BỘ ĐỀ THAM KHẢO THI TỐT NGHIỆP THPT 2025 MÔN NGỮ VĂN
ĐỀ SỐ 03
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích:
Rừng núi còn chìm đắm trong màn đêm. Trong bầu không khí đầy hơi ẩm và lành lạnh, mọi người đang ngon giấc trong những chiếc chăn đơn. Bỗng một con gà trống vỗ cánh phành phạch và cất tiếng gáy lanh lảnh ở đầu bản. Tiếp đó rải rác khắp thung lũng, tiếng gà gáy râm ran. Mấy con gà rừng trên núi cũng thức dậy gáy te te. Trên mấy cây cao cạnh nhà, ve đua nhau kêu ra rả. Ngoài suối, tiếng chim cuốc vọng vào đều đều… Bản làng đã thức giấc. Đó đây, ánh lửa hồng bập bùng trên các bếp. Ngoài bờ ruộng đã có bước chân người đi, tiếng nói chuyện rì rầm, tiếng gọi nhau í ới.
Tảng sáng, vòm trời cao xanh mênh mông. Gió từ trên đỉnh núi tràn xuống mát rượi. Khoảng trời sau dãy núi phía đông ửng đỏ. Những tia nắng đầu tiên hắt chéo qua thung lũng, trải trên đỉnh núi phía tây những vệt sáng màu lá mạ tươi tắn… Ven rừng, rải rác những cây lim đã trổ hoa vàng, những cây vải thiều đỏ ối những quả…
Nắng vàng lan nhanh xuống chân núi rồi rải vội lên đồng. Bà con xã viên đã đổ ra đồng cấy mùa, gặt chiêm. Trên những ruộng lúa chín vàng, bóng áo chàm và nón trắng nhấp nhô, tiếng nói, tiếng cười nhộn nhịp vui vẻ.
(Theo Hoàng Hữu Bội, Buổi sớm mùa hè trong thung lũng)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.
Câu 2. Xác định âm thanh đánh thức mọi người tỉnh dậy khi đang ngon giấc trong đoạn trích.
Câu 3. Trình bày hiệu quả của các từ láy tượng thanh trong đoạn trích.
Câu 4. Nêu kết cấu cốt truyện trong đoạn trích.
Câu 5. Từ cảm nhận về các loại âm thanh trong đoạn trích, anh/chị hãy bày tỏ suy nghĩ về ấn tượng của những âm thanh quen thuộc trong đời sống (trình bày khoảng 5-7 dòng).
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích vẻ đẹp của bức tranh thung lũng buổi sáng mùa hè qua cảm nhận của tác giả trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm)
Bàn về ảnh hưởng của mạng xã hội, trong dư luận tồn tại hai luồng ý kiến: mạng xã hội ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển tâm lý và xã hội của giới trẻ và ngược lại.
Từ góc nhìn của người trẻ, anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về những ý kiến trên.
---Hết---
AUDIO VĂN HỌC
Audio Văn học là một page bổ trợ tri thức Văn học
BỘ ĐỀ THAM KHẢO THI TỐT NGHIỆP THPT 2025 MÔN NGỮ VĂN
ĐỀ SỐ 02
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích:
[1] Thật ít có loài hoa nào vừa được mong chờ vừa bị rẻ rúng, vừa được nâng niu vừa bị lãng quên nhanh như bằng lăng. Ngày cuối xuân, người ta khát tím. Khi những giọt tím nhú trên nụ hoa, người ta thắc thỏm. Khi hoa vừa cựa mình xòe từng cánh mỏng tựa con ve sầu non quẫy cựa trút bỏ xác già, vẫy đôi cánh tím rung rinh đầu cành như sắp sửa bay lên thì các kiểu ống kính camera, mobile, ipad, galaxy tua tủa hướng về, lia lịa chộp lấy bao dáng tím thanh tân vào những khuôn hình. Rồi trầm trồ nhất, háo hức nhất là lúc hè đã về tới, bằng lăng nhất loạt khai hội trên khắp phố phường, một carnavan tím tưng bừng trên những vòm xanh. Mỗi bông hoa như một vũ nữ tím khỏa sắc xiêm y trong một festival đường phố của riêng chủng tộc bằng lăng. Người đa cảm đi dọc những tuyến đường đôi khi còn ngỡ tai mình nghe được những âm thanh tím, tiếng líu lo tím, râm ran tím của lễ hội bằng lăng vọng xuống từ chỏm những rặng xanh nữa. Mình từng thấy không ít cánh tay mơ mộng đã vin hái đôi ngọn bằng lăng như hái từng tháp hoa tím, rồi ấp e vào mái ngực như thể đã hái được đóa mộng của riêng rồi vậy. Cứ thế, bằng lăng đã dâng những mùa tím nguyên vẹn mỗi độ hè về để đem tặng cho nhân gian. Nhưng rồi sắc tím hoen nhanh.
[2] Cứ bật tỏa hết mình. Cứ rút hết ruột gan hồn vía ra mà tím. Ôi! Bằng lăng do quá hào phóng với đời mà đã tự làm rẻ mình đi chăng? Ừ, phải chi nở hiếm hoi hơn, nở tằn tiện hơn, nở dè xẻn hơn, nhỏ giọt hơn, để người đời luôn phải thòm thèm, luôn phải ngóng đợi, thì hẳn bằng lăng đã dạy cho đời bài học về sự trân quý rồi. Đằng này… Có lúc mình đã nghĩ oái oăm: Giá chi bằng lăng cứ mất mùa đi vài năm, để cho người đời thấm cái trống vắng thiếu hụt đi đã, rồi hãy đem hoa về, có khi lại hay. Thậm chí, bằng lăng thay đổi chu kì hoa đi, cứ bốn năm hãy cho hoa một lần, có khi lại hay. Bấy giờ, người ta sẽ phải dài cổ ngóng đợi, sẽ sốt ruột chờ trông, người ta sẽ hân hoan chào đón, sẽ ngậm ngùi tiễn đưa, và lúc nào cũng phải chi chút, nâng niu".
(Trích Tự tình cùng cái đẹp, Chu Văn Sơn, NXB Hội Nhà văn, tr.125-127)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn [1].
Câu 2. Xác định hình ảnh được sử dụng để so sánh với đóa hoa bằng lăng đầu mùa chớm nở trong đoạn trích.
Câu 3. Trình bày hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn “Cứ rút hết ruột gan hồn vía ra mà tím”.
Câu 4. Nêu tình cảm của nhân vật trữ tình trong đoạn trích với hoa bằng lăng.
Câu 5. Từ hình ảnh hoa bằng lăng trong đoạn trích, anh/chị hãy bày tỏ suy nghĩ về sự cống hiến thầm lặng và hào phóng trong cuộc đời (trình bày khoảng 5-7 dòng).
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích hình ảnh hoa bằng lăng qua cảm nhận của tác giả trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm)
Trong kho tàng tục ngữ của người Việt, bàn về vai trò của người thầy và người bạn đối với sự học của mỗi người, dân gian có hai câu tục ngữ: "Không thầy đố mày làm nên" và: “Học thầy không tày học bạn”.
Từ góc nhìn của người trẻ, anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về những ý kiến trên.
------HẾT------
BỘ ĐỀ THAM KHẢO THI TỐT NGHIỆP THPT 2025 MÔN NGỮ VĂN
ĐỀ SỐ 1
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản:
Mẹ là cơn gió mùa thu
Cho con mát mẻ lời ru năm nào
Mẹ là đêm sáng trăng sao
Soi đường chỉ lối con vào bến mơ
Mẹ luôn mong mỏi đợi chờ
Cho con thành tựu được nhờ tấm thân
Mẹ thường âu yếm ân cần
Bảo ban chỉ dạy những lần con sai
Mẹ là tia nắng ban mai
Sưởi con ấm lại đêm dài giá băng
Lòng con vui sướng nào bằng
Mẹ luôn bên cạnh nhọc nhằn trôi đi
Mẹ ơi con chẳng ước gì
Chỉ mong có mẹ chuyện gì cũng qua
Vui nào bằng có mẹ cha
Tình thâm máu mủ ruột rà yêu thương
Cho con dòng sữa ngọt đường
Mẹ là ánh sáng vầng dương diệu kỳ
Xua đêm tăm tối qua đi
Mang mùa xuân đến thầm thì bên con.
(Theo Lăng Kim Thanh, Mẹ là tất cả)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu xác định thể thơ của bài thơ.
Câu 2. Xác định hình ảnh được ví với mẹ trong khổ thứ ba của bài thơ.
Câu 3. Trình bày hiệu quả của phép so sánh ví von “Mẹ là…” trong bài thơ.
Câu 4. Nêu tình cảm của nhân vật con trong bài thơ với mẹ.
Câu 5. Từ tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ, anh/chị hãy bày tỏ suy nghĩ về giá trị của những kí ức tuổi thơ bên mẹ và gia đình (trình bày khoảng 5-7 dòng).
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích hình ảnh mẹ qua cảm nhận của nhân vật trữ tình con trong bài thơ ở phần Đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm)
Martin Luther King từng nói: "Trong thế giới này, chúng ta không chỉ xót xa vì những hành động và lời nói của người xấu mà còn cả vì sự im lặng đáng sợ của người tốt".
Ngạn ngữ cổ có câu: “Im lặng là vàng”.
Từ góc nhìn của người trẻ, anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về những ý kiến trên.
------HẾT------
Nhiều bạn (cả GV và HS lớp 9&12) đang lo lắng về định hướng ôn tập và làm bài thi Tốt nghiệp THPT 2025 và bài thi Tuyển sinh vào lớp 10 môn Ngữ văn? Admin sẽ thực hiện chuỗi bài đăng page để giúp đỡ các bạn! Các bạn nghĩ sao?
ÔN THI TỐT NGHIỆP THPT 2023
ĐỀ DỰ ĐOÁN SỐ 03
I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Đọc trích đoạn sau và thực hiện các yêu cầu:
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Các bạn đang tốt nghiệp ở một thời điểm mà mục đích trở nên đặc biệt quan trọng. Khi bố mẹ chúng ta tốt nghiệp, mục đích có thể đến từ công việc, từ nhà thờ, từ cộng đồng của ta. Nhưng ngày nay, công nghệ và tự động hóa đang xóa sổ rất nhiều công việc. Số thành viên trong các cộng đồng đang giảm sút. Rất nhiều người đang cảm thấy buồn thảm và lạc lõng, và đang phải cố gắng để lấp đầy khoảng trống vô nghĩa đó.
Trong thời gian đi lại và gặp gỡ, tôi đã ngồi trò chuyện với những đứa trẻ trong các trại cải tạo vị thành niên và những người nghiện chất kích thích. Họ nói với tôi rằng cuộc đời họ đã có thể khác đi nếu như họ có gì đó để làm, một chương trình sau tốt nghiệp để tham gia, hay một nơi nào đó để đi. Tôi đã gặp những công nhân nhà máy, họ hiểu rằng mình sẽ không thể quay về với công việc cũ nữa, và vẫn đang cố gắng để tìm một nơi chốn cho mình […]
Những bộ phim và nền văn hóa đại chúng đã kéo chúng ta hiểu sai hướng. Ý niệm về một khoảnh khắc ơ-rê-ca duy nhất là một lời nói dối nguy hiểm. Chúng khiến ta cảm thấy thiếu thốn khi chẳng thể có được khoảnh khắc bừng sáng nào. Chúng ngăn không cho những người đã mang trong mình hạt mầm ý tưởng được xắn tay áo lên làm. À, và bạn biết rằng những bộ phim còn khiến chúng ta hiểu nhầm gì về hoạt động cách tân không? Chẳng ai đi viết các công thức toán trên kính cả. Chẳng có thứ gì như vậy.
Lý tưởng hóa là một điều tốt. Nhưng hãy chuẩn bị tinh thần rằng bạn sẽ bị hiểu nhầm. Bất kì ai hành động vì một tầm nhìn lớn đều sẽ bị gọi là điên khùng, kể cả nếu cuối cùng bạn có là người đúng đi chăng nữa. Bất kì ai đang nghiên cứu một vấn đề phức tạp đều sẽ bị đổ lỗi vì không hiểu trọn vẹn thách thức họ phải đối mặt, dù rằng ngay từ đầu việc biết mọi thứ là hoàn toàn bất khả. Bất kì ai nắm lấy lá cờ tiên phong đều sẽ phải chịu chỉ trích vì đi quá nhanh, vì lúc nào cũng sẽ có kẻ muốn bạn phải giảm tốc.
Trong cộng đồng này, chúng ta thường không làm những điều lớn lao vì ta quá sợ mắc sai lầm, và việc ta không chịu làm gì khiến ta chối bỏ mọi vấn đề đang tồn tại. Thực tế là dù ta có làm gì thì tương lai vẫn sẽ nảy sinh rắc rối. Nhưng điều đó không thể ngăn cản chúng ta bắt tay vào làm gì đó.
(Bài phát biểu trong lễ tốt nghiệp của sinh viên Trường Đại học Havard, Mark Zuckerberg, 2017)
Câu 1. Chỉ ra phương thức lập luận chính được sử dụng trong đoạn trích trên.
Câu 2. Theo tác giả, hiện tượng công nghệ và tự động hóa đang xóa sổ rất nhiều công việc đã gây ra những vấn đề gì?
Câu 3. Theo anh/chị, khoảnh khắc ơ-rê-ca duy nhất mà tác giả nói tới trong đoạn trích là gì? Nhắc tới chi tiết này, Mark Zuckerberg khẳng định điều gì?
Câu 4. Anh/chị thích nhất là thông điệp nào mà Mark Zuckerberg gửi gắm trong đoạn trích trên? Vì sao?
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Từ đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn về mặt trái của công nghệ số.
Câu 2 (5,0 điểm)
Viết về hai dòng sông của đất Việt, Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường đã có những cảm nhận rất riêng:
(…) Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc b**g nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân. Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước sông Đà. Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước sông Đà không xanh màu xanh canh hến của sông Gâm, sông Lô. Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ mùa thu về (…)
(Người lái đò Sông Đà - Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục, 2009)
(…) Từ Tuần về đây, sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản để sắc nước trở nên xanh thẳm, và từ đó nó trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách, với những điểm cao đột ngột như Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo mà từ đó, người ta luôn luôn nhìn thấy dòng sông mềm như tấm lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé vừa bằng con thoi. Những ngọn đồi này tạo nên những mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời tây nam thành phố, “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” như người Huế thường miêu tả (…)
(Ai đã đặt tên cho dòng sông – Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục, 2009)
Anh/chị hãy phân tích hai đoạn trích trên.
---
ĐÁP ÁN
ĐỌC HIỂU 3.0
Phương thức lập luận chính: Thao tác lập luận phân tích 0.5
Hiện tượng công nghệ và tự động hóa đang xóa sổ rất nhiều công việc đã gây ra những vấn đề sau:
- Vì có công nghệ và tự động hóa nên số lượng người tham gia trong các cộng đồng lao động giảm sút, số việc làm cũng giảm đi: Rất nhiều người đang cảm thấy buồn thảm và lạc lõng, và đang phải cố gắng để lấp đầy khoảng trống vô nghĩa đó.
- Điều này dẫn tới việc nhiều người không có việc làm, không có mục đích sống, họ làm những việc vô nghĩa, dẫn tới phạm pháp: Họ nói với tôi rằng cuộc đời họ đã có thể khác đi nếu như họ có gì đó để làm, một chương trình sau tốt nghiệp để tham gia, hay một nơi nào đó để đi.
Như vậy, tác giả muốn nêu ra một thực trạng là nếu không có mục đích sống, không tự tạo ra mục đích cho cuộc đời mình thì sẽ dẫn tới những hành động, những kết quả đáng tiếc. 1.0
- Chi tiết khoảnh khắc ơ-rê-ca duy nhất mà tác giả nói tới trong đoạn trích là nhắc tới những giây phút xuất thần, phát hiện ra những lí tưởng, chân lí.
- Nhắc đến chi tiết này, Mark Zuckerberg khẳng định tuổi trẻ không nên chờ đợi đến giây phút nhận ra chân lí duy nhất này bởi cuộc đời vốn không có chân lí, cuộc đời cần những sai lầm để con người có thể phát triển từ những sai lầm đó. 1.0
Học sinh có thể lựa chọn cho mình một thông điệp mà học sinh cảm thấy ý nghĩa nhất, thiết thực nhất với mình, sau đó giải thích nguyên nhân một cách ngắn gọn, trung thực, trong sáng, không cường điệu. Dưới đây là một số gợi ý:
- Mark Zuckerberg khuyên mỗi người nên chấp nhận những sai lầm, và không chờ đợi một giây phút tỏa sáng duy nhất trong công việc của mình. Đây là một thông điệp vô cùng có ý nghĩa vì thường mỗi người chỉ trông chờ đến lúc nhận thành quả và tự hào về nó, mà không biết rằng mỗi thành quả đó còn rất nhiều thiếu sót, thay vì ăn mừng chiến thắng thì nên tiếp tục cố gắng để khám phá ra những chân trời mới.
- Mark Zuckerberg cũng đưa ra thông điệp về một cuộc sống có mục đích. Cuộc sống không có mục đích là cuộc sống dẫn tới những hành động vô nghĩa, thậm chí là phạm pháp. Những người sống không có mục đích là những người sống lãng phí cuộc đời mình. 0.5
LÀM VĂN 7.0
Từ đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn về mặt trái của công nghệ số. 2.0
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn
Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành. 0.25
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Xác định những hệ lụy tiêu cực của công nghệ số mang đến cho đời sống con người 0.25
c. Triển khai vấn đề nghị luận
Thí sinh lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề theo nhiều cách nhưng cần làm rõ những hệ lụy tiêu cực của công nghệ số mang đến cho đời sống con người. Có thể theo hướng sau:
- Giải thích:
+ Cuộc sống số là cách nói cuộc sống hiện đại, con người được tiếp xúc với những tiện nghi về vật chất, những thoải mái trong hoạt động, công việc, giao tiếp, trong các mối quan hệ… khi áp dụng sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật vào đời sống.
+ Cuộc sống hiện đại đem đến những tiện nghi, tiết kiệm cho con người thời gian, tiền bạc, công sức nhưng trái lại nó cũng mang tới những mặt trái không thể phủ nhận.
- Phân tích, chứng minh: Nếu không vận dụng những tiện nghi của xã hội số một cách phù hợp mà lạm dụng nó, xã hội sẽ bị kéo theo nhiều hệ lụy như sau:
+ Cuộc sống số khiến con người phụ thuộc nhiều hơn vào các thiết bị, máy móc mà quên đi sự chủ động thực hiện bằng tư duy khối óc con người. Chính máy móc khiến công việc trở nên nhanh hơn nhưng cũng khiến cho con người suy nghĩ, tư duy chậm hơn nếu lúc nào cũng phụ thuộc vào máy móc, kĩ thuật.
+ Cuộc sống số có thể khiến con người trở nên lạnh lùng, vô cảm hơn, và đôi khi trở nên cô đơn hơn, dù cho có nhiều người bạn “ảo” (dẫn chứng: Mạng xã hội khiến con người có thể kết nối với nhau nhiều hơn, nhưng cũng chính vì thế mà không phân được thật - ảo trên mạng xã hội)
+ Cuộc sống số có thể khiến con người quên đi những giá trị truyền thống (dẫn chứng: Thiệp chúc mừng, thư tay được thay bằng thiệp điện tử, email…)
- Bàn luận: Cuộc sống số là bước phát triển tất yếu của xã hội, con người cần có trách nhiệm với cuộc sống của mình để cuộc sống số phát huy được đúng ý nghĩa, vai trò như nó vốn có.
- Bài học: Rút ra bài học nhận thức và hành động cho bản thân. 1.0
d. Chính tả, dùng từ, đặt câu
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ nghĩa, ngữ pháp tiếng Việt. 0.25
e. Sáng tạo
Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận. 0.25
Viết về hai dòng sông của đất Việt, Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường đã có những cảm nhận rất riêng: […]
Anh/chị hãy phân tích hai đoạn trích trên. 5.0
a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận
Mở bài giới thiệu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề. 0.25
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Vẻ đẹp của hai đoạn văn nói về hai dòng sông của đất Việt là sông Đà và sông Hương qua hai đoạn trích trong tùy bút của Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường.
Học sinh chú ý tập trung phân tích làm sáng tỏ vẻ đẹp được thể hiện trong hai đoạn được trích dẫn, không quá sa đà vào phân tích toàn bộ tác phẩm. 0.5
c. Triển khai vấn đề nghị luận
Vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.
* Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm, vị trí đoạn trích
- Nguyễn Tuân và tác phẩm Người lái đò Sông Đà
+ Nguyễn Tuân là một trong những nhà văn xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại. Trước cách mạng, ông được biết đến với tư cách là một nhà văn lãng mạn nổi tiếng với quan niệm cái đẹp chỉ có trong quá khứ Vang bóng một thời và tài hoa nghệ sĩ chỉ có ở những con người xuất chúng của thời trước còn vương sót lại. Còn sau cách mạng, ông không đối lập quá khứ với hiện tại và cái đẹp có cả ở quá khứ, hiện tại, đặc biệt phẩm chất tài hoa có thể có ở cả nhân dân đại chúng.
+ Người lái đò Sông Đà được in trong tập kí Sông Đà, đây là một tác phẩm tùy bút có giá trị rất sâu sắc cả về văn học và xã hội. Tác phẩm này là kết quả của một cuộc hành trình lớn mà Nguyễn Tuân tìm đến Tây Bắc để tìm kiếm “thứ vàng mười của thiên nhiên và thứ vàng mười của con người lao động đã qua thử lửa”. Tác phẩm này còn đặt nền móng cho nhiều dự án mang tính lịch sử - chính trị - xã hội sâu sắc nhưng hơn hết được mệnh danh là một tác phẩm văn chương gần như đạt đến sự hoàn mĩ. Tập kí Sông Đà ra đời năm 1960, trong công cuộc xây dựng vùng Tây Bắc sau chiến tranh.
- Hoàng Phủ Ngọc Tường và tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông?
+ Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng là một trong những cây bút kí tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại. Nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa trữ tình và chính luận, sử thi hoá lịch sử và khám phá chiều sâu văn hoá của đối tượng. Chất trữ tình trong bút kí của ông xuyên thấm vào tất cả và thăng hoa thành chất thơ của ngôn ngữ.
+ Ai đã đặt tên cho dòng sông? rút từ tập bút kí cùng tên, được xuất bản năm 1984. Tập bút kí gồm tám bài viết về nhiều đề tài. Có những bài đậm chất sử thi với cảm hứng anh hùng, ca ngợi đất nước, con người Việt Nam. Có những bài thiên về miêu tả thiên nhiên, qua đó nhà văn bộc lộ lòng gắn bó với quê hương đất nước và niềm tự hào về truyền thống, văn hóa, lịch sử của dân tộc. Đặc biệt là những bài viết về Huế.
Trong số những bút kí ông đã viết, Ai đã đặt tên cho dòng sông? là bài kí độc đáo về sông Hương. Dòng sông khơi gợi cảm hứng cho thơ ca, nhạc họa đã được nhà văn cảm nhận từ nhiều góc nhìn, đặc biệt là góc nhìn tâm linh, mang những nét riêng của “văn hóa Phú Xuân”. 0.5
Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách nhưng cần đáp ứng các yêu cầu sau:
a. Điểm gặp gỡ trong cách miêu tả vẻ đẹp của hai dòng sông
- Cả hai nhà văn đều khắc họa hình tượng dòng sông với vẻ đẹp, dáng vẻ phong phú, đa dạng ở nhiều khoảng thời gian, không gian, với điểm nhìn khác nhau:
+ Dòng sông Đà được Nguyễn Tuân có lúc nhìn ngắm như một người xa lạ, có lúc lại như một cố nhân thân thuộc; có khi ngắm nhìn sông Đà từ trên cao, khi lại tiến đến cận cảnh để nhận ra rõ hơn vẻ đẹp của nó. Về thời gian, sông Đà được nhà văn chiêm ngưỡng ở cả bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông- mỗi mùa lại đem đến cho tác giả những xúc cảm, ấn tượng riêng. Qua đó nhà văn muốn đưa đến cho người đọc một cái nhìn đa dạng, toàn diện về vẻ đẹp của con sông yêu thương.
+ Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng thể hiện thành công vẻ đẹp hoàn chỉnh về nhiều góc độ của sông Hương. Nhà văn đã ghi lại được vẻ đẹp phong phú của sông Hương lúc ở thượng lưu, ở ngoại vi, ở giữa lòng thành phố Huế.
- Mỗi nhà văn lại có cách diễn đạt và cảm nhận riêng, song họ lại bắt gặp, đồng điệu tâm hồn trong sự khả năng quan sát tinh tế thông qua những liên tưởng, so sánh đầy tính tạo hình, biểu cảm.
Cả hai con sông đều được ví như những người con gái trẻ trung mang trong mình những vẻ đẹp trong sáng, tinh khôi “Con Sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình; đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc b**g nở hoa ban hoa gạo tháng hai” ; “người gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại”…
- Bằng vốn hiểu biết phong phú, bằng sự liên tưởng, tưởng tượng độc đáo các nhà văn đã vẽ lên bức tranh thiên nhiên miền sông nước với vẻ đẹp trữ tình đằm thắm tạo nên ấn tượng mạnh mẽ trong tâm hồn người đọc đồng thời làm sống dậy trong họ tình cảm yêu thương, niềm tự hào với vẻ đẹp của quê hương, xứ sở, của Tổ quốc.
b. Vẻ đẹp riêng của từng dòng sông trong mỗi đoạn trích
* Vẻ đẹp dòng Sông Đà ‘hung bạo mà trữ tình”:
- Con Sông Đà hùng vĩ dài trên năm trăm cây số, ở nơi thượng nguồn nó mang một vẻ đẹp hào hùng và thách thức, vậy mà vượt qua đoạn thượng nguồn dòng sông hoàn toàn mang bộ mặt khác: thơ mộng, trữ tình, thanh bình, yên ả; nó giống như một cô thiếu nữ xinh đẹp trút bỏ cái vẻ “đỏng đảnh” để trở về với vẻ đẹp dịu dàng lãng mạn của mình- một nét tính khác của Sông Đà đươc Nguyễn Tuân dùng ngòi bút tài hoa để miêu tả mang đậm chất trữ tình.
- Ở mỗi thời điểm khác nhau người ta lại thấy Sông Đà trong một dáng vẻ, hình hài khác nhau: “Mùa xuân dòng xanh ngọc bích chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm Sông Lô. Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn, bực bội gì mỗi độ thu về…” Dường như ở con sông Đà không có chỗ cho những cái sơ sài, tất cả đều phải là tuyệt đỉnh. Không gian lắng đọng trong vẻ đẹp của “bờ sông Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm sông Đà”.
- Sông Đà không chỉ đơn giản là một dòng sông chảy tràn qua núi rừng Tây Bắc mà trở thành một sinh thể sống động, một linh hồn tinh tế và nhạy cảm. Dòng sông Đà hùng vĩ, hiểm trở là kẻ thù, là thách thức, là một kẻ “hằng năm đời đời kiếp kiếp làm mình làm mẩy với con người” ; vượt qua đoạn thượng nguồn nó đã trở thành một cố nhân. Và khi trước cảnh: “Dải Sông Đà bọt nước lênh đênh- Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình” Sông Đà trở thành “người tình nhân chưa quen biết”…
* Vẻ đẹp của dòng sông Hương “thơ mộng và đằm thắm”
- Khi ở ngoại vi thành phố Huế nhà văn đã cảm nhận “sông Hương như một người gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại” được người tình mong đợi đến đánh thức. Từ đây thủy trình của con sông khi nó bắt đầu về xuôi tựa như một cuộc tìm kiếm có ý thức trong một câu chuyện tình yêu lãng mạn, nhuốm màu cổ tích. Dòng sông lúc này mang một dáng vóc mới đầy khát khao và lãng mạn “sông Hương đã chuyển dòng một cách liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm”.
- Hành trình đến với “người tình mong đợi” của “người gái đẹp” khá gian truân và nhiều thử thách khi nó phải vượt qua một loạt chướng ngại vật: điện Hòn Chén, vấp Ngọc Trản, đất bãi Nguyệt Biều, Lương Quán… nhưng chính trong quá trình ấy nó lại có cơ hội khoe tất cả vẻ đẹp của mình- vẻ đẹp gợi cảm với những đường cong tuyệt mĩ. Hoàng Phủ Ngọc Tường còn thấy được ở dòng sông này một vẻ đẹp khác nữa sâu lắng hơn, bí ẩn hơn đó là vẻ trầm mặc như triết lý, như cổ thi của sông Hương đi giữa thiên nhiên. Sông Hương cũng chuyển mình ngày đêm bên những lăng tẩm thành quách của vua chúa thời Nguyễn, con sông hiền hòa ở ngoại vi thành phố Huế như đang nép mình bên giấc ngủ nghìn năm của những vua chúa phong kín trong lòng…
- Nhà văn đã dành cho sông Hương một tình cảm trìu mến, thân thương. Đôi mắt sâu sắc của nhà văn đã nhìn ra mối quan hệ biện chứng giữa dòng sông Hương mềm mại với con người xứ Huế. Sông Hương dịu dàng, duyên dáng như đã góp phần hình thành nên tính cách nết na, ý nhị của người con gái cố đô. Có thể nói rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường không chỉ nhìn sông Hương trôi ở trong hiện tại, ngày ngày mang phù sa và nguồn nước ngọt trao tặng vô tư cho những cánh đồng Châu Hóa, cho cuộc sống người dân xứ Huế; mà ông còn nhìn sông Hương như là khởi nguồn cho những giá trị tinh thần lịch sử.
- Qua đoạn trích kí tài hoa, Hoàng Phủ Ngọc Tường miêu tả sông Hương với những vẻ đẹp dịu dàng, tinh tế, góp phần làm cho Huế trở nên một bức tranh sơn thuỷ hữu tình. Nó đã là một phần trong đời sống tâm linh của người Huế trầm mặc, sâu sắc.
c. Đánh giá về sự tương đồng và khác biệt giữa hai đoạn trích
- Cả hai đoạn văn cùng miêu tả vẻ đẹp phong phú và biến ảo của sông nước, cùng bộc lộ tình yêu mãnh liệt dành cho thiên nhiên xứ sở với một mĩ cảm tinh tế, dồi dào, cùng bao quát sông nước trên nền cảnh khoáng đạt của không gian, cùng được viết bởi thứ văn xuôi đậm chất trữ tình, giàu hình ảnh âm thanh và nhịp điệu. - Đoạn văn của Nguyễn Tuân trội về cảm xúc nồng nàn, cảm giác sắc cạnh, liên tưởng phong phú, so sánh táo bạo, cảnh sắc được bao quát từ nhiều góc nhìn khác nhau, theo nhiều mùa trong năm.
- Đoạn văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường trội hơn về cảm xúc sâu lắng, cảm giác gắn với suy tư, cảnh sắc được bao quát từ cùng một góc nhìn mà nương theo thủy trình để nắm bắt sự biến đổi của sông nước.
- Hai đoạn trích tạo nên ấn tượng độc đáo riêng của mỗi tác giả trong tâm hồn bạn đọc; đồng thời mang đến cho họ một cái nhìn mới mẻ, đa dạng về vẻ đẹp của thiên nhiên Tổ quốc. Qua hai đoạn tùy bút được trích trong Người lái đò Sông Đà - Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông? - Hoàng Phủ Ngọc Tường, người đọc cảm nhận thật rõ nét vẻ đẹp trữ tình đầy thơ mộng, hấp dẫn của hai con sông quê hương, bộc lộ tình yêu thiết tha, gắn bó với đất Việt của các nhà văn. 3.0
d. Chính tả, dùng từ, đặt câu
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ nghĩa, ngữ pháp tiếng Việt. 0.25
e. Sáng tạo
Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận. 0.5
---Hết---
ÔN THI TỐT NGHIỆP THPT 2023
ĐỀ DỰ ĐOÁN SỐ 02
I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu:
QUÁN HÀNG PHÙ THỦY
Một phù thuỷ
Mở quán hàng nho nhỏ:
“Mời vào đây
Ai muốn mua gì cũng có!”
Tôi là khách đầu tiên.
Từ bên trong
Phù thuỷ ló ra nhìn:
“Anh muốn gì?”
“Tôi muốn mua tình yêu,
Mua hạnh phúc, sự bình yên, tình bạn…”
“Hàng chúng tôi chỉ bán cây non.
Còn quả chín, anh phải trồng. Không bán!”
(Theo K. Badjadjo Pradip – Thái Bá Tân dịch)
Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.
Câu 2. Theo tác giả, “cây non”, “quả chín” trong bài thơ mang ý nghĩa gì?
Câu 3. Theo anh/chị, qua ước muốn mua hạnh phúc, sự bình yên, tình bạn,… ta hiểu khách là người như thế nào?
Câu 4. Anh/chị có đồng tình với quan điểm của phù thủy ở hai dòng thơ cuối bài không? Vì sao?
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Từ đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày quan điểm của mình về ý kiến: Hạnh phúc là có việc gì đó để làm, người nào đó để yêu và điều gì đó để hi vọng.
Câu 2 (5,0 điểm)
Trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài đã hai lần miêu tả tâm trạng của Mị gắn với căn buồng Mị nằm và ô cửa sổ buồng Mị. Lúc mới về làm dâu: “Ở cái buồng Mị nằm, kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng. Mĩ nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi.” Và trong đêm tình mùa xuân, khi nghe tiếng sáo gọi bạn tình: “Bấy giờ Mị ngồi xuống giường, trông ra cái cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trắng trắng. Đã từ nãy, Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước.”
(Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài, Ngữ Văn 12, Tập hai)
Phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật Mị qua hai lần miêu tả trên. Từ đó làm nổi bật sức sống tiềm tàng của Mị trong đêm tình mùa xuân.
ĐÁP ÁN
ĐỌC HIỂU 3.0
1 Chỉ ra được phương thức biểu đạt chính: Tự sự 0.5
2 Theo tác giả, “cây non”, “quả chín” là những hình ảnh ẩn dụ, hàm chứa những ý nghĩa triết lý sâu sắc.
- “Cây non”: nguyên liệu ban đầu để tạo nên hạnh phúc
- “Quả chín”: thành quả của quá trình chăm sóc, vun đắp nhằm đạt tới hạnh phúc của mỗi người
- Muốn “cây non” sinh trưởng, phát triển để đơm hoa, kết trái, con người cần tích cực chăm sóc, nuôi dưỡng. Chỉ có sức lao động, bàn tay con người mới có thể biến “cây non” thành “quả chín”. Đó là ý nghĩa của sự thu hoạch trong đời. 0.5
3 Qua ước muốn mua hạnh phúc, sự bình yên, tình bạn, ta thấy khách là người:
- Khách là người khao khát những giá trị tinh thần tốt đẹp trên đời: hạnh phúc, bình yên, tình bạn
- Khách còn là người hóm hỉnh, lời hỏi giống như một phép thử đối với quyền năng của phù thủy 0.5
4 Thí sinh có thể đồng tình hoặc không đồng tình. Dưới đây là gợi ý:
- Không ai có thể dùng tiền để mua được bình yên và hạnh phúc, kể cả tình bạn chân chính. Bởi bình yên, hạnh phúc, tình bạn đều là những giá trị tinh thần. Tiền là của cải vật chất. Mà vật chất thì không thể mua được những giá trị tinh thần cao quý và chân chính.
- Để có được thành quả, con người phải nỗ lực không ngừng. Quá trình chinh phục ước muốn cũng giống như việc trồng cây. Muốn có thành quả, ta phải bỏ ra nhiều thời gian, công sức, tâm huyết. Bình yên, hạnh phúc,… là thứ “cây non” mà mỗi người phải “trồng”, chăm sóc, vun vén để đạt được “quả chính”. Muốn đạt được hạnh phúc, con người phải nỗ lực không ngừng trong cuộc sống. 1.0
LÀM VĂN 7.0
1 Hạnh phúc là có việc gì đó để làm, người nào đó để yêu và điều gì đó để hi vọng. 2.0
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn
Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành. 0.25
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Quan niệm về hạnh phúc 0.25
c. Triển khai vấn đề nghị luận
Thí sinh lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề theo nhiều cách nhưng cần làm rõ quan niệm về hạnh phúc. Có thể theo hướng sau:
- Giải thích: Hạnh phúc, đôi khi thật đơn giản: có một công việc yêu thích, một người yêu thương quan tâm và luôn hướng về ngày mai với hi vọng tốt đẹp. Điều đó có nghĩa rằng, hạnh rằng không chỉ nằm ở mục đích, đối tượng mà là hành trình chúng ta đang đi. Hạnh phúc đôi khi là cảm nhận của chúng ta về mục đích và con đường đó. Con người đều có thể tìm thấy hạnh phúc trong đời.
- Phân tích, bàn luận:
+ Việc gì đó để làm, ai đó để yêu và điều gì đó để hi vọng: vừa là mục đích, vừa là động lực để thôi thúc con người sống ý nghĩa và nhân văn hơn.
+ Hạnh phúc, đôi khi không phải là đích đến mà là hành trình để đạt được nó của mỗi người. Khi đó, con người sẽ nghiệm ra được những bài học quý giá mà cuộc đời ban tặng.
- Bài học: tìm kiếm một công việc yêu thích, yêu thương và quan tâm tới mọi người, và không ngừng hi vọng về một ngày mai sẽ tốt đẹp hơn. 1.0
d. Chính tả, dùng từ, đặt câu
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ nghĩa, ngữ pháp tiếng Việt. 0.25
e. Sáng tạo
Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận. 0.25
2 Cảm nhận về tâm trạng của nhân vật Mị trong hai thời điểm: lúc về làm dâu nhà thống lí và đêm tình mùa xuân (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài). Từ đó, làm nổi bật sức sống của Mị trong đêm tình mùa xuân. 5.0
a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận
Mở bài giới thiệu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề. 0.25
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Sức sống tiềm tàng, mãnh liệt của nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân. 0.5
c. Triển khai vấn đề nghị luận
Vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.
* Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm, nhân vật
- Tô Hoài là nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại. Ông có vốn hiểu biết phong phú về đời sống tinh thần các dân tộc. Là cây bút có biệt tài kể chuyện hóm hỉnh với vốn từ vựng phong phú.
- Vợ chồng A Phủ nằm trong tập Truyện Tây Bắc, là kết quả chuyến đi thực tế của nhà văn theo chân bộ đội giải phóng Tây Bắc.
- Nhân vật trung tâm của tác phẩm là Mị, một cô gái có số phận bất hạnh, bị đọa đày nhưng tiềm tàng một sức sống, tinh thần phản kháng mãnh liệt và tinh thần đấu tranh tự giải phóng. 0.5
Thí sinh có thể cảm nhận theo nhiều cách nhưng cần đáp ứng các yêu cầu sau:
* Mị lúc mới về làm dâu:
- Mị bị áp bức bóc lột cả về thể chất và tinh thần trong kiếp đời con dâu gạt nợ
- Hậu quả: Mị bị chai lì cảm xúc, Mị mất ý niệm về thời gian, về sự tồn tại, về hạnh phúc. Mị dần quen với khổ đau
- Hình ảnh căn phòng tối cùng một ô cửa sổ bằng bàn tay:
+ Với gam màu xám lạnh, u tối, Tô Hoài đã cho người đọc cảm nhận được không gian sống của Mị: “Mỗi ngày, Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa. Căn buồng Mị nằm kín mít, chỉ có ô vuông bằng bàn tay trông ra chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng. Mị cứ ngồi đấy mà trông ra ngoài, đến khi nào chết thì thôi”. Đây là chi tiết nằm ở phần giữa tác phẩm, miêu tả không gian sống của Mị ở nhà thống lí Pa Tra. Sau ý định tìm lá ngón tự tử không thành vì thương cha, Mị dập tắt ngọn lửa lòng về nhà thống lí và tiếp tục chôn vùi tuổi xuân của mình trong địa ngục trần gian đó.
+ Căn buồng ấy kín mít, có ô vuông bằng bàn tay. Hình ảnh đó giàu sức gợi, khiến người ta liên tưởng đến nhà tù, một thứ ngục thất đang giam hãm đời Mị. Đó là một không gian nhỏ bé, trơ trọi đối lập với cái mênh mông, rộng lớn của đất trời Tây Bắc. Cái ngột ngạt, tù túng trong căn buồng Mị nằm đối lập với một thế giới bên ngoài lồng lộng của mây trời, gió núi, của hương hoa rừng Tây Bắc, nó đối lập với cái giàu có, tấp nập của nhà thống Lí Pá Tra. Nó không phải là căn buồng của cô con dâu nhà giàu có nhiều tiền nhiều thuốc phiện nhất vùng mà đó là chỗ ở của con ở, thậm chí không bằng con ở. Căn buồng ấy giống như một miền đời bị quên lãng.
+ Trong căn buồng ấy, chân dung số phận khổ đau của đời Mị được nhà văn khắc họa thật rõ nét: Mị sống câm lặng như đá núi “không nói”, lầm lũi, chậm chạp trơ lì như con rùa quẩn quanh nơi xó cửa. Nếu ở trên, Mị có lúc tưởng mình là con trâu con ngựa – nhưng hình ảnh đó mới chỉ gợi nỗi khổ cực vì lao động vất vả thì hình ảnh “con rùa” có sức ám ảnh mang ý nghĩa về thân phận bị đè nén, bị bỏ quên. Mị mất hết ý niệm về không gian, thời gian: chỉ thấy trăng trắng không biết là sương hay là nắng. Cuộc sống của Mị không có sắc màu, âm thanh, không có cả ngắn dài thời gian, không chia biệt đêm ngay.
+ Không chỉ có thể, Mị còn không có ý thức về sự sống đợi đến bao giờ chết thì thôi. Phải chăng thứ ngục thất tinh thần ấy đã làm héo mòn, tàn úa từng ngày từng tháng tâm hồn Mị. Mị sống như loài thảo mộc cỏ cây không hương không sắc, lay lắt, dật dờ, vô hồn, vô cảm. Không còn nữa một cô Mị đẹp như đóa ban trắng của núi rừng Tây Bắc vừa thắm sắc, đượm hương, một người cô Mị khao khát tình yêu và tự do có ý thức sâu sắc về quyền sống, từng thiết tha xin cha “đừng gả con cho nhà giàu”, từng có ý định ăn lá ngón là kết thúc chuỗi ngày sống mà như chết. Như vậy, vượt lên trên nghĩa tả thực về không gian sống của Mị, căn buồng ấy là biểu tượng cho ngục thất tinh thần, địa ngục trần gian giam cầm khát vọng sống, khát vọng tự do của đời Mị.
+ Chi tiết đó đã góp phần thể hiện tư tưởng, thái độ của nhà văn. Nhà văn đã tố cáo sâu sắc chế độ cai trị miền núi đã đầy đọa con người, làm tê liệt quyền sống, quyền khao khát hạnh phúc của họ. Đồng thời, Tô Hoài bày tỏ tấm lòng xót xa thương cảm cho số phận người phụ nữ vùng núi cao Tây Bắc khi Cách mạng chưa về. Đó cũng là cảm hứng nhân đạo quen thuộc trong văn học
* Mị trong đêm tình mùa xuân:
- Sự tác động của bối cảnh bên ngoài đối với Mị trong đêm mùa xuân. Mùa xuân năm ấy ở Hồng Ngài đẹp và gợi cảm biết bao: “Trên đầu núi, các nương ngô, nương lúa gặt xong, ngô lúa xếp yên đầy các nhà kho. Trẻ con đi hái bí đỏ, tinh nghịch, đã đốt những lều canh nương để sưởi lửa... Hồng Ngài năm ấy ăn tết giữa lúc gió thổi và cỏ ranh vàng ửng... Trong các làng Mèo, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mỏm đá xoè như con bướm, sặc sỡ... Đám trẻ đợi Tết, chơi quay, cười ầm trên sân trước nhà. Ngoài đầu núi lấp ló đã co tiếng ai thổi sáo tủ bạn đi chơi”. Chính không gian rộn rã sắc màu cùng tiếng sáo tha thiết đã đánh thức cô Mị ngày xưa. Tiếng sáo như chạm vào nỗi nhớ. Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bồi hồi. Mị ngồi nhẩm lại bài hát của người đang thổi...
- Mùa xuân đó đầy sắc màu, rộn rã âm thanh. Điều ấy xa lạ với không gian trong căn phòng bé nhỏ của Mị, nhưng gần gũi với thế giới mà Mị đã từng sống rất hạnh phúc. Chúng gợi cho Mị nhớ lại thời xa xưa. Ngày xưa, Tết Mị uống rượu. Bây giờ, Mị cũng uống rượu. Rồi Mị say
- Mị nhìn ra cửa sổ, trong lòng thấy phơi phới trở lại như những đêm Tết ngày trước.
- Sự đối lập giữa hoàn cảnh đêm xuân, giữa thế giới được đánh thức với cuộc sống thực tại: Khi say, Mị nhớ và sống lại với ngày xưa, nhưng thực ra, Mị vẫn đang ở nhà thống lý Pá Tra. Mị vẫn đang sống kiếp đoạ đày với A Sử. Sự đối lập giữa một bên là hạnh phúc tuổi trẻ với một bên là kiếp sống trâu ngựa đã khiến Mị suy nghĩ đến việc kết liễu đời mình như ngày mới về làm dâu nhà thống lý. Mị lại ước gì có nắm lá ngón trong tay, Mị sẽ ăn cho chết ngay chứ không buồn nhớ lại nữa. Càng nhớ lại chỉ thấy nước mặt ứa ra. Ôi chao, tiếng sáo ấy, tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường. Mị đang muốn quên đi, Mị không muốn nhớ lại cái ngày trước mà không được. Tiếng sáo ấy lửng lơ, tiếng sáo ấy làm Mị thiết tha bổi hổi. Mị muốn đi chơi. Mị muốn thoát ra ngoài cái ô cửa ô mờ đục, trăng trắng này! Ô cửa sổ bằng bàn tay đó còn là biểu tượng của hi vọng. Khi ý thức và lòng khao khát sống trỗi dậy mãnh liệt, nó trở thành cánh cửa đưa Mị thoát khỏi chốn tù ngục giam hãm tâm hồn bấy lâu.
* Sự hồi sinh của sức sống tiềm tàng trong con người Mị.
-Vẫn là cửa sổ ấy, nhưng khi sức sống và lòng yêu đời trỗi dậy, Mị không tưởng tượng mình sẽ chết già một cách vô nghĩa mà thấy lòng vui phơi phới trở lại. Ngoại cảnh (tiếng sáo) tác động tới tâm hồn Mị, khiến Mị bừng tỉnh. Nhưng tâm cảnh (cảm xúc của Mị) cũng quyết định tính chất của ngoại cảnh.
- Cuộc trỗi dậy lần thứ nhất của Mị không thành. Mị không thoát khỏi căn nhà ấy, dù chỉ một phút giây. Nhưng Mị đã không còn là con ngựa, con rùa lùi lũi nơi xó cửa nữa. Mị đã sống lại những thời khắc của tuổi thanh xuân tươi trẻ và tự do. Vì thế, khi bị A Sử trói, lúc bàng hoàng tỉnh, Mị chợt nhớ đến câu chuyện một người đàn bà trong nhà này bị trói đến chết không ai hay. Và, Mị sợ quá, Mị còn muốn sống, Mị còn ham sống.
- Cuộc trỗi dậy như một đợt sóng dâng lên rồi tràn ra. Nó không làm mảy may thay đổi cuộc đời Mị. Nhưng từ đó, sóng ngầm vẫn không mất. Nó sẽ tuôn trào thành những đợt sóng mới, mãnh liệt hơn lúc nào hết, bằng chứng là hành động cởi trói cho A Phủ và cùng anh ta trốn khỏi Hồng Ngài sau này.
* Đánh giá: Sự hồi sinh của Mị chứng tỏ sức sống bền bỉ của người lao động trước sự vùi dập của những thế lực bạo tàn. Qua đó, ta cảm nhận được sâu sắc ngòi bút nhân đạo và nghệ thuật khắc họa tâm lí sắc sảo của nhà văn Tô Hoài. 3.0
d. Chính tả, dùng từ, đặt câu
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ nghĩa, ngữ pháp tiếng Việt. 0.25
e. Sáng tạo
Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận. 0.5
---Hết---
Click here to claim your Sponsored Listing.
Location
Category
Contact the school
Website
Address
Hanoi