17/06/2026
📚 “NGƯỜI CỦA NGÀY XƯA” CỦA NGUYỄN KHẢI – DÁNG HÌNH CỦA ĐẠO LÝ VÀ PHẨM GIÁ
[…] Bà không được đẹp, ăn mặc xuềnh xoàng, tên gọi cũng không sang, tên là Mặm, cụ tuần Mặm. Nhưng đã ngồi trò chuyện giữa đám đông bà luôn luôn được mọi người chú ý vì cách ăn nói tự nhiên và nhũn nhặn, lại rất hay pha trò. Bà không hề cười nhưng người nghe thì cười nghiêng ngả, phun cả nước cốt trầu vào áo nhau. Sau này tôi được nghe mẹ tôi kể, bà Mặm còn một người chị ruột tên là Mắm, mẹ mất sớm, ở với bố là canh điền, chuyên đi làm thuê cho các nhà giàu ven sông Nhuệ. Những tháng nông nhàn, cả ba bố con lại đi riu tép, chăn vịt, đan rổ rá và làm miến d**g là nghề của làng. Năm mười sáu tuổi cô Mặm theo cô ruột là người nấu cơm cho một ông án để giúp việc vặt trong dinh. Ông án năm ấy còn trẻ, chưa tới bốn mươi, cũng có ý gạ gẫm cô bé, ngoài hầu thuốc hầu trà còn muốn hầu thêm cả việc chăn gối. Nhưng cô cự tuyệt và lời nói của cô không rõ là hư hay thực nhưng giới mệnh phụ đều biết cả: “Chúng con tuy nghèo nhưng là con nhà thi lễ chứ không phải phường mèo mả gà đồng, xin cụ lớn xá lỗi cho”. Một năm sau ông án cưới cô làm thiếp, có trầu cau đưa về trình làng hẳn hoi. Năm mười tám tuổi cô sinh người con trai đầu, cũng là người con duy nhất, là bố của anh em Nhân và Nghĩa thì bà chánh thất bị bệnh thương hàn mất. Cô Mặm thành vợ chánh mặc dầu còn hai bà thứ thất. Các con của mấy bà đều gọi bà kế thất là dì, về sau gọi là mẹ vì cái đại gia đình ấy từ ngày ông tuần nghỉ hưu đều trông cậy vào một tay bà chèo chống. Bà Mặm lấy chồng được năm năm mới đưa chồng về làng nhận họ, người chồng lúc này đã là tuần phủ của chính tỉnh nhà. Bà bảo xe hơi đỗ ngoài đường cái cùng chồng đi bộ về làng, thẻ ngà của chồng phải nhét phía trong vạt áo sa, là rể làng chứ không phải quan trên về kinh lý. Lại gặp lúc các cụ kỳ mục đang họp bàn việc làng ở đình, bà đưa chồng ra chào. Các cụ mời ngồi, bà ngăn lại, bảo: “Ông nhà tôi chỉ là rể làng thôi, rể làng chưa khao vọng gì thì không có chỗ ngồi ở đình, là tục lệ từ xưa, xin các cụ chớ bỏ”. Vợ chồng bà thắp hương rồi cúng một món tiền lớn để làng xây lại hai dãy nhà Tả Mạc và Hữu Mạc. Cách cư xử của bà không làm ai ngạc nhiên cả vì nhà bà tuy nghèo nhưng gia giáo rất nghiêm, con cái đi đâu, làm gì đều phải thưa trình. […]
Bà Mặm tuy là vợ chánh một ông tuần phủ nhưng không mấy khi bà ở dinh cụ tuần để hưởng cái vinh dự được thuộc hạ bẩm báo, kính trình cụ lớn. Bà thường ở quê chồng là đất trồng thuốc lào, mua ruộng, học nghề trồng tỉa vò ủ thuốc lào, lại biết canh cải thêm tí chút nên thuốc lào của cụ tuần Mặm nổi tiếng êm ngon một thời, các lái về mua phải chở bằng thuyền, tiền lãi bán thuốc đủ chi dùng cho việc quan của chồng và ăn tiêu của một đại gia đình hết sức đông đảo. […]. Đầu năm 55(1), Nhân mới đưa được vợ con về quê để trình với bà nội và mẹ, ra mộ thắp hương cho bố đã bị Pháp giết trong trận càn. Cô cháu dâu tâm sự với bà nội chồng: “Chúng cháu lấy nhau trong kháng chiến, bây giờ hòa bình rồi, các cô gái ở thành phố cô nào cũng đẹp, chả biết anh ấy còn thương yêu mẹ con cháu như xưa không?” Bà lão cười chảy cả nước mắt, nắm tay cháu dâu mà bảo: “Đàn ông nhà này như cái ngọn, đàn bà nhà này như cái gốc. Có bao giờ ngọn bỏ được gốc mà con lo”. Trong mấy năm phát động giảm tô và cải cách ruộng đất, ai cũng nghĩ bà cụ tuổi đã cao lại phải lo nghĩ buồn phiền nhiều sẽ khó thọ. Nhưng bà lão vẫn vui, vẫn thích nói đùa, vì bà cụ có lý lẽ riêng, có sự từng trải riêng. Cụ bảo: “Tôi nghiệm ra cứ dăm ba chục năm hay năm bảy chục năm lại có một lần thay đổi thời thế để chia lại của cải và danh vị trong thiên hạ, để có dịp ơn đền oán trả cho thuận với cái lẽ chuyển vận bù trừ của trời đất. Tôi ngày nhỏ ở với bố chỉ có cái váy đụp, bây giờ về già sống với con cháu lại được mặc cái quần lành tức là phúc đức nhiều rồi”. Năm cụ Mặm 79 tuổi trước ngày mất chừng vài tháng, nhân có giỗ ông tuần, con cháu về đông đủ, bà cụ nhờ vợ Nhân nhai giập miếng trầu rồi nhón lấy miếng trầu đã nhừ nhuyễn, thật tươi thật đỏ cho vào mồm ngậm, căn dặn con cháu:
– Cái họ nội nhà này giống thì tốt nhưng phúc đức đã cạn kiệt. Mấy chục đời đều có người làm quan, oán nhiều ơn ít, lấy đâu ra phúc. Được cái các nàng dâu đều là con nhà thanh bạch, phúc đức rất dầy nên giống tốt mới đơm hoa kết quả cho tới tận bây giờ. Các anh chị nuôi dạy con cháu rồi cưới vợ gả chồng cho chúng nó, nhớ lấy cái đức làm đầu, tài sắc phú quý tính sau. Ở đời chỉ có cái đức là trường tồn, càng có nhiều càng tốt, không sợ thừa. Kỳ dư những thứ khác đều phù du cả, có đấy mất đấy, phúc đấy họa đấy, không tính trước được đâu.
[Lược: Nhân vật “tôi” ra Hà Nội chơi, Nghĩa cho người đánh xe chở đi thăm thú vài nơi. Sau đó, trở về, Nghĩa mời “tôi” uống bia tại một khách sạn quen thuộc, sang trọng trên đường Lý Nam Đế nhưng “tôi” băn khoăn về những sự đổi khác của Hà Nội bây giờ].
Tôi bảo Nghĩa:
– Cái Hà Nội bây giờ không còn là của mình nữa. Nó là của các anh. Nó sẵn sàng phục vụ cho mọi tham vọng của các anh.
Nghĩa đưa mắt nhìn tôi nhưng vẫn ngồi lặng lẽ uống bia nhắm hạt điều. Cái thằng đến tiết kiệm nói.
Tôi lại hỏi:
– Hình như anh đang giàu lên, đang rất giàu phải không? Đã được triệu đô chưa?
[…] Nghĩa nói, có nhiều cơ hội đã nhìn thấy cả đống tiền trước mắt, vì tôi cũng có cái tài nhìn ra nơi ẩn trốn của đồng tiền, nhìn trước được nhiều người, chỉ giơ tay một cái là nó thuộc về mình, rất ngoạn mục, rất an toàn mà không dám, chỉ vì cái cách kiếm tiền ấy không được đạo đức cho lắm mà tôi lại chưa thể bước qua cái đường vạch của bà nội. Cụ là cô gái nghèo, thuộc lớp đáy của xã hội, bỗng chốc thành phu nhân, danh vọng và tiền bạc đều dư thừa mà không lóa mắt, không đua đòi, không chịu để mất cái phẩm giá riêng, nghĩ lại thật đáng sợ. Tôi là một thằng đàn ông không thể nói là nghèo, lại có học, lại cũng từng trải mà chịu quỳ gối trước sức mạnh kim tiền như một thằng Mít thằng Xoài(2) thì cũng hèn quá, cũng nhục quá, có phải không? Vả lại cách sống đàng hoàng của kẻ có tài đâu phải thua thiệt, cũng ra tiền đấy, ít thôi nhưng là tiền sạch, tiền bền, đồng tiền không mang họa cho người giữ nó. Rồi Nghĩa khuyên tôi nên viết về bà nội hắn, chỉ là người đàn bà tầm thường thôi nhưng cái cách ứng xử một đời không thay đổi của bà lão lại chẳng tầm thường một chút nào: biết thích ứng nhanh để hòa nhập nhưng không chịu để mất những niềm tin riêng, cái cốt cách riêng của mình.
(Trích tập “Hà Nội trong mắt tôi”, Nguyễn Khải, NXB Trẻ, 2003, tr. 56 – 67)
📚 Giữa dòng chảy biến động của lịch sử và đời sống, con người nhiều khi được nhớ đến không phải vì danh vọng hay quyền lực mà bởi cốt cách và cách ứng xử của họ trước cuộc đời. Văn xuôi của Nguyễn Khải luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho những con người bình dị nhưng mang trong mình chiều sâu nhân cách. Truyện ngắn “Người của ngày xưa” là một trong những trang viết giàu suy ngẫm như thế. Qua hình tượng bà cụ Mặm, tác giả đã khắc họa chân dung một người phụ nữ bình thường mà đáng kính, một con người biết thích ứng với thời thế nhưng vẫn giữ vững phẩm giá và niềm tin đạo đức của mình. Hình ảnh ấy không chỉ gợi nhớ về vẻ đẹp của một thế hệ đã qua mà còn khiến người đọc suy ngẫm về những giá trị bền vững của con người.
📚 Nguyễn Khải là cây bút lớn của văn học Việt Nam hiện đại, nổi tiếng với những trang văn giàu tính chiêm nghiệm về con người và xã hội. Trong nhiều sáng tác của mình, ông thường tìm kiếm vẻ đẹp nhân cách trong những con người bình dị của đời sống. “Người của ngày xưa” là truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách ấy. Qua hồi ức của nhân vật kể chuyện và những lời kể của người trong gia đình, hình ảnh bà cụ Mặm hiện lên như biểu tượng của lớp người xưa với nếp sống gia phong, với lòng tự trọng và với đạo lý lấy đức làm gốc.
📚 Trước hết, bà cụ Mặm hiện lên với nguồn gốc nghèo khó nhưng giàu lòng tự trọng. Bà sinh ra trong một gia đình làm nghề canh điền ven sông Nhuệ, cuộc sống lam lũ với những công việc như riu tép, chăn vịt, đan rổ rá, làm miến d**g. Tuy nghèo nhưng gia đình vẫn giữ nếp sống gia giáo nghiêm cẩn. Chính nền nếp ấy đã hình thành ở cô gái Mặm sự cứng cỏi và lòng tự trọng đáng quý. Khi bị ông án gạ gẫm, cô gái trẻ đã thẳng thắn từ chối bằng lời nói đầy khí phách: “Chúng con tuy nghèo nhưng là con nhà thi lễ chứ không phải phường mèo mả gà đồng”. Lời nói ấy cho thấy phẩm giá của một con người biết trân trọng danh dự của mình. Nghèo khó không khiến bà đánh mất sự trong sạch và lòng tự trọng.
📚 Khi trở thành vợ của một vị quan lớn, bà Mặm vẫn giữ nguyên cốt cách giản dị và khiêm nhường. Chồng bà đã là tuần phủ của tỉnh nhưng bà không để danh vọng làm thay đổi cách sống của mình. Khi đưa chồng về làng nhận họ, bà bảo phải để xe hơi ngoài đường cái rồi cùng chồng đi bộ vào làng. Thậm chí khi gặp các cụ kỳ mục ở đình làng, bà còn nhắc rằng chồng mình chỉ là rể làng nên chưa có chỗ ngồi trong đình nếu chưa khao vọng. Cách cư xử ấy thể hiện sự tôn trọng truyền thống và lòng khiêm nhường đáng quý. Đối với bà, địa vị xã hội không thể đứng cao hơn những quy tắc đạo lý của cộng đồng.
📚 Không chỉ giữ gìn phẩm giá, bà cụ Mặm còn là người phụ nữ đảm đang và giàu trách nhiệm với gia đình. Sau khi trở thành vợ chính, bà phải quán xuyến cả một đại gia đình đông đúc. Thay vì sống trong dinh thự để hưởng vinh hoa, bà thường ở quê chồng, mua ruộng đất và học nghề trồng thuốc lào. Nhờ sự chăm chỉ và khéo léo của bà, thuốc lào của gia đình trở nên nổi tiếng một thời, mang lại nguồn thu đủ nuôi sống cả đại gia đình. Hình ảnh ấy cho thấy bà không phải người chỉ dựa vào địa vị của chồng mà luôn chủ động lao động và gây dựng cuộc sống bằng chính sức lực của mình.
📚 Bà cụ Mặm còn là người từng trải, giàu triết lý sống. Trải qua nhiều biến động của lịch sử, bà vẫn giữ được sự bình thản và cái nhìn thấu đáo. Khi xã hội thay đổi trong những năm cải cách ruộng đất, bà nhìn nhận sự biến động ấy như một quy luật tự nhiên của đời sống. Theo bà, cứ sau một quãng thời gian dài, xã hội lại có sự thay đổi để phân chia lại của cải và danh vị trong thiên hạ. Cách suy nghĩ ấy thể hiện sự từng trải sâu sắc và thái độ bình tĩnh trước những đổi thay của thời thế.
📚 Trước khi qua đời, bà đã để lại cho con cháu bài học lớn về đạo đức làm người. Lời dặn của bà giản dị nhưng sâu sắc: “Ở đời chỉ có cái đức là trường tồn, càng có nhiều càng tốt, không sợ thừa”. Trong quan niệm của bà, tài năng, sắc đẹp hay của cải đều là những giá trị mong manh, còn đạo đức mới là nền tảng vững bền nhất của cuộc đời. Đó chính là tinh thần đạo lý truyền thống của người Việt được kết tinh qua trải nghiệm của một đời người.
📚 Ảnh hưởng của bà cụ Mặm còn lan tỏa tới các thế hệ sau. Cháu của bà là Nghĩa, khi đứng trước những cơ hội làm giàu nhanh chóng nhưng không chính đáng, đã không dám vượt qua ranh giới đạo đức mà bà nội từng đặt ra. Tấm gương sống của bà đã trở thành chuẩn mực giúp con cháu giữ gìn phẩm giá trong một xã hội đang đổi thay mạnh mẽ.
📚 Qua hình tượng bà cụ Mặm, Nguyễn Khải đã khắc họa thành công chân dung một người phụ nữ bình dị mà cao quý. Bà đại diện cho lớp người xưa với nếp sống trọng nghĩa tình, coi trọng đạo đức và giữ gìn cốt cách trước mọi biến động của cuộc đời. Nghệ thuật kể chuyện tự nhiên, giọng văn trầm tĩnh và giàu suy ngẫm đã giúp hình ảnh bà cụ hiện lên vừa gần gũi vừa sâu sắc.
📚 “Người của ngày xưa” vì thế không chỉ là câu chuyện về một con người trong quá khứ mà còn là lời nhắc nhở về những giá trị bền vững của nhân cách. Trong dòng chảy không ngừng của xã hội, những phẩm chất như lòng tự trọng, sự khiêm nhường và đạo đức vẫn luôn là nền tảng giúp con người giữ vững bản thân. Hình ảnh bà cụ Mặm vì thế trở thành biểu tượng đẹp của một thế hệ đã qua, một thế hệ sống giản dị nhưng để lại dấu ấn sâu xa trong lòng người đọc.
----------------------------------
Học Văn cô Diệu Thu - Hệ sinh thái học văn toàn diện, dễ dàng
Hotline: 0833.873.089
Địa chỉ: 68 Thụy Phương, Đông Ngạc, Hà Nội
Website: https://letrandieuthu.com