flavor, underscored by a rich history that traces back more than a thousand years — a fascinating heritage on display in well-preserved centuries-old architecture. Hanoi is Vietnam’s cultural center, and puppetry, music, and dance performances are well worth your time.

The quintessential Hanoi neighborhood and the oldest area in town, the Old Quarter is a maze of streets dating back to the 13th century. The Old Quarter’s Communal Houses were set up by guilds as small temples to honor a local god — the Bach Ma, or White Horse, who represents the city itself. Another sightseeing highlight is the Temple of Literature — a sanctuary of Confucianism and Vietnam’s seat of learning for almost a thousand years.

Hanoi is the best place to experience traditional Vietnamese arts such as opera, theater, and water puppetry, shows that feature traditional music and depict Vietnamese folklores and myths. The city also has a variety of pleasant little watering holes. For a vivid taste of local street life, Hanoi style, pull up a little plastic squat stool on a street corner or in one of the many cozy, open-air bars serving the local brew bia-hoi.

It’s hard to have a bad meal in Hanoi. Hanoi’s finest local food is served at small, one-dish restaurants, usually just open-air joints at street-side, where you might wonder why a line is snaking out the door. The ubiquitous pho — noodle soup served with slices of beef (bo) or chicken (ga), fresh bean sprouts and condiments — can be found anywhere. And don’t miss cha ca, Hanoi’s famed spicy fish fry-up.

Dozens of small, serene lakes dotted about Hanoi offer transport to tranquility amid the city bustle. In the morning, the circumference walkway encircling Hoan Kiem Lake becomes a training camp, with locals working up a sweat performing tai chi or calisthenics. Otherwise, walking is the best way to tour the winding passages of the Old Quarter. More intrepid souls bike around town to beat the chaotic traffic — most hotels have a cycle to rent.

Nguồn: Sưu tầm.

Photos from Du lịch và hướng dẫn viên du lịch's corner's post 23/02/2019

☘☘ TÀI LIỆU THUYẾT MINH VỀ VĂN MIẾU QUỐC TỬ GIÁM ☘☘

Chào mừng quý khách đã đến với khu di tích Văn Miếu -Quốc tử Giám

Trước tiên cho phép tôi xin phép được tự giới thiệu :tên tôi là……… là thuyết minh viên tại di tích Văn Miếu –Quốc Tử Giám –là trường đại học đầu tiên và cũng là biểu tượng cho văn hoá lịch sử Việt Nam. Thay mặt cho BQL di tích tôi xin gửi lời chúc sức khoẻ đến tất các bạn. Chúc các bạn có một buổi tham quan vui vẻ và bổ ích.

Hôm nay, tôi rất vinh dự được cùng các bạn đi tham quan Văn Miếu Quốc Tử Giám –một trường đại học hàng nghìn năm trước, là khu di tích văn hoá hàng đầu và là niềm tự hào của người dân thủ đô khi nhắc đến truyền thống ngàn năm văn hiến của Hà Nội.

Để cho buổi tham quan hôm nay đựơc diễn ra an toàn và vui vẻ, tôi xin lưu ý với các bạn một số điều sau: Các bạn không nên nói to và nô đùa khi tham quan bên trong, không vứt rác bừa bãi, không giẫm lên cỏ, không nên tách đoàn và đặc biệt là không nên “xoa” lên đầu các cụ rùa.

Vâng, chúng ta sẽ có 2 tiếng để tham quan di tích . Bây giờ là 9h và đúng 11h các bạn tập trung tại đây, trước cổng Văn Miếu, đối diện với quầy bán vé. Và bây giờ xin mời các bạn vào tham quan Văn Miếu.

Thưa các bạn Văn Miếu là tên viết tắt của Văn Tuyên Vương Miếu tức là Miếu thờ Văn Tuyên Vương tước hiệu của đức Khổng Tử. Tuy nhiên, hiện nay mọi người hiểu Văn Miếu là Miếu Văn, từ “Văn”mang nghĩa là văn hóa, văn minh, văn học là nét đẹp của con người.

Văn Miếu được xây dựng vào tháng 8 năm Canh Tuất (tức tháng 10 năm 1070) tức năm Thần Vũ thứ 2 đời Vua Lê Thánh Tông. Ông cho lập Văn Miếu làm nơi thờ các ông tổ Nho giáo và Nho học như Chu Công _Khổng Tử.

Nhìn tổng thể thì Văn Miếu là khu đất hình chữ nhật khá rộng với diện tích khoảng 54000m2 được bao quanh bởi một khu tường có chiều dài hơn 300m va rộng 700m, chạy từ đường Quốc Tử Giám đến đầu phố Nguyễn Thái Học. Văn Miếu xưa là đất Hữu Nghiễm, huyện Thọ Xương nay thuộc quận Đống Đa Hà Nội. Quần thể kiến trúc Văn Miếu được bố cục đăng đối từng khu, từng lớp theo trục bắc nam, mô phỏng tổng thể quy hoạch khu văn miếu thờ Khổng Tử ở quê hương ông tại Khúc Phụ, Sơn Đông, Trung Quốc. Tuy nhiên, quy mô ở đây đơn giản hơn và theo phương thức truyền thống nghệ thuật dân tộc .Toàn bộ kiến trúc văn miếu đều là kiến trúc đầu nhà Nguyễn. Khuôn viên được bao bọc bởi bốn bức tường xây bằng gạch vồ, loại gạch đặc trưng từ thời Lê có tuổi thọ trên 300 năm tuổi.

Bên ngoài có tường bao quanh bên trong được chia làm 5 khu.

Và bây giờ tôi sẽ cùng các bạn tham quan lần lựơt các lớp kiến trúc, trước tiên là Hồ Văn.

Hồ Văn xưa kia gọi là Thái Hồ, có diện tích là 12297m2, giữa hồ có gò Kim Châu, trên gò dựng Phán Thuỷ đường là nơi diễn ra các buổi bình văn thơ của nho sĩ kinh thành xưa. Nhà Phán Thuỷ nay không còn nhưng trên gò nay còn một tấm bia dựng trong dịp tu sửa Văn Miếu và nạo vét Hồ Văn.

Các nhà nghiên cứu ngày nay cho rằng bên cạnh giá trị về cảnh đẹp du ngoạn còn có giá trị về triết học tâm linh theo lối kiến trúc “thượng gia hạ trì”.

Đối diện với Hồ Văn là cổng Tam quan. Khu này được bắt đầu bằng Tứ Trụ và hai bia Hạ Mã ở hai bên. Trước kia Tứ Trụ soi bóng xuống mặt Hồ Văn nhưng nay đã bị ngăn cách bởi phố Quốc Tử Giám.

Tứ Trụ được xây bằng gạch hai trụ giữa xây cao hơn có hình hai con nghê chầu vào. Theo quan niệm tâm linh xưa, con nghê là con vật linh không hại ai, nó có khả năng nhận ra kẻ ác hay người thiện. Hai trụ ngoài đắp nổi 4 con chim phượng xoè cánh, đuôi chắp vào nhau. Phượng là con vật linh biểu hiện cho tầng trên với ý nghĩa: đầu đội chân lí, mắt là mặt trời, lưng cõng bầu trời, long là cây cỏ, cánh là gió, đuôi là tinh tú, chân là đất. Vì thế nó tượng trưng cho cả vũ trụ mang tư cách vận chuyển bầu trời.

Hai tấm bia Hạ Mã được đặt trong hai nhà bia nhỏ xây gạch ,xưa kia dù công hầu hay khanh tướng ,dù võng lọng hay ngựa xe hễ đi qua Văn Miếu đều phải xuống đi bộ ít nhất từ tấm bia Hạ Mã nay sang tấm bia Hạ Mã kia lại mới lên ngựa lên xe đi tiếp.

Trước mắt chúng ta là lối vào chính khu Văn Miếu, ở phía nam chính là văn Miếu Môn. Văn Miếu Môn tức là cổng quan ngoài cùng, cổng Tam Quan lớn xây 2 tầng 3 cửa. Cửa giữa to, tầng trên có đề chữ”Văn Miếu Môn”. Kiến trúc của Văn Miếu Môn khá độc đáo và đẹp mắt. Đây là kiểu kiến trúc hai tầng tám mái . Nhìn bề ngoài, Tam Quan là một kiểu kiến trúc riêng biệt cửa chính giữa xây hai tầng. Mặt bằng hình vuông, tầng dười to, tầng trên nhỏ chồng lên tầng dưới, xung quanh thừa ra một hang hiên nhỏ bốn mặt có lan can. Phía bên trong tầng dưới chỉ mở một của cuốn. Đây là hai cánh của bằng gỗ lim mở vào trong, cửa hình bán nguyệt và chạm nổi hình đôi rồng chầu mạn nguyệt. Hai cửa nhỏ hai bên là bậc lên tầng hai quan trọng. Tầng 2 chính là tam quan mở 3 cửa cuốn không có cánh cửa. Tầng trên là tám mái, bốn mái hiên và bốn mái nóc cong lên ở bốn góc. Bờ nóc cũng có đắp nổi “lưỡng long chầu nguyệt”, thể hiện sự hài hòa âm dương. Ở đây có các cánh cửa ở các bậc cổng, hình ảnh này xuất hiện khá nhiều. Lưỡng long chầu mạn nguỵêt nhằm biểu dương cho Nho Giáo.

Trước kia, trên cổng tam quan có dựng một tấm bia khắc hai bài thơ tứ tuyệt của vua Khải Định khi đi bắc tuần ghé thăm Văn Miếu năm 1891. Bia đó nay không còn chỉ còn hai bệ bia bằng đá, hai mặt bệ là hình hổ phù rất đẹp. Hổ Phù là một quỷ vương kẻ thù của mặt trăng và mặt trời, hay tìm nuốt mặt trăng và mặt trời tạo ra hiện tượng nguyệt thực và nhật thực: nguyệt thực toàn phần được người Việt Nam xem như là đói và chiến tranh, Nguyệt thực một phần sẽ no đủ cho nên người ta hay chạm Hổ Phù về mặt trăng sa, sau nay thay bằng chữ nho hay hoa cúc để cầu sự no đủ.

Phía trước cổng tam quan là đôi rồng đá cách điệu thời Lê, bên trong là đôi rồng mang phong cách đời Nguyễn. Hai mặt tam quan đều được đắp nổi hai câu đối chữ Hán. Bên trái trước cổng tam quan đắp nổi cảnh “long ngư hội tụ” cá-rồng ẩn hiện trong mây ví như cảnh thanh vân đắc lộ của các nho sinh thành đạt, bên phải là cảnh “mảnh hổ hạ sơn” núi rừng mây nước nổi bật lên dáng dấp của một con hổ hung dũng xuống núi ví như các bậc thức giả khí thế bước vào đời.

Tiếp theo là “tả môn” và “hữu môn” ở hai bên nhỏ hơn và thấp hơn cũng xây bốn mái hiên và bốn mái nóc nhìn tựa như kiến trúc hai tầng. Cổng tam quan chỉ được mở khi các bậc vua quan tới thăm văn miếu và tế lễ Khổng Tử. Còn học trò và thứ dân thì phải đi bằng hai cửa ngách.Vâng, bây giờ chúng ta sẽ thử một lần được làm vua, tiếp tục đi qua cổng giữa để vào thăm Văn Miếu.

Theo con đường lát gạch này dẫn tới khu thứ hai được bắt đầu bằng cửa “Đại Trung Môn”, 2 bên là hai cổng nhỏ có tên là ”thành đức “và ‘đạt tài” mang ý nghĩa nho giáo đào tạo con người vừa có đức vừa có tài. Cổng Đại Trung gồm 3 gian, xây trên nền gạch cao, mái lợp ngói mũi hài, có hai hàng cột trước và sau, ở giữa là: ”hàng cột chống nóc” . Bên trên cổng chính là hình hai con cá chép chầu bình móc ở giữa. Sở dĩ có hình ảnh cá chép bởi theo truyền thuyết Trung Quốc: cá vượt vũ môn. Hằng năm, trời tổ chức cuộc thi kén rồng ở của Vũ-con cá nào mà nhảy qua được một lúc ba đợt khác nhau thì lập tức có tiếng sấm nổ, cá biến thành Rồng. Và chỉ có cá chép là làm được điều đó. Ngày nay các bạn nhìn cá trê đầu nó bẹp vì người ta cho rằng trong cuộc thi nó đã không vượt qua được và đầu nó va vào đá. Con cá chày mắt đỏ vì nó không vượt qua nên khóc nhiều quá… Do vậy, của Vũ được dung để chỉ chốn trường thi: cá vượt vũ môn chỉ việc thi cử ,muốn đỗ đạt thi phải tích góp kiến thức, học tập chăm chỉ.

Qua cửa Đại Trung Môn,các bạn tiếp tục đến với khu vực thứ ba của Văn Miếu-Quốc Tử Giám-Khuê Văn Các.

Khuê Văn Các hay còn gọi là Gác Khuê Văn. Là một lầu vuông tám mái được xây dựng vào năm 1805 đời vua gia long triều Nguyễn. Gác dựng trên một nền vuông cao, lát gạch Bát Tràng, kiểu dáng kiến trúc độc đáo. Tầng dưới chỉ là bốn trụ gạch,bốn bề trống không. Tầng trên là kiến trúc gỗ từ mái, lớp và phần trang trí góc mái hoặc trên bờ nóc là bằng chất liệu đất nung hoặc cát vôi. Bốn cạnh sàn gỗ có diềm trạm trổ tinh vi, bốn góc sàn làm lan can con trên cùng bằng gỗ, bốn mặt tường bịt ván gỗ, mỗi mặt đều làm một cửa tròn có những thanh gỗ chống toả ra 4 phía.

Các cửa sổ tròn trong khung gỗ vuông nói lên quan niệm trời tròn-đất vuông âm dương hoà hợp của người xưa và những thanh gỗ chống tượng trưng cho sức khoẻ.

Khuê Văn theo cách lí giải về thiên thể, Khuê là một ngôi sao trong chòm 28 sao, là đầu Bạch Hổ phương tây có 16 ngôi sắp xếp khúc khửu giống hình chữ văn. Chính vì vậy sao khuê được coi là sao chủ về văn học. Khuê Văn Các là biểu tượng cho thủ đô Hà Nội, biểu tượng của trí thức, biểu tượng cho Thủ Đô ngàn năm văn hiến.

Cạnh Khuê Văn Các là giếng Thiên Quang đầy nước trong xanh in hình Khuê Văn Các. Gác Khuê Văn xứng đáng với lời bình là một viên ngọc trong khu di tích Văn miếu-Quốc Tử Giám. Hai bên Khuê Văn Các là hai cửa Bí Văn (văn đẹp đẽ, trau truốt, sang sủa) và súc văn (văn hàm ý, súc tích có sức truyền cảm thuyết phục con người).

Sau đây xin mời các bạn đến với giếng Thiên Quang hay còn gọi là Văn Trì tức Ao Vua. Thiên Quang có nghĩa là giếng trời trong sáng. Đặt tên này cho giếng ý muốn nói con người thu nhận được tinh tuý của vũ trụ, soi sáng trí thức, nâng cao phẩm chất, tô đẹp nền nhân văn. Giếng có hình dáng rất đặc biệt:hình vuông, quanh bờ có hành lang bao quanh. Kiến trúc này được xây dựng theo quan niệm của người xưa: giếng hình vuông tượng trưng cho đất, cửa tròn gác văn khuê tượng trưng cho trời. Như vậy, tinh hoa của cả đất và trời được tập trung ở trung tâm văn hoá giáo dục lớn nhất cả nước tại kinh đô Thăng Long.

Mời các bạn nhìn sang hai bên giếng Thiên Quang, đó chính là khu nhà bia, một di tích có giá trị bậc nhất tại Văn Miếu –Quốc Tử Giám. Khu nhà bia gồm 82 tấm bia chiến sĩ được chia đều sang 2 bên giếng Thiên Quang. Trên bia có khắc rõ tên và quê quán của 1307 vị tiến sĩ.

Ý tưởng dựng bia được khởi sự từ đời Vua Lê Thánh Tông (1484) và các đời vua kế tiếp cho khắc tên các vị danh nhân lên bia nhằm biểu dương các vị tiến sĩ đỗ đạt và khích lệ tinh thần học hành thi cử. Ở mỗi bên khu nhà bia đều có một tòa đình vuông, với 4 mặt trống không, bên trong thờ bia nên còn được gọi là Bi Đình. Xưa kia hằng năm xuân thu nhị kỳ trong Văn Miếu làm lễ tế thì ở đây, cung sắp lễ vật cúng bái các vị tiên nho mà vẫn được khắc tên trên bia đá đến bây giờ. 82 tấm bia tiến sĩ là 82 phong cách điêu khắc, tuy kích thước khác nhau nhưng bia nào cũng được dựng trên lưng một con rùa, đầu ngẩng cao, 4 chân xoài ra trong tư thế đang bò lên.

Như các bạn đang thấy, bia gồm 3 phần là trán bia, than bia và đế bia.

Trán bia có hình khum vòm với các họa tiết lưỡng long chầu mạn nguyệt.

Thân bia: đây là phần quan trọng nhất của bia, phần trên cùng sát với trán bia khắc niên đại tổ chức khoa thi. Bên dưới là bài kí khắc theo chiều dọc của bia, đọc từ trên xuống dưới từ phải sang trái, với nội dung ca ngợi triều vua đang trị vì. Tiếp theo là năm tổ chức khoa thi, số lượng thí sinh thi, số lượng người đỗ, tên tuổi quê quán của người viết văn bia và người khắc bia. Phần quan trọng nhất là tên tuổi quê quán của các vị tiến sĩ được sắp xếp từ cao xuống thấp là đệ nhất tiến sĩ, đệ nhị tiến sĩ, đệ tam tiến sĩ.

Đế bia là hình một con rùa.

Có lẽ các bạn đang thắc mắc tại sao lại là rùa phải không ạ?

Vâng, theo quan niệm của người Việt thì rùa từ xa xưa đã gắn bó với người dân Việt Nam: Đó là thần Kim Quy giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa, rùa là sứ giả của Thủy Vương giúp Lê Lợi đại phá quân Minh… hơn thế rùa là một trong tứ linh, bụng phẳng tượng trưng cho đất mang yếu tố âm, mai khum tượng trưng cho trời mang yếu tố dương tượng trưng cho trời. Vì thế rùa hội tụ cả âm và dương, ngoài ra rùa còn có ý nghĩa là trường tồn và vĩnh cửu. Bia đá đặt trên lưng rùa nhằm khẳng định sự trường tồn của trí tuệ của tinh hoa dân tộc Việt.

82 tấm bia có ghi 1307 nhân vật trong đó có 17 trạng nguyên, 19 bảng nhãn, 47 thám hoa, 284 hoàng giáp và 938 tiến sĩ.

Người được khắc tên trên bia đầu tiên là ông Nguyễn Trực(1442)người cuối cùng được khắc tên trên bia là Phạm Huy Ôn(1779). Người đỗ tiến sĩ cao tuổi nhất là ông Bàn Tử Quang và đỗ khi tuổi mới 13, trẻ nhất là Nguyễn Hiền. Qua văn bia chúng ta vẫn thấy có những vị danh nhân vẫn được lưu truyền như nhà sử học Ngô Sĩ Liên đỗ tiến sĩ năm 1442, nhà ngoại giao lỗi lạc Ngô Thì Nhậm……nhìn vườn bia các bạn có thể thấy nhiều tấm bia với kiến trúc khác nhau bởi chúng được làm trong thời gian khác nhau.

Các bia khắc vào thế kỷ 15 có 14 chiếc, những tấm khắc vào thế kỷ 17 có 25 chiếc, những tấm bia loại ba được xây dựng vào thế kỷ 18. Ngoài ra còn có một số bia không thuộc loại nào. Các bạn có thấy những hàng chữ bị xóa trên bia không ạ? Đó là do khi triều Nguyễn lên cầm quyền do có những mâu thuẫn với triều đình trước đã cho xóa đi. Nếu ta tính từ khoa thi Nhâm Tuất (1442) tới khoa thi Đinh mùi 1789 thì phải có 124 kỳ thi và phải có 117 bia tiến sĩ. Nhưng sau bao chiến tranh thì hiện nay chỉ còn 82 bia.

Vâng, tôi và các bạn vừa được tham quan khu nhà bia một niềm tự hào của nền văn hoá Việt. Và sau đây xin mời các bạn tiếp tục đến với khu vực thứ tư của văn miếu đó là Đại Trung Môn và Nhà Đại Bái.

Đại Trung Môn là khu vực chính thờ Khổng Tử và các bậc hiền triết bao gồm Đại Thành, nhà Đại Bái và hai dãy Đông Vu, Tây Vu.

Cửa Đại Thành 3 giam 2 cột hiên trước và sau giống như cửa Đại Trung một hang giữa đỡ xà nóc, ba gian đều được lắp của gỗ sơn đỏ trên có hoạ tiết rồng, mây. Gian giữa đề ba chữ: Đại Thành Môn. Cửa Đại Thành là cửa của sự thành đạt lớn lao mở đầu cho khu vực của những kiến trúc chính mang một cái tên đấy ý nghĩa về học vấn, đạo đức. Hai bên cổng đại thành có 2 cửa phụ: kim thanh ở phía đông và ngọc chấn ở phía tây. Đây là 2 lối vào sân đại bái và điện đại thành, bởi ở đây trước kia chỉ tế Khổng Tử thì cổng đại thành mới mở. Chúng ta đang đứng trên sân đại bái, trước mặt là tòa đại bái và điện đại thành, 2 bên là dãy nhà đông vu và tây vu. Hai dãy nhà này đều gồm 9 gian. Trước đây 2 bên đều xây 5 bệ, trên có 5 khám bài thờ Thất Thập nhị hiền –đều là học trò của Khổng Tử. Kiến trúc cũ đã bị phá vỡ vào năm 1946, kiến trúc hiện nay đã được xây dựng lại năm 1954. Hiện nay ở đây trưng bày phòng tranh và bán đồ lưu niệm. Tòa Bái Đường là nơi tổ chức các nghi thức tế lễ, do vậy ở chính giữa đặt một hương án trên bày đồ thờ. Hai bên hương án có 2 con hạc đứng trên lưng rùa. Hạc là biểu hiện cho sự tinh túy, thanh cao. Hạc đứng trên lưng rùa biểu hiện cho sự hài hoà giữa trời và đất, giữa hai cực âm dương. Hình ảnh hạc đứng trên lưng rùa còn thể hiện long thủy chung, biết tương trợ giúp đỡ nhau của những người bạn tốt khi gặp khó khăn. Phía trên hương án có bức hoành phi: ”Vạn Thế Sư Biểu”-người thầy tiêu biểu của muôn đời. Bốn chữ này do vua Khang Hy tặng cho Khổng Tử. Ở gian đầu hồi phía đông còn bức hoành phi “cổ kim nhật nguyệt” và chuông bích ung đều cửa tư nghiệp Quốc Tử Giám quận công Nguyễn Nghiễm là cha của Nguyễn Du làm 1768. Bây giờ chúng ta tiếp tục đến với Điện Đại Thành.

Điện Đại Thành là nơi thờ Khổng Tử, Tứ Phối và Thập Triết.

Gian chính là nơi thờ Khổng Tử. Khổng Tử (551-479TCN) là một nhà tư tưởng, nhà triết học xã hội nổi tiếng người Trung Quốc. Ông sinh tại ấp Trâu, làng Xương Bình, nước Lỗ(nay là huyện Khúc Phụ, Sơn Đông, Trung Quốc. Khổng Tử là người sáng lập ra đạo nho ở Trung Quốc. Chủ yếu dạy về đạo làm người. Trong khi Đức Khổng Tử được người đời tôn là Vạn Thế Sư Biểu thì Tứ Phối là các học trò của ông lại được phối hợp thờ tại các Văn Miếu ở Trung Quốc và Việt Nam. Họ là Nhan Hồi ,Tăng Sâm, Tử Tư và Mạnh Tử.

Theo cánh tay tôi, các bạn đang nhìn thấy tượng thờ Nhan Tử – là học trò giỏi nhất của Đức Khổng Tử, đứng đầu trong khoa đức hạnh của Khổng. Được người đời xưng tụng là Phục Thánh Nhan Tử.

Cạnh là Thuật Thánh Tử Tư (cháu nội của Khổng Tử). Tử tư không theo học trực tiếp với ông nội mà theo học Tăng Tử-một học trò của Khổng Tử. Tử Tư tạo nên một phái lớn trong Nho Giáo là phái Tử Tư.

Đối diện là tượng thờ Tông Thánh Tăng Tử và Á Thánh Mạnh Tử.

Là học trò duy nhất hiểu được đạo Nhất quán của Khổng Tử và viết nên sách Luận Ngữ. Tăng Tử cũng được đời sau tôn lên làm gương hiếu thứ 3 trong nhị thập tứ hiếu.

Mạnh Tử là học trò của Tử Tư. Ông là người soạn sách mạnh tử và lập ra thuyết tánh thiện(nhân chi sơ tánh bổn thiện). Người ta tôn Mạnh Từ là bậc thánh đứng hạng thứ nhì dưới Khổng Tử.

Hai gian đầu hồi là 10 bia đá bài vị Thập Triết, là những người tiêu biểu cho 4 khoa: Đức hạnh, ngôn ngữ, chính trị, văn học.

Sau đây xin mời các bạn đến tham quan khu nhà Thái Học. Nhà Thái Học với diện tích 1530m2 gồm các công trình kiến trúc chính là tiền đường, hậu đường, tả vu, hữu vu, nhà chuông và nhà trống.

Nhà tiền đường là nơi trưng bày truyền thống hiếu học, là nơi tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học, văn hóa, nghệ thuật dân tộc.

Hậu đường là nơi thờ Chu Văn An-một ngườithầy đức cao vọng trọng. Ông đỗ thái học sinh đời Trần nhưng không lên làm quan mà về quê dạy học, ông đã đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước. Dưới triều Trần Minh Tông ông được mời ra dạy học cho thái tử Trần Vượng. Đến triều vua Trần Dụ Tông, gian thần lộng hành, bị từ chối Thất Trảm sớ ông đã từ quan về ở ẩn tại Phượng Hoàng (Chí Linh, Hải Dương). Năm 78 tuổi, ông được truy tặng tước Văn Trinh Công ban tên thụy là Khang Tiết và cho thờ ở Văn Miếu.

Theo tay tôi là 2 mô hình Văn Miếu-Quốc Tử Giám xưa và nay.

Văn Miếu ngày xưa có diện tích rộng, bao gồm toàn bộ khu vực của bệnh viện Sanh pôn và Bảo Tàng Mỹ Thuật hiện nay và cả khu hồ văn rộng lớn.

Mời các bạn đến xem mô hình Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Cùng với sự phát triển của đất nước thì khu vực này đã bị thu hẹp. Hiện nay diện tích của Văn Miếu-Quốc Tử Giám chỉ còn 54331m2. Còn kiến trúc được giữ lại trên nền đất nhà Thái Học gồm 2 tầng tầng 1 thờ Chu Văn An. Tầng 2 là nơi thờ 3 vị vua có công trong việc tu sửa và xây dựng Văn Miếu-Quốc Tử Giám là Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và Lê Thánh Tông. Quốc Tử Giám là trường đại học đầu tiên của nước ta. Trước đây chỉ có các vị Thái tử được học sau đó mở rộng quy mô hơn .Thời gian học tập là 3 năm, các thí sinh phải trải qua 3 cuộc thi :hương, hội, đình.

Xin mời các bạn đến với tầng 2 của nhà Thái Học.

Ở gian chính giữa thờ vua Lý Thánh Tông sinh năm 1023 ở ngôi được 17 năm, thọ 50 tuổi. Ông là người đổi tên nước ta từ Đại Cồ Việt sang Đại việt.

Bên tay phải các bạn là bàn thờ Lý Nhân Tông. Ngài là người học trò đầu tiên của Quốc Tử Giám(khi ông chỉ mới lên 5). Lý Nhân Tông sinh năm 1066 mất năm 63 tuổi. Ông ở ngôi được rất lâu(56 năm). Năm 1076 ông đã cho phép triều đình lập ra Quốc Tử Giám và cho chọn những hiền tài vào đào tạo, phục vụ cho đất nước.

Bên tay trái các bạn là tượng thờ vua Lê Thánh Tông. Ông là người kế thừa và nâng cao tầm vóc của Quốc Tử Giám. Ông lên ngôi được 38 năm, được người đời đánh giá là minh mẫn, sáng suốt, thâm tuý về văn, giỏi giang về võ …

Ba vị vua là tinh hoa của thời kỳ phong kiến Việt Nam khi biết lấy sự học làm cái gốc cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước.

Vâng thưa các bạn,vậy là tầng 2 của nhà Thái Học đã kết thúc buổi tham quan di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám của chúng ta ngày hôm nay.

Tôi và các bạn đã cùng nhau đến với những giá trị nhân văn ý nghĩa, độc đáo, truyền thống hiếu học của dân tộc Việt ta. Đặc biệt là 82 tấm bia tiến sĩ, niềm tự hào của tinh hoa trí tuệ Việt Nam.

Qua buổi tham quan này các bạn đã có được những kiến thức về nền giáo dục Việt Nam đồng thời nâng cao niềm tự hào của nòi giống tiên rồng.

Vâng,và trước khi kết thúc buổi tham quan xin hỏi có bạn nào có thắc mắc gì không, hướng dẫn viên sẽ giải thích trong tầm hiểu biết.

Nếu không có bạn nào đặt câu hỏi, tôi xin kết thúc buổi tham quan tại đây. Chúc các bạn có sức khỏe dồi dào và những kiến thức bổ ích cho công việc học tập của mình.

Xin chào và hẹn gặp lại !

Nguồn: Sưu tầm.

21/02/2019

💕💕 THUYẾT MINH DU LỊCH NHÀ THỜ ĐỨC BÀ BẰNG TIẾNG ANH (SAIGON NOTRE-DAME CATHEDRAL) 💕💕

Situated right in the heart of Hochiminh City is the most famous landmark as well as core Cathedral of the city, Saigon Notre-Dame Cathedral (translated as “Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn).

Notre-Dame Cathedral, or Notre-Dame Basilica to be exact, is a famous age-long cathedral in Southern Vietnam. It is a magnificient building located at the paris Square in Hochiminh City downtown, attracting not only Catholics but also most tourists for its neo-Romanesque style architecture and a sacred atmosphere.

Historical story
Established by French colonists, the cathedral was constructed between 1863 and 1880. It has two bell towers, reaching a height of over 58 meters (190 feet). Following the French conquest of Cochinchina and Saigon, the Roman Catholic Church established a community and religious services for French colonialists.

The first church was built on Rue 5 (today’s Ngo Duc Ke Street). This had been a Vietnamese pagoda, which had been abandoned during the war. Bishop Lefevre decided to make this pagoda a church. In 1959, Bishop Joseph Pham Van Thien, whose jurisdiction included Saigon parish, attended Holy Mother Congress held in Vatican and ordered a Peaceful Notre Dame statue made with granite in Rome. When the statue arrived in Saigon, on February 16th, 1959, Bishop Pham Van Thien held a ceremony to install the statue on the empty base and presented the title of “Regina Pacis”. It was Bishop Pham Van Thien who wrote the prayers “Notre-Dame bless the peace to Vietnam”. On the following day, Cardinal Aganianian came from Rome to chair the closing ceremony of the Holy Mother Congress and solemnly chaired the ceremony for the statue, thus the cathedral was then-on called Notre-Dame Cathedral.

Honored Basilica Status
The cathedral boasts its honored status as a Basilica consecrated tens of years ago. In 1960, the Vatican founded a Roman Catholic dioceses in Vietnam and assigned archbishops to Hanoi, Huế and Saigon. Notre-Dame cathedral was titled Saigon Chief Cathedral. Yet, in 1962, Vatican anointed the Saigon Chief Cathedral, conferred it basilique in honor of the tri-cenetary of the Bishopric of Saigon. Since then, this cathedral was called Saigon Notre-Dame Cathedral Basilica, which has enhanced its value and absorbed hundreds of thousands of catholics as well as international tourists to pay a visit.

The special architectural style
Apart from the religious meaning that attracts tourists, the even more special captivating point of Notre-Dame Cathedral is its special neo-Romanesque style of architecture. During its construction, all its red bricks were imported from Marseilles and colored glass windows made in France’s Chartres Province, France. Tiles have been carved with the words Guichard Carvin, Marseille St André France (perhaps stating the locality where the tiles were produced). Some tiles were carved with the words “Wang-Tai Saigon.” Many tiles have since been made in Saigon to replace the broken tiles caused by war. There are 56 glass squares supplied by the Lorin firm of Chartres province in France. The cathedral foundation was designed to bear 10 times the weight of the cathedral. In front of the cathedral is a statue of the Virgin Mary. On a whole, the neo-Romanesque architecture and two 58m-high square towers tipped with iron spires dominate the city’s sky line, creating a beautiful religious site!

Weekly Service Schedule
Full services in both Vietnamese and English are held every Sunday morning and are well attended by Vietnamese and foreigners alike. Other services are held throughout the week. Hence, visitors who wish to attend mass should go on Sunday at 9.30a.m.

Set amidst the active and continuously moving Saigon, the Notre Dame Cathedral is considered a stop for seekers of old beauties and calmness as well as one of the most popular tourist attractions in Ho Chi Minh city. For those who wish to ease their mind from stresses of daily life and immerse in tranquil atmosphere of religious buildings, touring this diversified city under religious theme will give you the perfect chance to explore the religions, the architecture and the cultural meanings lying behind well-known religious places in Ho Chi Minh city such as Saigon Notre Dame Cathedral (Catholic), Thien Hau Pagoda and Emperor Pagoda (Buddhism), Mariamman Hindu temple (Hindu)…

Nguồn: Sưu tầm.

20/02/2019

⛪⛪ TÀI LIỆU THUYẾT MINH DU LỊCH CHÙA BÁI ĐÍNH-NGÔI CHÙA TÂM LINH LỚN NHẤT ĐÔNG NAM Á ⛪⛪

Hôm nay, chúng tôi vui mừng được đón đoàn đến tham quan và chiêm bái khu văn hóa tâm linh núi chùa Bái Đính. Nơi đây, hơn 1000 năm về trước, là nơi đóng đô tạm thời của nhà Đinh trong lúc tiến hành xây dựng kinh đô Hoa Lư và sau đó đóng vai trò là một trong “tứ trấn” của kinh đô Hoa Lư. Cũng nơi đây, dưới thời Lý, Quốc sư Nguyễn Minh Không dựng chùa tu hành, làm thuốc chữa bệnh cứu người, đặc biệt là việc chữa bệnh hóa hổ cho vua Lý Thần Tông.

Ta có thể khẳng định nơi đây từ xưa tới nay là một trong những trung tâm Phật giáo (thờ Phật), đạo giáo (thờ thần Cao Sơn), tín ngưỡng thờ Mẫu (mẫu Liễu Hạnh). Để ngày nay, các đền, phủ được phục dựng và ngôi chùa lớn nhất Việt Nam được xây dựng tại đây, với các kỷ lục đã được Trung tâm sách Kỷ lục Việt Nam cấp bằng xác nhận, đó là:

Chuông đồng lớn nhất Việt Nam, nặng 36 tấn, đường kính 3,5m, cao 5,5m;
Pho tượng Đức phật Thích Ca bằng đồng cao và nặng nhất Việt Nam. Tượngcao 9,5m, nặng 100 tấn;
Bộ tượng Tam thế bằng đồng dát vàng lớn nhất Việt Nam. Mỗi tượng nặng 50 tấn, cao 7,5m;
Tượng Quan Âm thiên thủ thiên nhãn bằng đồng dát vàng lớn nhất Việt Nam. Tượng nặng 90 tấn, cao 11,45m (tính cả bệ);
Tượng phật Di Lặc bằng đồng lớn nhất Việt Nam. Tượng nặng 80 tấn, cao 10m;
Tượng ông Thiện và ông Ác bằng đồng cao và nặng nhất Việt Nam. Mỗi tượng nặng 20 tấn, cao 5,2m;
Bộ tượng A Na – Ca Diếp bằng đồng lớn nhất Việt Nam. Mỗi tượng nặng 30 tấn, cao 9m;
Bộ tượng Bát bộ Kim cang bằng đồng nặng nhất Việt Nam. Mỗi tượng nặng 4 tấn, cao 3,95m;1 9. Cặp hạc bằng đồng lớn nhất Việt Nam;

Chùa có Hành Lang La Hán lớn nhất Việt Nam. La Hán đường gồm hai dãy, mỗi dãy 117 gian, dài 526m;
Chùa có Giếng Ngọc lớn nhất Việt Nam, đường kính 30m, chiều sâu10m;12. Chùa có nhiều cây Bồ Đề nhất Việt Nam. Riêng ngày Đại lễ Phật đản Liên hiệp quốc tại Việt Nam (17/5/2008), trồng 100 cây bồ đề, triết từ gốc bồ đề Ấn Độ.13. Đại lễ cung nghênh sá lợi phật lớn nhất Việt Nam. Hơn 15.000 người tham gia và trên 1.000 xe tham gia lễ rước;Ngoài ra, còn có nhiều hạng mục công trình khác cũng rất hoành tráng, công phu, ấn tượng như: La Hán đường với 500 vị La Hán được tạc bằng đá xanh nguyên khối, tháp bồ đề 9 tầng, hồ phóng sinh rộng gần 5000m2…

GIỚI THIỆU VÀI NÉT VỀ NÚI BÁI ĐÍNH

Về vị trí địa lý
Núi Bái Đính nằm trên địa bàn xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, cách Cố đô Hoa Lư 3km, cách thành phố Ninh Bình 12km(theo đường chim bay) về phía Tây. Núi có độ cao 187m so với mặt nước biển, diện tích khoảng gần 600 ha. Phong thủy có núi, sông, hồ nước, núi có hình tay ngai.

Về không gian tự nhiên
Núi Bái Đính là điểm khởi đầu ở phía Tây Bắc của sơn hệ đá vôi Hoa Lư, nằm trọn trong tứ giác nước được giới hạn bởi 4 con sông: sông Hoàng Long, sông Đáy, sông Vân, sông Bến Đang. Sơn hệ đá vôi Hoa Lư có diện tích hàng nghìn ha, có những di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh nổi tiếng như Cố đô Hoa Lư, khu du lịch Tràng An, khu du lịch Tam Cốc – Bích Động… Các ngọn núi trong sơn hệ có độ cao trung bình từ 70-170m. Với độ cao 187m, có thể nói, núi Bái Đính là ngọn núi cao nhất vùng, là núi chủ/ núi chúa của sơn hệ đá vôi Hoa Lư.

Nếu đặt sơn hệ đá vôi Hoa Lư trong không gian sông núi Việt Nam, thìnơi đây là sự kéo dài và phân tán của khối núi đồ sộ phía Tây Bắc và cũng là phầnchân của dãy Hymalaya, nơi khởi nguồn của đạo Phật4. Nếu lấy trục Việt Trì – Hà Nội là trục trung tâm của tam giác châu thổ sông Hồng, thì phía Đông Bắc có cánh cung đá vôi Đông Bắc, nổi bật là non thiêng Yên Tử, nơi các vua Trần đặt nền móng phái Mật tông, là trấn ải phía biên giới đông bắc, còn phía Tây Nam, như để cho cân xứng, tạo hóa đã tạo ra sơn hệ đá vôi Hoa Lư, nổi bật là núi thiêng Bái Đính, nơi Quốc sư Nguyễn Minh Không (thời Lý) đã chọn để tu hành và truyền đạo, nơi đây cũng được coi là trấn ải cho kinh đôThăng Long phía tây nam.

Về tên gọi
Núi Bái Đính, theo cách giải thích dân gian có nghĩa là: núi có lễ bái trên đỉnh cao.

PHẦN I: KHU CHÙA BÁI ĐÍNH MỚI
Tam quan
Tam quan là 3 cửa, theo đạo Phật, đó là Không quan, Trung quan, Giả quan;

Tam Quan- cổng dẫn vào chùa Bái Đính mới

Tam quan cũng có nghĩa là 3 cửa: cửa khổ, cửa vô thường, cửa vô ngã; Khi quý khách bước qua ngưỡng cửa tam quan cũng có nghĩa là quý khách đã bước vào cõi thiêng, vào một thế giới khác tục, một thế giới có nhiều tính thánh thiện, để tìm lẽ cân bằng của cuộc sống. Những tín đồ đến đây như muốn đem hoà cá thể vào mênh mông, đem hữu hạn hoà vào vô hạn để tìm thấy chính mình

Tam quan được xây dựng hoàn toàn bằng gỗ, để xây dựng tam quan, người ta đã sử dụng khoảng 550 tấn gỗ tròn. Tam quan có lối kiến trúc kiểu chồng giường, cao 16,5m, rộng 13m, dài 32m.

Phía trước tam quan, hai bên tả hữu có hai con sư tử bằng đá, là biểu hiện sức mạnh của trí tuệ. Trong trường hợp đặt trước Tam quan nó còn mang ý nghĩa kiểm soát tâm hồn kẻ hành hương.

Vào Tam quan, theo hướng nhìn của khách từ ngoài vào trong, bên phải có đặt tượng thần Khuyến thiện, tay cầm viên ngọc, biểu tượng cho đạo pháp; bên trái là tượng thần Trừng ác, tay cầm kiếm. Cả hai vị thần đều ngồi trên con sư tử, mang ý nghĩa: lấy nền tảng của trí tuệ để hành đạo, hướng con người tới chân – thiện – mỹ.

Bên trên tam quan có hình tượng bánh xe luân hồi, được chạm thông phong, biểu tượng sự chuyển vần không ngừng của phật pháp, của trời đất. Ở giữa có chữ Vạn, tượng trưng của ngọn lửa tam muội (lửa thiêng). Chữ Vạn còn tượng trưng cho trí tuệ và lòng từ bi, quảng đại của đức Phật. Chữ Vạn mở rộng ra hai bên biểu

thị sự vận động vô hạn của Phật lực, kéo dài tới 4 phương, mở rộng vô cùng tận. 3 Từ Tam quan, chúng ta đi theo hành lang phía tay phải.Tại sao chúng ta lại vào phía bên phải mà không phải bên trái trước?

Theo quan niệm của đạo Phật, vào chùa chúng ta vào từ bên phải của khách(tức bên trái của chùa) có nghĩa là đi theo chiều quay của chữ Vạn, cũng là đi từ dương sang âm để làm tịnh tiến thiện căn.

Hành lang (La Hán Đường)
Hành lang được thiết kế hoàn toàn bằng gỗ, các vì kèo mái được kết cấu kiểu giá chiêng chồng giường con nhị. Dọc hai hành lang tả, hữu đặt 500 pho tương La Hán, chất liệu bằng đá, do các nghệ nhân làng nghề đá Ninh Vân( Hoa Lư) chế tác. Vì vậy hành lang còn gọi là La Hán Đường. La Hán Đường gồm hai dãy, mỗi dãy 117 gian, dài 526m. Người ta đã sử dụng khoảng 3500m.

La Hán là các đệ tử của Phật Thích Ca, họ chưa thành Phật nên gọi là La Hán. Vì vậy chúng ta thấy, La Hán đường chỉ được sắp đặt từ tam quan đến gần điện Pháp chủ, đây cũng là con đường tượng trưng cho con đường đến với cõi Phật. Mỗi vị La Hán đều có tên và ý nghĩa riêng.

Tại sao các vị La Hán lại được thờ ở hành lang?

Vì ở vị trí này, họ thường xuyên gần gữi, giáo dưỡng, dìu dắt chúng sinh. Trên con đường này, nếu để ý hai bên, chúng ta thấy rất nhiều những cây mít được trồng. Tại sao vậy? Trong đạo Phật mít là Paramita. Âm Hán Việt là Ba-la-mật-đa, nghĩa là đáo bỉ ngạn(đến bờ giác ngộ). Ý nghĩa của cây mít là đại giác ngộ, đỉnh cao của giải thoát. Vì thế, cây mít là cây thiêng, gắn với Phật đạo(gỗ mít dùng làm mõ chùa, làm tượng Phật, lá mít dùng đặt oản lễ Phật…). Thực ra, mít nó không mang yếu tố đơn thuần là chất liệu với những gân xoắn biểu hiện nghệ thuật, cao hơn, nó biểu hiện miền đất thoát tục.

Gác chuông
Giới thiệu về kiến trúc: Gác chuông kiến trúc hình bát giác, có 3 tầng mái cong, chiều cao 18,25m, đường kính 17m, mang dáng dấp của bông sen. Gác chuông có một lối lên và một lối xuống. Để lên gác chuông, mời quý khách lên phía cầu thang bên phải(theo lối nhìn của khách từ tam quan vào).

Giới thiệu về quả chuông: Đây là quả chuông đồng nặng 36 tấn, do các nghệ nhân ở Huế đúc. Qủa chuông này đã được trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam cấp bằng xác nhận là quả chuông bằng đồng lớn nhất Việt Nam.

Như quý khách có thể thấy, quả chuông có 15 vành hoa văn. Tính từ trên xuống, các vành hoa văn được trang trí như sau:

Vành hoa văn 1, 2, 3, 4, 5, 10, 13: khắc chữ Hán.

Vành hoa văn 6 trang trí hoa văn lá đề cách điệu.

Vành hoa văn 7 là vành hoa văn ở giữa, rộng nhất, trang trí các bài minh văn bằng chữ Hán.

Vành hoa văn 8, 14 trang trí hoa văn cúc dây.

Vành hoa văn 9 trang trí hình ảnh lưỡng long chầu quả lôi đang bốc lửa và các chữ Hán.

Xin nói thêm về hình ảnh quả lôi đang bốc lửa: Về ý nghĩa văn hoá tâm linh, hình tượng rồng chầu “quả lôi” biểu hiện ý thức cầu nguồn nước, cầu mưa. Đối với cư dân nông nghiệp, cầu nguồn nước chính là cầu no đủ, hạnh phúc.

Vành hoa văn 11, 12 trang trí hoa văn chữ “Vạn” cách điệu, giữa hai vành này, ở bốn phía là các rốn chuông.

Vành hoa văn 15 (vành cuối cùng) trang trí hoa văn sóng nước. Các hoa văn này được thiết kế mang phong cách thời Lý.

Theo quan niệm của nhà Phật, tiếng chuông khi gõ vào sáng sớm là cảnh tỉnh, buổi chiều là thu không. Mỗi khi tiếng chuông vang lên, mọi thế giới hành tội nghỉ ngơi, những kẻ tội lỗi khi nghe tiếng chuông thì tội lỗi cũng sẽ được tiêu tan. Với quan niệm, tiếng chuông chùa càng ngân xa bao nhiêu, càng xua nỗi khổ của chúng sinh đi bấy nhiêu, vì vậy, gác chuông của chùa được đưa lên rất cao. Khi những hồi chuông được gióng lên, thì ở cách xa hàng chục km vẫn có thể nghe thấu.

Với phật tử, nghe tiếng chuông buổi sớm như nhắc nhở nghiệp bồ tát vị tha; tiếng chuông chiều: diệt trừ sầu não. Tiếng chuông cũng như thúc đẩy cho muôn loài sinh sôi, vì toà nhà đó mang yếu tố dịch học. Cả toà nhà coi như thái cực. Mái trên nhẹ (+), mái dưới nặng (-). Âm dương đối đãi, vạn vật sinh sôi, nảy nở.

Như quý khách có thể thấy, chày kình để đánh được quả chuông này cũng rất lớn. Chày kình bằng gỗ có chiều dài khoảng 5m, đường kính 30cm, nặng gần 500kg (5 tạ).

Điện Quan Thế âm Bồ tát.
Giới thiệu về kiến trúc: Đây là công trình được làm hoàn toàn bằng gỗ, khoảng 900m

3 gỗ tròn đã được sử dụng làm công trình này. Điện thờ gồm 7 gian, chiều cao 14,8m, chiều rộng 16,8m, chiều dài 40,4m.

Giới thiệu về pho tượng Quan Thế âm Bồ tát: Đây là pho tượng đã được Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam cấp bằng xác nhận là tượng Quan Thế âm bằng đồng lớn nhất Việt Nam. Tượng cao 5,4m, nếu tính cả bệ tượng là 9,57m; nặng 80 tấn, nếu tính cả bệ tượng là khoảng 100 tấn.

Như chúng ta đã biết, Quan âm là vị phật đại diện cho tứ đại vô lượng tâm:đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, vì vậy, ở bất kể đâu, phật Quan âm cũng luôn tượng trưng cho sự từ bi, cứu khổ, cứu nạn mọi chúng sinh. Pho tượng tại đây là hình ảnh tượng Quan âm thiên thủ thiên nhãn (tức là Quan âm nghìn tay nghìn mắt). Theo truyền thuyết, bà là con gái vua Thủy Tề, bỏ mặc giàu sang phú quý đi tu Phật, bà hy sinh cả đôi tay, đôi mắt của mình để chữa bệnh cho chúng sinh. Vì thế Phật cho bà tăng lên nghìn con mắt, nghìn bàn tay để bà làm được nhiều việc công ích và nhìn, thấu hiểu nỗi khổ của chúng sinh nghìn lần hơn nữa.

Như chúng ta thấy, tượng Quan âm ở đây được thể hiện có 3 khuôn mặt chồng lên nhau, tương truyền, bà suy nghĩ về chúng sinh nhiều quá nên đầu vỡ làm 3; cũng có người giải thích đó là tam giáo đồng tôn: nho – đạo – phật. Tượng có 5 đôi tay lớn, mỗi đôi tay thể hiện một cách kết ấn khác nhau, có đôi tay kết ấn Thiền định, có đôi tay kết ấn Liên hoa… nhưng dù là cách kết ấn nào thì cũng thể hiện lòng từ bi, bác ái của Quan âm bồ tát, của đạo Phật đối với chúng sinh.

Điều đặc biệt là tượng Quan âm được tạc ngồi trên đài sen, có quỷ đội. Như vậy, chúng ta có thể hiểu đây cũng là hình ảnh của tượng Quan Âm Nam Hải. Sở dĩ gọi là Quan Âm Nam Hải là vì ở biển phương Nam. Và con quỷ đội đài sen ấy có tên là Ô-ba-nan-đà long vương (gọi tắt là Nan đà long vương).

Hình tượng quỷ đội đài sen biểu hiện rằng, uy lực của phật pháp đã thấm nhuần tới cả cõi âm ti.

Điện Pháp chủ
Giới thiệu về hồ phóng sinh: Trước cửa điện Pháp chủ là hồ phóng sinh, diện tích khoảng 5000m. Xung quanh hồ trồng nhiều cây bồ đề. Đây là những cây do các đồng chí lãnh đạo, các nguyên thủ quốc gia đã trồng khi về thăm chùa.

(Có thể giới thiệu thêm về cây bồ đề (âm Hán Việt là Bu – đa) nghĩa là người giác ngộ. Cây bồ đề là cây thiêng gắn với đạo Phật, mang yếu tố giác ngộ nên nó được đặt ở phía ngoài. Với chúng ta hiểu, bồ đề là giác ngộ trên nền tảng trí tuệ hướng đến điều thiện. Vì vậy, cây bồ đề trồng phía ngoài, nhắc nhở phật tử phải dẹp lòng trần, khởi lòng tĩnh, hướng đến đất Phật).

Điện Tam thế
Giới thiệu về vị trí phong thủy của khu chùa Bái Đính (Tại sân điện Tam thế, vì ở vị trí này khách có thể nhìn bao quát toàn cảnh). Từ sân điện Tam thế nhìn về phía Tam quan:

Bên hữu (phải) có dãy núi Hàm Rồng, núi Hàm Xà.
Bên tả (trái) có núi Lê, núi Khám, núi U Bò, núi Ba Chạc, núi Thờ.
Phía trước chính diện có hồ Đàm Thị, xa hơn là núi Hàn Cay, tựa bức bình phong của khu chùa, xa hơn nữa là dòng Hoàng Long đầy ắp huyện thoại. Chúng ta có thể thấy, phía trước khu chùa là một bức tranh sơn thủy hữu tình, âm dương đối đãi. Có thể nói thêm phía bên kia bờ Hoàng Long là quê hương của vua Đinh Tiên Hoàng, cũng là quê hương của Quốc sư Nguyễn Minh Không, người có công đầu xây dựng ngôi chùa Bái Đính cổ.
Phía sau là núi Bái Đính, nơi có ngôi chùa cổ.
Giới thiệu về kiến trúc: Điện Tam thế được xây dựng với kiến trúc 3 tầng mái, gồm 7 gian, 2 chái, với tổng cộng 66 cột lớn nhỏ đúc bê tông, ốp gỗ. Phật điện cao 34m, dài 59,10m, rộng 40,50m, diện tích lòng điện 2364m

Con đường nhất chính đạo từ Tam quan đến điện Tam thế dài 812m.Bức phù điêu đá (trước thềm tòa Tam thế) có kích thước 10m x 10m, được chạm khắc tứ linh: long, ly, quy, phượng.

Giới thiệu về bộ tượng Tam thế: Đây là bộ tượng đồng, do các nghệ nhân đúc đồng ở Ý Yên (Nam Định) chế tác. Bộ tượng đã được Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam cấp bằng xác nhận là bộ tượng Tam thế bằng đồng lớn nhất Việt Nam.

Mỗi pho tượng cao 7,20m, nặng 50 tấn, đặt trên bệ đá cao 1,5m. Tam thế có nghĩa là 3 thời: quá khứ, hiện tại, tương lai. Tên đầy đủ của bộ tượng này trong đạo Phật là Tam thế thường trụ diệu pháp thân, có nghĩa là Phật luôn tồn tại kỳ diệu khắp mọi nơi, mọi lúc. Ý nghĩa của bộ tượng này là các vị Phật của các thời luôn nối tiếp nhau để giáo hóa chúng sinh. Các vị Phật có kích thước và hình dáng giống nhau, đều ngồi thế tọa thiền kiết già toàn phần (yoga)

Vị Phật ngồi giữa là tượng hiện tại thế, còn gọi là Hiền kiếp. Vị phật này thể hiện cách kết ấn Thiền định với ý nghĩa giữ cho tâm thanh, lòng tĩnh, chống lại mọi tà loạn.

Vị Phật ngồi bên trái (theo hướng nhìn của khách từ ngoài vào) là tượng quá khứ thế, còn gọi là Trang nghiêm kiếp. Vị phật này thể hiện cách kết ấn Thuyết pháp với ý nghĩa dùng đạo Phật để giáo hóa chúng sinh.

Vị Phật ngồi bên phải là tượng vị lai thế, còn gọi là Tinh tú kiếp. Vị phật này thể hiện cách kết ấn Vô úy với ý nghĩa diệt mọi trừ tà ma, tội lỗi.

Một số công trình khác (sẽ được xây dựng trong tương lai gần, như thảo
viên, khu bảo tàng Phật giáo, nhà thờ Mẫu, khu tháp, nhà thờ Tổ…). Đây cũng là

những công trình có kiến trúc đồ sộ, hoành tráng, tạo nên một quần thể chùa Bái

Đính ấn tượng, độc nhất vô nhị của Việt Nam.

PHẦN II: CHÙA BÁI ĐÍNH CỔ
Giới thiệu chung
Như đã giới thiệu ở phần trước, các quý khách đang bước chân trên mảnh đất có bề dày lịch sử hàng ngàn năm, văn hóa, tín ngưỡng. Bản thân khu vực núi chùa Bái Đính đóng vai trò là vùng giao thoa giữa văn hóa sông Hồng ở phía Bắc và văn hóa sông Mã ở phía Nam, là cửa ngõ từ rừng xuống biển, là một điểm trên con đường sinh dưỡng, giao lưu bằng đường bộ theo hướng Bắc – Nam của người Tiền sử. Điều này được chứng minh qua các di chỉ khảo cổ học ở núi Thung Bình, hang Bói, hang Trống… (những di chỉ thời đại đồ đá nằm ở phía Đông Nam núi Bái Đính), qua những di chỉ thời đại đồ đồng: núi Ốp, núi Xưa, đồi Đống (phía Tây Bắc núi Bái Đính)… Đó là nền cơ sở vật chất của nền văn minh Đông Sơn, thời đại các vua Hùng, gắn liền với những truyền thuyết, huyền thoại về nhân vật thần núi Thánh Tản Viên, nhân vật này cũng được thờ tại đây.

Và khu vực núi Bái Đính cũng nằm trên dòng chảy của tín ngưỡng thờ Mẫu (một tín nhưỡng bản địa của dân tộc), từ đền Sòng, phố Cát (Thanh Hóa) đến phủ Đồi Ngang (Nho Quan – Ninh Bình) qua núi Bái Đính, ở đây ngoài động thờ Phật, đền thờ thánh Cao Sơn còn có phủ thờ Mẫu, để rồi từ đây, dòng chảy tiếp tục về núi Gôi (Nam Định) gắn liền với nhân vật mẫu Liễu Hạnh ba lần sinh, ba lần hóa.Và cũng chính vì thế, nhân ngày hội chùa Bái Đính (ngày mồng 6 tháng Giêng) vào các năm 1943, 1944 có hàng nghìn Phật tử; tín đồ của Mẫu, của Thánh đến tham dự, lợi dụng thời điểm tập trung đông người này các chiến sỹ Cộng sản.

Chùa Bái Đính cổ (Bái Đính cổ tự) nằm gần trên đỉnh của một vùng rừng núi khá yên tĩnh cách điện Tam Thế của khu chùa mới khoảng 800 m về phía nam. Chùa Bái Đính cổ tọa lạc trên một ngọn núi cao 187m, thuộc xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Nơi có nhiều giai thoại về Đức Thánh Nguyễn Minh Không, người đã lập nên vào triều Lý khi Ngài về đây tìm cây thuốc quý chữa bệnh cho vua. Vì vậy chùa Bái Đính cổ có nhiều chi tiết kiến trúc và cổ vật mang dấu ấn đậm nét của thời Lý.

Gần 1000 năm trôi qua, ngôi chùa Bái Đính cổ vẫn còn đó như một minh chứng cho sức sống bền bỉ của đạo Phật trong đời sống tâm linh của người Việt. Các hạng mục chính của chùa Bái Đính cổ gồm: động thờ Phật, động thờ Mẫu, điện thờ Đức Thánh Nguyễn Minh Không và điện thờ Đức Thánh Cao Sơn.

Bái Đính cổ tự không có những mái chùa cong vút mái đao hay mũi hài, càng không có những trụ cột to lớn, đồ sộ hay thượng điện nguy nga lộng lẫy. Mà được tạo dựng theo lối kiến trúc chùa động khá phổ biến như các chùa cổ khác ở Ninh Bình.

Tất cả các ban thờ Phật, thờ Mẫu của chùa Bái Đính cổ đều được đặt giữa lòng những sơn động u minh, làm tăng thêm không khí linh thiêng và huyền bí nơi cửa thiền. Trần hang động đã trở thành những mái chùa kiên cố, che chắn chốn thiêng ngự trị của Phật, của Mẫu đã hàng bao thế kỷ nay.

Muốn lên thăm hang động ở núi Bái Đính các du khách phải bước trên 300 bậc đá, qua cổng Tam Quan ở lưng chừng núi. Lên hết dốc là tới ngã ba là đền thờ Thánh Nguyễn, bên phải là hang sáng thờ Phật, bên trái là động tối thờ Mẫu. Mỗi một hang động đều có một sự tích và huyền thoại riêng tạo nên những nét kỳ bí và linh thiêng nơi cửa thiền.

Lý Quốc Sư hay thiền sư Nguyễn Minh Không là một nhà sư tài danh, sinh ra tại huyện Gia Viễn, Ninh Bình. Ông được coi là thần y khi đã chữa bệnh “hóa hổ” cho vua Lý Thần Tông, từ đó trở thành vị cao tăng đứng đầu của triều đại nhà Lý trong lịch sử Việt Nam, cũng là người đầu tiên áp dụng phương pháp chữa bệnh bằng thuốc Nam và châm cứu, là người có nhiều công lớn chữa bệnh cho vua và nhân dân.

Tương truyền rằng, khi ông đi tới vùng đất núi chùa Bái Đính hiện nay, vùng đất “địa linh nhân kiệt”, Ông nhận ra đây là nơi tiên cảnh, với thế núi hướng về phía Tây như chầu về đất Phật, rừng núi mênh mông với muôn vàn cây thuốc quý. Ông quyết định dừng lại nơi đây để tu hành và đặt tên cho núi là Bái Đính sau đó biến nơi đây thành “vườn sinh dược” (có nghĩa là vườn thuốc quý) để cứu sinh độ thế cho muôn dân. Ông là người trực tiếp bốc thuốc chữa bệnh cho chúng sinh nhờ vào những loại thuốc quý có sẵn nơi đây và một số loại ông đưa từ nơi khác về trồng. Đền thánh Nguyễn được đặt nằm ngay tại ngã ba đầu dốc, xây theo kiểu tựa lưng vào núi, trong đền có tượng của ông được đúc bằng đồng.

Động thờ Phật
Động thờ Phật có chiều dài 25m cao 2m. Trong một lần vua Lê Thánh Tông kinh lý phương Nam, ngài đã thăm và ban tặng chùa Bái Đính bốn chữ “Minh Đỉnh Danh Lam” trên cửa động, nhằm miêu tả, ca ngợi vẻ đẹp và sự linh thiêng của núi rừng nơi đây. Trước cửa động thờ 2 pho tượng Hộ pháp bằng đồng là ngài Khuyến Thiện và Trừng Ác.

Trong động thờ Phật còn thờ Đức chúa ông, tức là Trưởng giả Tu Đạt hay còn gọi là ông Cấp Cô Độc. Ông là một vị Trưởng giả ở đất nước Ấn Độ cổ, sinh cùng thời với Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, là đệ tử tu tại gia và hộ pháp đắc lực của Đức Phật. Sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni chứng đắc đạo quả dưới gốc cây Bồ đề, Trưởng giả Tu Đạt và Thái tử Kỳ Đà đã cùng nhau xây dựng một Tịnh Xá dâng lên Đức Phật để ngài làm nơi thuyết pháp, độ sinh. Sau này khi Phật Thích Ca Mâu Ni nhập niết bàn, thì nơi này đã làm nơi thờ Phật và đó được coi là ngôi chùa đầu tiên.

Trong động chính là thờ ngôi Tam Bảo – ba ngôi báu, bao gồm: Phật Bảo là chỉ cho 10 phương ba đời các Đức Phật, Pháp Bảo là chỉ cho kinh điển, giới luật, giáo lý… của nhà Phật; Tăng Bảo là chỉ cho những người xuất gia tu hành tu theo giới luật của Phật và truyền trì chính pháp.

Động thờ Mẫu
Đối diện với động thờ Phật là động thờ Mẫu. Bên trái cửa động treo quả chuông nặng 300kg và có khắc 8 chữ là: “Mẫu – Nghi – Thiên – Hạ / Xuân – Hạ – Thu – Đông”.

Cũng như các ngôi chùa khác ở Việt Nam, chùa Bái Đính có tín ngưỡng thờ Tam tòa Thánh Mẫu, hướng đến cuộc sống thực tại của con người với ước vọng sức khỏe, tài lộc, may mắn… Trong đó, Mẫu Thoải là Mẫu đệ tam cai quản vùng sông nước, thường được khoác trên người màu áo trắng; Mẫu Thượng Ngàn là Mẫu đệ nhị người cai quản vùng núi rừng nên khoác trên người màu áo xanh; Mẫu Liễu Hạnh là mẫu đệ nhất, khoác trên người màu áo đỏ – màu của sinh lực, màu của sự hy sinh, biểu tượng cho sự hy sinh của những người mẹ.

Hầu cận Mẫu là đôi Kim Đồng, Ngọc Nữ cùng với Ngũ vị tiên quan, tức là năm vị quan tối cao thi hành các nhiệm vụ của Mẫu khi mẫu ban lệnh.

Đền Thánh Cao Sơn
Đi sâu qua động thờ Thánh Mẫu có một lối dẫn xuống sườn thung lũng của rừng cây sưa là đền thờ thần Cao Sơn, vị thần cai quản vùng núi Vũ Lâm. Ngôi đền thần Cao Sơn hiện tại được tu tạo có kiến trúc gần giống với đền Thánh Nguyễn, cũng xây tựa lưng vào núi, có hành lang ngăn cách với thung lũng ở phía trước. Theo truyền thuyết Thánh Cao Sơn là một vị tướng của Vua Hùng (Tản Viên là anh cả, Cao Sơn là anh thứ hai, Quý Minh Đại Vương là thứ ba). Tương truyền rằng, lệnh bài người cầm trước ngực là do vua Hùng ban cho những cánh quân đi về núi Bái Đính để trấn giữ 99 ngọn núi

Đặc biệt từ cửa hang sáng nhìn ra phía trước là thung lũng xanh ngút ngàn, tức cảnh sinh tình, có truyền thuyết kể lại rằng, khi vua Lê Thánh Tông lên vãn cảnh chùa trên đỉnh Bái Đính vua đã tạc một bài thơ trên núi đá ca ngợi vẻ đẹp nơi đây, hiện vẫn còn lưu giữ tới ngày nay. Bài thơ có câu dịch:

Đính sơn danh tiếng thật cao xa
Che chở kinh thành tự thửa xưa
Nhân kiệt địa linh nên vượng khí
Núi thiêng cảnh đẹp vững sơn hà.

Nguồn: Sưu tầm.

Want your school to be the top-listed School/college in Hanoi?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Category

Telephone

Website

Address


Hoàng Quốc Việt, Q. Cầu Giấy
Hanoi