Nhat ngu Akari -cô Thu Hào Nam

Nhat ngu Akari -cô Thu Hào Nam

Share

Với kinh nghiệm gần 10 năm ở Nhật và hơn 15 năm giảng dạy Tiếng Nhật từ 2005, cô Thu- Hào Nam chuyên dạy N1, n2 và các lớp nói dịch

Akari chuyên về luyện thi N1- N2 - N3. Các lớp hội thoại trình độ n2 trở lên. Dịch nói, viết, văn phòng.

Photos from Nhat ngu Akari -cô Thu Hào Nam's post 07/09/2024

Thực ra bình thường rất ít khi đăng ảnh các học sinh báo đỗ, đơn giản vì lúc nào cũng muốn các bạn hiểu, thi cử là để đánh giá năng lực của mình chứ không phải đích đến cuối cùng của việc học ngôn ngữ.

Học ngôn ngữ để sử dụng được, để hỗ trợ cho bản thân mình giao tiếp, trao đổi và mở rộng tri thức tốt hơn.

Đỗ thì mừng mà trượt thì có thêm nhiều cơ hội để cố gắng.

Photos from Nhat ngu Akari -cô Thu Hào Nam's post 08/08/2024

Khi đến Nhật bạn dễ dàng bắt gặp hình ảnh những pho tượng đá nhỏ xinh mang hình thù trẻ em, hoặc giống như chú tiểu, có đội nón hoặc đeo yếm đỏ, bạn có tự hỏi đó là tượng ai không ạ?
Đó chính là Tôn tượng của Ngài Địa Tạng Bồ Tát đó các bạn.
Vậy thì tại sao hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng ở Nhật lại khác xa ở Việt Nam vậy? Trong khi ở nhà mình tôn tượng của Ngài là cao lớn, trang nghiêm, một tay cầm tích trượng dộng tan của ngục cứu chúng sinh, một tay cầm viên minh châu như ý nhỉ???
Nhân dịp tháng Vu Lan, mời các bạn cùng mình tìm hiểu về Ngài Địa Tạng nhé.
Tháng Vu Lan là tháng nêu cao hạnh hiếu thảo của những người con dành cho bậc sinh thành, mà cụ thể là tấm gương của Đức Mục Kiền Liên, người đại đệ tử của Đức Phật đã cứu mẹ đang đọa trong Địa Ngục khổ đau như thế nào qua Kinh Vu Lan Bồn, mà mỗi dịp Vu Lan mình thường tổ chức cho các bạn học sinh tụng đọc hay chép Kinh. Thế nhưng bên cạnh đó, Ngài Địa Tạng Bồ Tát cũng là một tấm gương tuyệt vời mà chúng ta phải học hỏi về đạo hiếu đó các bạn ạ.
Theo Kinh Bổn Nguyện của Địa Tạng Bồ Tát, ta thấy có hai câu chuyện nói về tiền kiếp của Ngài Địa Tạng, ở đó ngài sanh làm một người con gái và đã cứu mẹ mình. Ở câu chuyện đầu tiên, ngài tái sanh làm con gái của một gia đình Bà-la-môn sống vào một thời kỳ xa xưa. Cô gái cầu nguyện trước tượng Phật và Đức Phật hiện ra hứa rằng Ngài sẽ chỉ cho cô thấy mẹ cô hiện ở đâu và cách để cứu bà. Tuy nhiên, cô gái phải trở về nhà, ngồi xuống niệm danh hiệu ngài nhiều lần. Cô gái làm theo như vậy và thần thức của cô được đưa đến cảnh giới địa ngục, ở đó cô gặp một người canh cửa và vị này bảo với cô rằng, nhờ vào sự cầu nguyện và bố thí của cô, mẹ của cô có được phước đức và nhờ đó đã sanh về cõi trời. Nhưng cảnh tượng những vong hồn khác đang chịu khổ đau đã giày vò tâm can cô nên cô đã phát một thệ nguyện là cứu vớt tất cả họ ra khỏi địa ngục
Ở câu chuyện thứ hai, Địa Tạng cũng là một cô gái Bà-la-môn. Cô gái thỉnh cầu một vị Thánh tăng giúp cô tìm kiếm mẹ mình; và vị Thánh tăng thấy rằng mẹ của cô đang chịu khổ đau cùng cực nơi địa ngục. Ngài hỏi cô gái mẹ của cô đã tạo tội gì để rồi phải phải chịu hình phạt như vậy. Cô gái trả lời rằng bà rất ham thích thịt và sát sinh cá trạch và trạch con nhiều vô kể, và vì vậy đã tước đoạt rất nhiều sinh mạng chúng sinh. Vị Tăng bảo cô gái nên họa vẽ và tạo tác nhiều tôn tượng Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai, thờ phụng và niệm danh hiệu Ngài để giải trừ tội của mẹ mình. Sau đó người mẹ thác sanh trong nhà cô dưới thân phận con của một người ở, và bà cũng chỉ thọ mạng ngắn ngủi đến năm 13 tuổi lại đọa tiếp vào địa ngục, sau đó cô cũng vì mẹ mà phát thệ nguyện rộng lớn cứu khắp các hàng chúng sinh chịu khổ trong địa ngục.
Vậy là Ngài Địa Tạng Bồ Tát là một vị Bồ Tát hiện hữu ở Địa ngục để cứu khổ cho các chúng sinh đang bị hành hạ trong đó.
Ngoài ra, trong Kinh cũng nhắc tới việc Ngài cứu độ cho trẻ em. Trong một đoạn kinh khác, khi tán thán về công năng và oai lực của Bồ Tát Địa Tạng, Phật đã tuyên thuyết cùng Bồ tát Phổ Quảng:
“Lại vầy nữa, nầy Phổ Quảng! Về trong thuở về sau này , nơi cõi Diêm Phù Đề, trong hàng Sát Đế Lợi, Bà La Môn, Trưởng Giả, Cư Sĩ, tất cả các hạng người, và những dân tộc giòng họ khác, như có người nào mới sanh đẻ hoặc con trai hoặc con gái, nội trong bảy ngày, sớm vì đứa trẻ mới sanh đó mà tụng kinh điển không thể nghĩ bàn này, lại vì đứa trẻ mà niệm danh hiệu của Ngài Địa Tạng Bồ Tát đủ một muôn biến. Được vậy thời đứa trẻ hoặc trai hay là gái mới sanh ra đó, nếu đời trước nó có gây ra tội vạ chi cũng đặng thóat khỏi cả, nó sẽ an ổn vui vẻ dễ nuôi, lại thêm được sống lâu. Còn như nó là đứa nương nơi phước lực mà thọ sanh, thời đời nó càng được an vui hơn cùng sống lâu hơn.”
Chăm lo cho hạnh phúc trẻ thơ chưa đủ, Bồ Tát Địa Tạng còn chăm lo đến số phận của những trẻ thơ bất hạnh đã lìa đời ngay lúc còn thơ ấu, hoặc vì lý do nào đó đã chết khi đang còn là một bào thai ở trong bụng mẹ. Chết yểu, theo quan niệm của người Á Đông là một điều bất hạnh. Càng bất hạnh hơn nữa theo quan điểm Phật giáo là vì trẻ thơ chưa có ý niệm về sự sống, chết; thế nên trong giai đoạn thân trung ấm, thần thức của chúng vẫn còn lảng vảng chung quanh những người thân yêu như cha mẹ anh chị em, không chịu rời bỏ căn phòng và ngôi nhà mà chúng đã từng sinh sống. Hàng ngày chúng tiếp xúc với họ, nói chuyện với họ và cảm thấy rất đau khổ vì những người thân yêu này hầu như không ai nghe lời chúng, không có vẻ gì quan tâm đến chúng cả. Chúng thật là cô đơn, buồn tủi và rất đáng tội nghiệp. Chúng ta đừng vội nghĩ một cách đơn giản rằng vì trẻ con ngây thơ trong trắng, trong đời chúng chưa hề gây ra một ác nghiệp nào nên khi chết là có thể được sanh về những cảnh giới tốt đẹp. Sự thật không phải như vậy.
Vậy những linh hồn trẻ thơ này sẽ đi về đâu trong và sau giai đoạn thân trung ấm và Bồ Tát Địa Tạng làm thế nào để cứu giúp chúng?
Theo sự tin tưởng của người Phật tử Nhật Bản, lứa tuổi trẻ con vì trí óc còn non nớt chưa phát triển nên không thể phân biệt được phải trái cũng như không thể thấu hiểu được những giáo lý của đạo Phật. Dĩ nhiên vì không thông hiểu giáo lý, chúng không thể tu tập để đạt đến giác ngộ - vì thế nên tuy ngây thơ vô tội, sau khi từ giã cõi đời chúng không thể sanh vào cảnh giới Phật. Ngược lại chúng bị rơi vào cõi u minh mờ mịt. Huyền thoại Á Đông thường đề cập đến một dòng sông mà người chết trong giai đoạn thân trung ấm cần phải vượt qua, đó là sông Nại hà.
Theo truyền thuyết của Nhật Bản, những trẻ con yểu tử sau khi chết đều tụ tập ở bên bờ sông này. Do lòng thương nhớ khôn nguôi đến những người thân yêu, tại đây chúng nhặt những hòn đá cuội sắp xếp thành những ngôi nhà để tưởng nhớ đến cha mẹ, anh chị em. Khi hoàn tất xong một cái, chúng bảo rằng: “Cái nhà này là của mẹ, người bảo bọc tôi. Cái nhà này là của cha, người nắm tay tôi dẫn dắt tôi trên đường đời. Cái này là của anh, chị, em tôi...”
Một số huyền thoại cho rằng chính trong lúc này Bồ Tát Địa Tạng đã hiện ra để chơi với chúng, khuyến khích, tiếp tay xây dựng những ngôi nhà trẻ con này hầu giúp chúng tích lũy công đức để nhờ đó có thể vượt qua dòng sông Nại hà, trong khi chờ đợi chúng lớn khôn với đầy đủ trí phán đoán để có thể đi đầu thai sang kiếp khác. Tuy nhiên trong số những truyền thuyết này, cũng có chuyện đã kể lại một cách thương tâm và ghê rợn hơn. Truyện mô tả là không khí bên bờ sông Nại hà rất là đìu hiu và thê lương, trẻ con thì không ngớt khóc than vì không còn cha mẹ để nương tựa, bám víu. Trong lúc này một mụ phù thuỷ độc ác tên là Datsuba với một con mắt cháy đỏ hung dữ hiện ra, lột hết áo quần của tất cả bọn chúng treo lên cành cây. Mụ không ngớt nguyền rủa chúng là do chết yểu nên chúng đã không hoàn tất bổn phận của người con là phải săn sóc, giúp đỡ cha mẹ lúc cha mẹ già yếu. Để bù lại, mỗi ngày mụ bắt chúng phải ở trần truồng xây những căn nhà bằng đá cuội như là một sự trừng phạt. Nhưng rồi cứ mỗi buổi chiều tối, khi những căn nhà đã sắp hoàn thành xong thì một bầy quỉ hung ác khác, đầu sừng răng nanh hiện ra, dùng gậy sắt đập phá hết tất cả những công trình xây dựng của bọn trẻ, miệng không ngừng la lối nạt nộ: “Khốn nạn cho tụi bây chết trước cha mẹ! Tụi bây đâu đã biết cầu nguyện là gì!!”
Chính lúc này thì Bồ Tát Địa Tạng hiện ra và bọn trẻ trong lúc đang kinh hoàng vội vàng chạy đến chui vào tăng bào của Ngài để tìm chỗ ẩn trốn. Những đứa nhỏ hơn vì chạy không kịp đến trễ thì vội đeo vào cánh tay hay thiền trượng của Ngài. Bồ Tát Địa Tạng liền an ủi vỗ về chúng: “Không có gì các con phải sợ hãi cả. Từ đây ta là Mẹ là Cha của các con.” Bọn quỉ đã xúm lại đòi Bồ Tát Địa Tạng phải trao đám trẻ con lại cho chúng, nhưng Ngài đã dùng uy lực của mình phóng ra những vầng hào quang rực rỡ khiến bọn chúng đều khiếp sợ bỏ đi. Huyền thoại này của người Nhật đã mô tả lại những nỗi khổ đau mà ngay cả một đứa trẻ nhỏ bé ngây thơ vô tội cũng phải gánh chịu ở thế giới bên kia và chỉ có Bồ Tát Địa Tạng là người duy nhất đã cứu vớt những linh hồn bé nhỏ đó.
Chính vì tin tưởng vào dòng sông Nại hà này cũng như vào Bồ Tát Địa Tạng mà người Nhật Bản trong hàng thế kỷ qua đã xây dựng lên rất nhiều đền đài, lăng tẩm để thờ Ngài dọc theo các bờ sông hay các ghềnh đá bên cạnh bờ biển, mà một địa điểm nổi tiếng là “Sai (Nại hà) no kawara” được xây dựng từ thời Edo. Tại đây những người cha mẹ đau khổ vì mất con đã đến sắp xếp những mộ tháp bằng đá cuội, hoặc đặt vào đó những viên đá nhằm tưởng niệm những đứa con đã qua đời trước bức tượng của Bồ Tát Địa Tạng. Có nơi người ta sắp xếp hàng trăm bức tượng nhỏ khuôn mặt của Bồ Tát Địa Tạng cùng với đồ chơi trẻ con xen kẽ bên cạnh những hòn đá tưởng niệm. Lâu ngày, những mộ tháp càng lớn dần lên do những người tin tưởng đến viếng thăm bỏ thêm vào những viên đá, không phải chỉ để tưởng nhớ đến những đứa con thân yêu của mình mà cho cả những linh hồn của những trẻ thơ bất hạnh đã đi qua cõi đời này kể cả những trẻ đã chết ngay từ lúc chưa sinh.
Bồ Tát Địa Tạng, như đã nói ở trên, không phải chỉ là vị Bồ Tát bảo vệ trẻ con mà theo truyền thuyết của Nhật Bản, đặc biệt là dưới thời đại Hean, đã xuất hiện dưới hình dạng của một đứa trẻ. Triều đại Hean có thể được coi như là một triều đại đen tối trong lịch sử Nhật bản. Chiến tranh, xã hội rối loạn, tai ương và dịch bệnh lan tràn khắp nơi tạo nên bao thảm cảnh đau thương khốn khổ cho mọi người. Những tín đồ Phật tử thuần thành tin rằng đây là giai đoạn mạt pháp đã đến và trước những thảm cảnh này, may ra chỉ có những năng lực thần linh mới có thể cứu vãn được. Thế là người ta dốc lòng tin tưởng vào năng lực cứu độ của Bồ Tát Địa Tạng, và câu chuyện đã được truyền tụng như sau:
Dưới triều đại của Hoàng đế Go-Ichido, bệnh đậu mùa bộc phát và lan tràn nhanh chóng. Lưỡi hái của tử thần đã cuốn đi không biết bao nhiêu là sinh mạng. Nó không chừa bỏ bất cứ ai, bất kể quan hay dân, người qúy tộc hay kẻ bần hàn. Trước nỗi khổ đau lớn lao này của nhân sinh, với lòng từ bi vô lượng, một nhà sư tên Ninko không biết làm cách gì khác hơn là cầu nguyện đến sự giúp đỡ của Bồ Tát Địa Tạng. Đêm đó trong giấc mơ nhà sư Ninko trông thấy một đứa trẻ với khuôn mặt thanh tú xuất hiện, nói với ngài: “Nay thì nhà ngươi đã thấy rõ sự vô thường của kiếp sống”. “Vâng, những người tôi vừa mới gặp mới nói chuyện với họ hồi sáng đây, tối lại đã mất rồi. Ngay cả chúng ta đang hạnh phúc hôm nay nhưng ngày mai những khổ đau, thương tâm sẽ xảy đến. Không có gì là vĩnh cửu”, sư Ninko trả lời.
Đứa trẻ mỉm cười: “Không có gì để phải than trách trước những đau thương của kiếp sống. Có lúc nào mà con người lại không có những khổ đau? Nếu một người muốn giải thoát khỏi những nỗi khổ đau, họ nên nghe theo những lời dạy của Bồ Tát Địa Tạng”.
Sư Ninko tỉnh giấc và vội vàng chạy đến tìm Kojo, nhà điêu khắc tượng nổi tiếng ở địa phương và nhờ ông ta đúc một pho tượng Bồ Tát Địa Tạng. Khi bức tượng hoàn thành, sư Ninko tổ chức một buổi lễ khánh thành và thuyết giảng một thời pháp về giáo lý và công năng của Bồ Tát Địa Tạng. Tất cả những người có mặt tại ngôi chùa, và tất cả những ai đến tham dự buổi lễ khánh thành này đều thoát qua khỏi kiếp nạn đậu mùa.
Tháng Bảy là tháng của Bồ Tát Địa Tạng. Truyền thống Phật giáo Trung Hoa và Việt Nam đã chọn ngày Rằm tháng Bảy là ngày lễ Vu Lan và theo niềm tin tưởng của Phật tử Á Đông, đây cũng là ngày “Xá Tội Vong Nhân” ‘ tức là ngày các vua Diêm vương mở cửa ngục cho các hồn ma được thong thả rong chơi, hoặc những hồn ma đói khát có cơ hội được đi kiếm ăn sau một năm trời bị dày vò thiêu đốt bởi đói khát trong địa ngục.
Trong khi đó Phật giáo Nhật Bản chọn ngày 24 tháng Bảy Âm lịch là ngày vía của Bồ Tát Địa Tạng và cũng là ngày lễ hội truyền thống của trẻ thơ. Đây là ngày hội dành cho trẻ em dưới mười ba tuổi cùng với những người lớn cùng tham dự để bày tỏ lòng biết ơn đến Bồ Tát Địa Tạng, cũng như nhắc nhở đến sứ mệnh thiêng liêng của Ngài là bảo vệ trẻ thơ vượt qua giai đoạn khó khăn nhất của đời người.
Theo thông lệ, sáng ngày 24 một cái rạp được dựng lên trước đền thờ hay bức tượng của Bồ tát Địa Tạng. Nếu là một nơi dân cư đông đúc, ngôi nhà gần nhất cạnh đó sẽ được tăng cường thêm để có đủ chỗ cho lễ hội. Trong ngày này, bàn thờ và tôn tượng của Bồ Tát được lau chùi sạch sẽ, sau đó người ta quấn những lá cờ hai màu đỏ trắng chung quanh tôn tượng của Ngài. Trước mỗi nhà, người ta treo những lồng đèn màu đỏ trên đó ghi giòng họ của mỗi gia đình. Những lồng đèn này sẽ được thắp sáng vào buổi tối tạo nên một màu hồng lung linh huyền ảo trong suốt các ngả đường trong đêm lễ hội.
Từ sáng sớm tinh mơ, dân chúng địa phương mang hoa quả, trà bánh, và nhang đèn đến để cúng lễ Bồ tát Địa Tạng. Sau đó trẻ con tụ hội và vui chơi ăn uống suốt ngày. Tối đến người ta tham dự những cuộc đốt pháo và ăn dưa hấu. Cha mẹ và trẻ con trong những bộ y phục kimono sặc sỡ cổ truyền cùng tham dự vui chơi và đây cũng là dịp giao tế làm nẩy nở tình thân giữa bà con xóm giềng ở trong vùng. Lễ hội “Jizo bon” này cũng là dịp mà con trẻ tận hưởng những ngày hè tươi đẹp cuối cùng vì sau đó chúng bắt đầu trở lại trường học.
Tuy là một ngày hội dành cho thiếu nhi vui chơi nhưng Phật tử Nhật Bản đã biến dịp này thành một ngày lễ hội thắm đượm ý nghĩa tích cực của tôn giáo.
Ngoài hình ảnh Ngài Địa Tạng Bồ tát với gương mặt trẻ thơ, chúng ta còn dễ dàng bắt gặp hình tượng Ngài với biểu mẫu tiêu biểu nhất của Địa Tạng: Rokudo Jizō ((六道地蔵/ Lục đạo Địa Tạng; sáu bức tượng Bồ-tát Địa Tạng được đặt cùng trên một dãy, mỗi tượng tượng trưng cho mỗi cấp độ chuyển tiếp của con người). Những pho tượng được đặt ở bất cứ nơi đâu, nơi giao lộ, trước khu đền chùa, nghĩa trang vv… với tâm niệm cầu mong sự che chở của Ngài.
Để tán thán công năng cứu độ chúng sanh không thể nghĩ bàn của Bồ Tát Địa Tạng, người dân Nhật đã tạo ra không biết bao nhiêu những truyện tích, huyền thoại để nói về Ngài. Với khuôn mặt dịu hiền khả ái và trên môi như luôn luôn điểm một nụ cười, hình ảnh của Ngài đã hoà nhập vào tất cả mọi nền nếp suy nghĩ, những lo âu trong cuộc sống đời thường của dân chúng Nhật Bản. Hình ảnh của Ngài làm người ta liên tưởng đến hình ảnh của một vị y sĩ vùng quê sẵn sàng có mặt bất cứ lúc nào cho bất cứ ai cần đến trong cơn đau đớn, sợ hãi, âu lo, hoạn nạn dù lớn hay nhỏ. Cho đến bây giờ, không phải chỉ ở vùng quê mà ngay tại những thành phố, kể cả những thành phố lớn đông đúc rộn rịp như Đông Kinh hay cố đô Kyoto, nếu bạn cần đến sự giúp đỡ của Bồ Tát Địa Tạng, có lẽ bạn cũng không cần phải đi đâu xa, bởi vì chỉ cách một vài góc phố, vài ngả tư đường người Nhật lại dựng lên một bàn thờ nhỏ thờ Bồ Tát Địa Tạng, mà trên đó là những bó hoa tươi thắm, những phẩm vật cúng dường đơn sơ nhưng chan chứa những tình cảm trân trọng: vài viên kẹo, dăm trái quýt, và đôi khi cả những chén rượu sake... Những bàn thờ này luôn luôn được chăm sóc sạch sẽ bởi cư dân địa phương, điều này đã nói lên những tình cảm tin tưởng trân quý của người Phật tử Nhật Bản luôn luôn hướng về Ngài. Ở những nơi thờ phụng lớn hơn, người ta còn thấy Phật tử dâng cúng lên Ngài những bộ áo quần trẻ con, những đôi giày, dép Nhật Bản, vì người ta tin tưởng rằng Bồ Tát Địa Tạng đã phải đi mòn không biết bao nhiêu là gót giày, tất bật tới lui không ngừng trên khắp nước Nhật để an ủi, săn sóc bất cứ những ai cần đến Ngài giúp đỡ. Đây có thể nói là một trong những nét độc đáo, đầy ý nghĩa của Phật giáo Nhật Bản.

Photos from Nhat ngu Akari -cô Thu Hào Nam's post 05/08/2024

Mời các bạn cùng mình sống một ngày với người dân bộ tộc Ainu nào!
Mình vốn là người rất thích tìm hiểu văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số, nhưng có mơ mình cũng không nghĩ có ngày được gặp người Ainu thật sự.
Sáng hôm đó chồng bảo sẽ cho đi tới một nơi hay ho, mình cũng không hỏi là nơi nào, chỉ cần nhớ phương tiện sống còn của mình là hộp obento cơm chay mà mình đã cắt thêm rất nhiều rau củ ngon lành, nhét thêm quả chuối, và quàng cái khăn vì trời hơi se lạnh, rồi lên đường.
Lại nói đến các dân tộc ở Nhật, thì Dân Ainu là một trong 3 số họ. Đã ở Nhật mà nhắc đến dân tộc thiểu số là ai cũng nghĩ đến dân tộc Ainu, mặc dù thực ra còn một dân tộc nữa là dân Ryukyu sống ở Okinawa.
Văn hóa Ainu bắt đầu vào khoảng năm 1.200 của Công Nguyên, thực ra vốn họ không phải người Nhật. Họ sống ở khu vực Hokkaido.
Bước ngoặt cho văn hóa Ainu xảy ra vào đầu thời kỳ đầu của cuộc cải cách Minh Trị năm 1868. Đó là khi chính phủ Nhật Bản thực hiện những cải cách về văn hóa, chính trị, kinh tế với hy vọng hiện đại hóa đất nước theo kiểu phương Tây, điều này dẫn đến việc Hokkaido bị thuộc địa hóa. Sau những liên hệ đầu tiên với những người nhập cư, một lượng lớn người Nhật Bản đã dần chuyển tới định cư tại lãnh thổ của người Ainu. Việc này đã lập tức gặp phải sự phản kháng – giữa người Ainu và người Nhật. Năm 1899, chính phủ Nhật Bản thông qua đạo luật gọi người Ainu là người thổ dân cũ, với ý tưởng sẽ đồng hóa người Ainu - điều này dẫn đến việc đất đai của người Ainu đang sống bị chính phủ Nhật Bản chiếm giữ và từ đó nắm quyền kiểm soát . Cũng vào thời điểm này, người Ainu được trao quyền công dân Nhật Bản, qua đó phủ nhận họ là người bản địa. người Nhật coi họ như kiểu thổ dân ấy, và nhìn vẻ bề ngoài họ khác người Nhật lắm .Người Ainu ngày càng gặp phải sự phân biệt đối xử ngay trên mảnh đất của mình , bởi vậy Người Ainu hiện có xu hướng kết hôn với người Nhật Bản nhằm giảm bớt sự phân biệt đối xử cho con cháu của họ.
Cho đến tận bây giờ khi mình gặp thế hệ con cháu của họ, mặc dù đã có sự thay đổi qua nhiều thế hệ hôn phối giữa người Ainu và người Nhật, họ vẫn mang một nét rất riêng biệt, mộc mạc, thật thà, không biết tả sao nhưng nhìn là thấy khác biệt à.
Người Ainu rất đặc sắc trong nghề thủ công mỹ nghệ, trang phục hay âm nhạc dân gian, độc đáo nhất phải kể tới các hoạt động gắn bó với tự nhiên như lễ hội Marimo và tập tục nuôi gấu. Từ ngày xửa ngày xưa từ vỏ cây thô sơ, họ xe thành sợi đay, rồi từ đó bện thành thừng, dệt may quần áo bằng một chất vải thô, mà mượt mà đẹp gấp vạn Linen của chúng ta giờ. Rồi mình bị cuốn hút bởi những hoa văn trên những bộ trang phục đó, phải nói là rất đặc sắc, mang đậm bản chất dân tộc và tinh tế từng đường kim mũi chỉ.
Mình đã tìm đến với nhiều sản phẩm thủ công của các dân tộc Việt Nam, các bộ quần áo dân tộc cũng có những nét văn hóa riêng, nhưng về độ trau chuốt cầu kỳ tinh tế, mình không thể sánh với Nhật được. Phải nói người Nhật (trong đó có người Ainu), họ rất cầu toàn khi chế tác bất cứ thứ gì, không một sợi chỉ thừa, không một chút xộc xệch. Cầm sản phẩm lên là thấy độ tỉ mỉ và độ bền chắc rồi. Còn đồ của nhà mình, thật tiếc là đường kim mũi chỉ vẫn xộc xệch lắm. đồ tre đan lát (trừ của các nghệ nhân) thì nhìn chung là cầm không khéo dễ bị đâm đứt tay bởi những mối cắt ẩu.
Trước đây, nguồn thức ăn chính của người Ainu là từ việc săn bắt, câu cá do đàn ông phụ trách hoặc hái lượm rau dại, nấm, các loại quả mọng trong rừng mà chủ yếu là do phụ nữ kiếm được. Việc chế biến, nấu chín thức ăn cũng đơn giản với mỡ động vật, tảo và muối. Quần áo người Ainu mặc làm từ da động vật, da cá hoặc dệt từ vỏ cây.
Lần đầu mình nhìn thấy một đôi giày làm từ da cá, chứ không phải da trâu hay gì đó.
Một người phụ nữ Ainu đã nói với mình như sau “Chúng tôi ngày xưa làm gì có siêu thị như bây giờ , nên phải sống bằng săn bắn hái lượm thôi. Thức ăn chính của chúng tôi là gấu, nhưng chúng tôi không coi gấu là động vật. Đó là các kamisama (vị thần) biến hóa ra để cho chúng tôi được tồn tại thôi. Và cô ấy gọi gấu bằng một cách kính trọng “sama”, kiểu như bác gấu, hay ngài gấu ấy. Hàng năm chúng tôi tổ chức lễ tế thần và gửi rất nhiều quà quý cúng linh hồn các ngài gấu để các vị ấy mang về cám ơn các vị thần cho chúng tôi.
Người Ainu tin vào thuyết vạn vật hữu linh, nghĩa là mọi vật trên thế gian này đều có linh hồn. Vì vậy, người Ainu tôn trọng tất cả mọi vật, từ các loài động vật, thực vật cho đến các vật thể vô tri như sông, núi,... Đối với người Ainu, gấu là linh vật của dân tộc. Bởi lẽ, họ cho rằng, gấu chính là hiện thân của Thần Núi. Họ nuôi gấu như một thành viên trong gia đình, cho gấu ăn món người ăn và gấu sẽ sống ở trong một cũi gỗ lớn.
Trang phục truyền thống của người Ainu là loại áo choàng gọi là Attsushi (hay Attush), có chất liệu chủ yếu được dệt từ sợi cây và trang trí với nhiều họa tiết hình học. Những họa tiết hình học này không chỉ dùng để phân biệt giới tính, tình trạng hôn nhân, bộ tộc,... mà còn giúp người mặc xua đuổi tà ma. Attsushi có dáng áo tương tự với bộ Kimono của Nhật Bản, với những hoa văn truyền thống của người Ainu được thêu trên những đường viền xanh thẫm. Mình đã ngồi kỳ cục làm kirigami những hình hoa văn dưới sự hướng dẫn nhiệt tình của một người phụ nữ Ainu, một hình hoa văn mà họ tin là có khả năng xua đuổi bất cứ điều không lành nào.
Một bà cụ Ainu có mái tóc bạc và khuôn mặt phúc hậu đưa cho hai vơ chồng hai cái chạc cây và một cái vòng bằng tra rồi nói “Con thử chơi cái này đi, hay lắm, hai đứa đứng xa ra và tung vòng rồi đón bằng cái chạc này xem có trúng không nhé!” . hihi… trông thì cũng đơn giản thôi mà, nhưng tung chục cuộc may ra mới trúng được 1, 2 lần thôi nha. Mình quên không hỏi tên bà , nhưng tự đặt cho bà biệt danh là tộc trưởng, vì bà rất giống các vị tộc trưởng trong các bộ phim cổ ngày xưa.
Tộc trưởng hỏi “ơ thế VN có bao nhiêu dân tộc. Tự nhiện mình cũng quên bẵng con số và nói bừa… 46 ạ.
Rồi tự thấy sai sai, quay sang hỏi nhà sử học bên cạnh “ VN có mấy dân tộc con?”
Nhà sử học bảo 54.
Bà cụ thốt lên “Nhiều thế nhỉ, hình như ở Nga nhiều lắm cũng tới bốn mấy dân tộc thôi”. Nhớ lại ngày xưa hồi còn làm ở đài truyền hình, mình cũng đã có dịp gặp đủ cả 54 dân tộc đó trong ngày hội các dân tộc VN. Trong đầu mình chỉ nhớ có một điều là các cô gái dân tộc xinh lắm cơ, xinh hơn gái Kinh nhiều ấy.
Bà cho cả nhà mình mặc những trang phục truyền thống của người Ainu chụp ảnh kỷ niệm, rồi cùng nhau nhảy múa những điệu nhảy dân tộc. Trông các bà bước đi thì rõ nhẹ nhàng, mà nhảy được vài bước thì đã mệt tý chết, tim đập thì thà thì thụp.
Cảm ơn người Ainu đã cho chúng con được sống một ngày trải nghiệm đầy thú vị như vậy.
Nếu hỏi điều nhớ nhất trong buổi đi hôm đó là gì ? thì đó là khoảnh khắc khi buổi trưa chúng tôi ngồi xuống chiếc bàn để mở đồ ăn ra chén. Đói bụng quá rồi, và tưởng tượng mấy món ăn mình đã cất công chuẩn bị mà cười rất sung sướng vì không phải nghĩ đến cảnh cực khổ đi kiếm đồ chay..
Nhem nhem… “ơ hình như anh quên cho bento của em vào balo rồi…!”
Tiếng sét đánh ngang tai kéo tôi về với thực tại…..
Kỷ niệm mùa hè 2024.

Photos from Nhat ngu Akari -cô Thu Hào Nam's post 02/08/2024

[Từ vựng mỗi ngày]
Xem phim xong thấy phim hay quá phải đi tìm hiểu liền các nhân vật này trong tiếng Nhật tên là gì các bạn ạ
🥰

28/07/2024

Cuối tuần lại luyện tập 1 chút xem còn nhầm như lần đầu làm không nhé các bạn

26/07/2024

Trông dễ nhưng mà dễ sai, các bạn làm thử xem sao nhé!

11/07/2024

Người Nhật luôn đề cao sự khiêm tốn nên cánh cửa để vào phòng trà đạo luôn bé xíu như này. Để một khi đã vào đây dù ngoài XH bạn có địa vị cao thấp như thế nào, bạn đều phải cúi đầu khi bước vào đây, và chúng ta đều như nhau...
Nhưng tôi mặc thế này chui vào còn thấy hơi chật nên không hiểu mấy cô kimono sẽ chui vào làm sao.
Và có một điều chắc chắn mấy anh Sumo sẽ không được uống trà đạo rồi...

Photos from Nhat ngu Akari -cô Thu Hào Nam's post 10/07/2024

Cổng trời Torii của Nhật bản
Theo truyền thuyết cổ của Nhật thì nữ thần mặt trời Amaterasu vì cảm thấy bực bội trước những trò đùa quấy nhiễu của người em trai nên đã tự giấu mình vào trong hang động, bà đã lấy đá lấp kín lối vào cửa hang, từ đó gây ra hiện tượng nhật thực. Người dân lo sợ rằng nếu mặt trời không trở lại thì tất cả bọn họ sẽ chết. Vì vậy, theo lời khuyên của một người đàn ông già thông thái trong làng, họ đã dựng lên một cái sào bằng gỗ và thả cho tất cả gà trống trong làng đậu trên đó. Khi bọn gà trống kêu ầm ĩ đã gây ra sự tò mò cho vị nữ thần mặt trời và bà đã hé mắt nhìn ra ngoài hang. Lúc đó tảng đá tạo ra một vết nứt và một đô vật sumo to lớn từ trong làng chạy đến đẩy hòn đá đi, giải thoát mặt trời. Cành cây cho chim đậu ấy chính là cánh cổng torii đầu tiên. Từ đó trở đi, Torii là biểu tượng của sự thịnh vượng và sung túc. Torii có mặt ở khắp nơi trên đất nước Nhật Bản.
Nói về nguồn gốc của chữ “torii”, có giả thuyết cho rằng Torii được xây dựng để cho chim về đậu do ẩn ý của 2 chữ kanji (鳥 tori: chim; 居 i: nơi chốn). Đó là bởi vì theo Thần Đạo, chim được cho là đối tượng truyền thông điệp của thần linh. Giả thuyết thứ hai lại bắt nguồn từ thuật ngữ tōri-iru (通り入る: thông qua và bước vào).
Ở Nhật Bản, những người làm ăn thành công thường quyên tặng xây dựng Torii nhằm thể hiện lòng biết ơn. Chính vì vậy ở Nhật có rất nhiều Torii. Ví dụ đền thờ Fushimi Inari ở Kyoto có hàng ngàn Torii như thế.
Mình đã đến chiếc cổng Torri đẹp nhất ở Nhật Bản những 2 lần rồi mà vẫn không đủ duyên để ở lại chụp hoàng hôn, khi mặt trời "đi qua" cánh cổng ấy.

05/07/2024

Danh sách phòng thi N5-N1 tháng 7/2024 ở comment bên dưới, cả nhà check nhé!

25/06/2024

[毎日1つのN1語彙]
Bắt đầu chiến dịch tổng hợp những từ vựng hay xuất hiện trong N1 N2,
Comment liền bên dưới nếu các bạn học sinh của cô còn nhớ từ đồng nghĩa của từ vựng này nhé!

Want your school to be the top-listed School/college in Hanoi?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Category

Telephone

Address


Ngõ 168 Hào Nam
Hanoi