Luyện thi Siêu tốc môn Văn - Thầy Phan Định

Luyện thi Siêu tốc môn Văn - Thầy Phan Định

Share

Luyện Thi Siêu Tốc Môn Văn - Thầy Phan Định
(Ôn thi Văn cấp 1,câp 2, cấp 3; Luy?

23/04/2026

CHỦ ĐỀ PHÁT TRIỂN BẢN THÂN - NGHỊ LUẬN VỀ MỘT VẤN ĐỀ XÃ HỘI CẦN GIẢI QUYẾT
Đề 1: Theo em, học sinh nên làm gì để vượt qua những khó khăn, thử thách trong cuộc sống? Viết một bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của mình.
BÀI LÀM
* Mở bài: “Cha ông từng nhắn nhủ: Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo”
Cuộc sống là một hành trình dài đầy rẫy những khó khăn và thử thách. Giống như một con thuyền phải đương đầu với sóng gió để cập bến bình yên, con người trưởng thành nhờ việc đối mặt và vượt qua những chông g*i trong cuộc sống. Tổng thống Ấn Độ A. P. J. Abdul Kalam nhấn mạnh rằng không nên từ bỏ hay để khó khăn khuất phục ý chí của mình. Đối với học sinh, việc rèn luyện tinh thần vượt khó chính là hành trang quý báu trên con đường phát triển và hoàn thiện bản thân.
* Thân bài:
1. Giải thích : Khó khăn và thử thách là những trở ngại hoặc tình huống khó xử mà con người gặp phải trong cuộc sống, công việc, hoặc học tập. Đó có thể là những áp lực học tập, những thất bại trong cuộc sống hay những tình huống buộc ta phải đương đầu với nỗi sợ hãi và giới hạn của bản thân.
2. Phân tích vấn đề
Vai trò/ ý nghĩa của việc vượt qua khó khăn, thử thách
Đối mặt với khó khăn là cơ hội vàng để học sinh rèn luyện bản lĩnh, xây dựng ý chí kiên cường và sự bền bỉ trước mọi thử thách. Thông qua việc chinh phục các chướng ngại vật, người trẻ không chỉ khám phá ra những tiềm năng ẩn giấu mà còn nhận diện rõ điểm mạnh, điểm yếu để hoàn thiện bản thân toàn diện. Đặc biệt, mỗi lần vượt qua nghịch cảnh chính là một nấc thang bồi đắp niềm tin nội tại và sự tự hào cá nhân. Đây chính là tiền đề quan trọng giúp các bạn tự tin đương đầu với những bão giông lớn hơn, kiến tạo nền tảng vững chắc cho hành trình trưởng thành tương lai.
Dẫn chứng: Nick Vujicic là minh chứng sống động cho ý chí vượt nghịch cảnh khi vượt qua khiếm khuyết hình thể để trở thành diễn giả truyền cảm hứng toàn cầu. Bằng quyết tâm và niềm tin mãnh liệt, anh không chỉ tự chủ cuộc sống mà còn lan tỏa thông điệp về sự kiên trì và lòng biết ơn. Câu chuyện của Nick khẳng định rằng mọi giới hạn đều có thể phá vỡ nếu con người sở hữu một bản lĩnh phi thường.
Thực trạng của vấn đề đối với học sinh: Hiện nay, nhiều học sinh dễ rơi vào trạng thái căng thẳng và áp lực khi gặp phải khó khăn trong học tập và cuộc sống. Không ít bạn chọn cách né tránh thử thách hoặc bỏ cuộc khi kết quả không như ý muốn. Điều này không chỉ làm giảm khả năng phát triển bản thân mà còn cản trở việc xây dựng bản lĩnh, ý chí kiên cường – vốn là điều cần thiết để thành công trong tương lai.
Nguyên nhân cúa việc học sinh không dám vượt qua khó khăn, thử thác: Nguyên nhân khiến học sinh không dám đối mặt và vượt qua khó khăn, thử thách có thể bắt nguồn từ nhiều yếu tố khác nhau. Một phần là do tâm lý sợ thất bại hoặc thiếu tự tin vào bản thân. Các em có thể không tin rằng mình đủ khả năng hoặc đủ sức mạnh để vượt qua những trở ngại, dẫn đến việc né tránh thử thách. Ngoài ra, áp lực từ gia đình, bạn bè hoặc xã hội cũng có thể khiến học sinh lo sợ đánh mất hình ảnh của mình nếu không thành công. Môi trường giáo dục chưa thực sự khuyến khích sự sáng tạo và chấp nhận sai lầm cũng là một nguyên nhân khác. Cuối cùng, việc thiếu kỹ năng giải quyết vấn đề và cách tiếp cận thử thách tích cực có thể làm cản trở khả năng đối diện khó khăn của các em.
Hậu quả của việc học sinh không đủ dũng cảm để vượt qua khó khăn và thử thách: Sống thiếu bản lĩnh và né tránh thử thách không chỉ khiến cá nhân thui chột năng lực, mất đi tính tự lập mà còn tạo ra rào cản lớn trên con đường đi tới thành công. Đối với gia đình, sự yếu đuối và lười nhác của con cái trở thành gánh nặng, khiến cha mẹ luôn phải phiền lòng và thiếu đi chỗ dựa vững chắc. Ở góc độ vĩ mô, một cộng đồng thiếu những người dám xông pha, vượt khó sẽ dẫn đến tình trạng thiếu hụt nhân tài và nguồn lực lao động chất lượng. Hệ quả tất yếu là đất nước khó có thể phát triển cường thịnh nếu thế hệ trẻ thiếu đi tinh thần dũng cảm đối mặt với trở ngại.
3. Giải pháp
a. Với bản thân
Để xây dựng bản lĩnh vững vàng trước thử thách, trước hết mỗi học sinh cần học cách chấp nhận thất bại như một bài học quý giá thay vì xem đó là dấu chấm hết. Việc rút kinh nghiệm từ sai lầm sẽ giúp chúng ta trưởng thành hơn và bước tiếp mạnh mẽ với một tư duy sắc sảo. Song hành với đó, tinh thần lạc quan và thái độ sống tích cực chính là nguồn năng lượng nội tại giúp ta giữ vững niềm tin, biến áp lực thành động lực để vượt qua nghịch cảnh. Việc xác định mục tiêu cụ thể, chia nhỏ lộ trình hành động cũng là một chiến lược quan trọng để giữ vững sự kiên trì và bám sát hướng đi đã chọn. Cuối cùng, đừng ngần ngại tìm kiếm sự hỗ trợ, sẻ chia từ thầy cô, gia đình và bạn bè để có thêm những góc nhìn mới mẻ cùng sức mạnh tinh thần. Khi biết kết hợp giữa nỗ lực cá nhân và sự đồng hành từ cộng đồng, mọi khó khăn đều trở thành nấc thang đưa chúng ta đến gần hơn với thành công.
Dẫn chứng: Vận động viên Ánh Viên là minh chứng điển hình cho sự nỗ lực vượt qua khó khăn trong tuổi trẻ. Xuất thân từ một gia đình bình thường tại Cần Thơ, cô phải sống xa nhà, đối mặt với những thử thách khắc nghiệt trong quá trình tập luyện. Từ việc tuân thủ chế độ ăn uống nghiêm ngặt đến lịch tập luyện dày đặc, Ánh Viên vẫn kiên trì, không ngừng cố gắng. Chính sự quyết tâm này đã giúp cô liên tục phá kỷ lục và mang về nhiều huy chương quốc tế, trở thành niềm tự hào của Việt Nam.
b. Với gia đình: Gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc giúp học sinh vượt qua khó khăn trong học tập và cuộc sống. Trước tiên, cần xây dựng một môi trường gia đình ấm áp, khuyến khích và tích cực. Cha mẹ và các thành viên nên lắng nghe, chia sẻ, động viên khi trẻ gặp trở ngại. Gia đình cũng cần rèn luyện thói quen học tập và kỹ năng quản lý thời gian hiệu quả cho con. Hướng dẫn lập kế hoạch, đặt mục tiêu rõ ràng, theo dõi tiến độ sẽ giúp trẻ tự tin hơn trước thử thách.
c. Nhà trường cần áp dụng nhiều biện pháp để giúp học sinh vượt qua khó khăn và thử thách. Trước hết, cần xây dựng môi trường giáo dục tích cực, nơi học sinh cảm thấy được tôn trọng và khuyến khích sự sáng tạo. Các chương trình hỗ trợ tâm lý học đường nên được mở rộng để giúp các em giải quyết áp lực học tập và cuộc sống. Bên cạnh đó, cần chú trọng trang bị kỹ năng mềm như quản lý thời gian, giao tiếp và giải quyết vấn đề, nhằm giúp học sinh tự tin ứng phó với thử thách.
d. Gia đình, nhà trường và xã hội cũng cần phối hợp đồng bộ để tạo điểm tựa vững chắc cho các em. Đẩy mạnh việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa, các chương trình trao đổi để học sinh có thêm trải nghiệm thực tế, tăng cường khả năng thích nghi. Đồng thời, việc đầu tư vào cơ sở vật chất và các chính sách hỗ trợ, chẳng hạn học bổng hay miễn giảm học phí cho học sinh khó khăn, cũng sẽ giúp tạo cơ hội phát triển toàn diện hơn cho các em.
4. Bình luận - mở rộng
Kiên trì là phẩm chất cần thiết để vượt qua thử thách, nhưng cũng cần biết dừng đúng lúc khi con đường hiện tại không còn hiệu quả. Dừng lại không phải là thất bại mà là cơ hội để nhìn nhận, điều chỉnh và chọn hướng đi phù hợp hơn, tránh lãng phí thời gian, công sức. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng học sinh không thể tự vượt qua khó khăn mà cần phụ thuộc vào gia đình và thầy cô. Thực tế, dù sự hỗ trợ là quan trọng, nhưng bản lĩnh chỉ hình thành khi mỗi người tự mình đối diện và vượt qua thử thách. Sự giúp đỡ nên là điểm tựa, không thể thay thế cho nỗ lực cá nhân.
III. KẾT BÀI
Hành trình của tuổi trẻ không tránh khỏi những gập ghềnh và thử thách. Nhưng nếu biết biến khó khăn thành động lực, biến vấp ngã thành bài học, thì những thử thách ấy sẽ không còn là trở ngại mà sẽ trở thành đòn bẩy để vươn lên. Học sinh chúng ta, hãy luôn ghi nhớ rằng: “Không có đỉnh núi nào quá cao nếu lòng can đảm đủ lớn”. Bằng sự kiên trì, ý chí và niềm tin vào bản thân, chúng ta sẽ tìm thấy sức mạnh để vượt qua mọi giông bão. Đừng bao giờ để khó khăn đánh bại ước mơ và khát vọng của mình, bởi phía sau cơn mưa, cầu vồng sẽ lại xuất hiện.

08/04/2026

ĐỀ VÀ ĐÁP ÁN THAM KHẢO CỦA ĐỀ THI MINH HOẠ VÀO 10 TỈNH HƯNG YÊN

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HƯNG YÊN
ĐỀ MINH HỌA
(Đề gồm 02 trang)
ĐỀ THI TUYỂN SINH LỚP 10 THPT NĂM HỌC 2026 - 2027
MÔN: NGỮ VĂN
(Dành cho tất cả các thí sinh)
Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề
Họ và tên thí sinh: ............................................................ Số báo danh: .............................
(Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm)
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Đạo đức truyền thống Việt Nam thường hay nhắc nhở câu: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Khi cầm trái cam lên có bao giờ ta tự hỏi trái cam này từ đâu mà ra vậy? Dĩ nhiên là từ cây cam. Đó là cách trả lời rất đơn giản của ta. Nhưng sự thật là trái cam đang có mặt trên tay ta phải trải qua một quá trình sống rất gian nan, không thua gì kiếp sống của bất cứ sinh vật nào. Bắt đầu từ hạt cam, rồi phải hấp thụ vô số yếu tố của thiên nhiên thì nó mới trở thành cây và cho ra lá, ra hoa, ra trái. Rồi phải nhờ vào tình thương của nước, của gió, của mặt trời, của khoáng chất và đặc biệt là của người trồng trọt, thì trái cam mới trở thành thực phẩm bổ dưỡng cho ta hôm nay. Mặc dù trong câu tục ngữ ấy chỉ nhắc ta hãy nhớ đến công sức của người đã trồng cây, nhưng kỳ thực là muốn khơi dậy lòng biết ơn trong ta với tất cả những điều kiện đang không ngừng nuôi dưỡng ta.
[...]
Lòng biết ơn là thái độ rung cảm chân thành trước một sự hiến tặng, được ghi khắc sâu đậm trong tâm và có ý muốn đền đáp bằng cách này hay cách khác trong tương lai. Năng lượng biết ơn khi được phát sinh, không những tạo nên sự điều hòa trong các mối liên hệ mà còn có công năng đánh thức những hạt giống cao quý trong tâm hồn, và đốt cháy những năng lượng độc hại do ta vô tình lầm lỡ gây ra trong quá khứ. Chỉ cần duy trì ý niệm biết ơn là ta đã thừa hưởng rất nhiều rồi. Huống chi, khi ta biến nó thành hành động cảm ơn hay tạ ơn thì năng lượng ấy sẽ lớn mạnh gấp bội. Nó khiến kẻ đền đáp và người tiếp nhận đều được an vui và hạnh phúc.
(Minh Niệm, Hiểu về trái tim, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2020, tr.123-124)
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định vấn đề bàn luận trong đoạn trích trên.
Câu 2. (0,5 điểm) Ghi lại câu tục ngữ được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 3. (1,0 điểm) Nêu tác dụng của việc trình bày bằng chứng về quá trình hình thành trái cam trong đoạn trích.
Câu 4. (1,0 điểm) Chỉ ra và phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ nhân hóa trong câu văn: Rồi phải nhờ vào tình thương của nước, của gió, của mặt trời, của khoáng chất và đặc biệt là của người trồng trọt, thì trái cam mới trở thành thực phẩm bổ dưỡng cho ta hôm nay.
Câu 5. (1,0 điểm) Từ nội dung đoạn trích, em hãy rút ra bài học ý nghĩa nhất với bản thân và lí giải.
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của việc trân trọng nguồn cội.
Câu 2. (4,0 điểm)
Em hãy viết bài văn nghị luận phân tích bài thơ sau:
NHỚ BÀ
NHỚ BÀ
(Trương Anh Tú)

Bà tôi như con gió
thoảng về núi xanh rồi
bóng bà bên bậu cửa
chỉ còn trong mơ thôi

Bà đi nơi chín suối
xa xôi nơi chín đèo
nhớ bà gàu giếng khóc
im lìm nước trong veo

Vườn xưa xào xạc lá
chợt về trắng sân mây
tiếng chổi tre bà quét
còn vương thoảng đâu đây

Ngỡ bà trong trời đất
thầm lặng như đất trời
ngỡ bà trong dáng núi
ngỡ bà trong mưa rơi

Sớm chiều nghe sương khói
lửa ấm đợi tay bà
củi nằm trong bếp ngủ
nhớ bà… vàng mùa thu

Trương Anh Tú*
* Trương Anh Tú sinh năm 1967 tại Hà Nội. Ông được biết đến là một người làm thơ, làm báo và sáng tác nhạc. Ông đã xuất bản các tác phẩm: Cảm xúc (2007), Những mùa hoa anh nói (2018), Hoa ban mai (2021), Trắng mây tóc mẹ (2025).
-----HẾT-----
ĐÁP ÁN THAM KHẢO DO CÔ TUYẾT MAI BIÊN SOẠN

GỢI Ý GIẢI ĐỀ THI - PHẦN
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1. (0,5 điểm)
• Vấn đề bàn luận: Ý nghĩa, giá trị của lòng biết ơn trong cuộc sống và sự trân trọng những điều kiện nuôi dưỡng con người.
Câu 2. (0,5 điểm)
• Câu tục ngữ được sử dụng: "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây".
Câu 3. (1,0 điểm)
• Bằng chứng: Bắt đầu từ hạt cam, rồi phải hấp thụ vô số yếu tố của thiên nhiên thì nó mới trở thành cây và cho ra lá, ra hoa, ra trái. Rồi phải nhờ vào tình thương của nước, của gió, của mặt trời, của khoáng chất và đặc biệt là của người trồng trọt, thì trái cam mới trở thành thực phẩm bổ dưỡng cho ta hôm nay
• Tác dụng:
o Về mặt nội dung: Cho thấy để có được một thành quả (trái cam) là cả một quá trình nỗ lực, kết tinh từ nhiều yếu tố (hạt giống, thiên nhiên, công sức con người). Từ đó giúp người đọc hiểu sâu sắc hơn rằng không có gì tự nhiên mà có, mọi thứ đều cần được trân trọng.
o Về mặt lập luận: Làm cho lý lẽ về lòng biết ơn trở nên cụ thể, sinh động, giàu sức thuyết phục và gần gũi với đời sống thực tế thay vì chỉ nói lý thuyết suông.
Câu 4. (1,0 điểm)
• Chỉ ra biện pháp nhân hóa: Sử dụng từ ngữ chỉ tình cảm của con người cho các yếu tố thiên nhiên: "tình thương của nước, của gió, của mặt trời, của khoáng chất".
• Phân tích hiệu quả:
o Làm cho câu văn sinh động: Khiến các yếu tố vô tri như nước, gió, mặt trời trở nên có tâm hồn, có sức sống và gắn bó mật thiết với con người.
o Khẳng định: thiên nhiên không chỉ cung cấp vật chất mà còn nuôi dưỡng chúng ta bằng sự bao dung, tình thương.
o Tư tưởng, tình cảm của tác giả: Khơi dậy trong lòng người đọc sự xúc động và ý thức sâu sắc về việc phải biết ơn, trân trọng cả những điều nhỏ bé nhất trong vũ trụ đang nuôi dưỡng mình.
Câu 5. (1,0 điểm)
• Bài học ý nghĩa nhất: Học sinh có thể chọn một bài học khác nhau, miễn là có lí giải hợp lý.
o Gợi ý: Bài học về việc thực hành lòng biết ơn từ những điều nhỏ nhất.
• Lí giải: Bởi vì khi biết ơn, tâm hồn ta sẽ trở nên nhẹ nhàng, xua tan những năng lượng độc hại và tạo nên sự an vui cho cả bản thân lẫn người xung quanh. Lòng biết ơn không chỉ là lời nói mà còn là một loại năng lượng tích cực giúp ta sống bao dung và tử tế hơn mỗi ngày.
II. VIẾT
Câu 1. Nguồn cội không chỉ là nơi ta sinh ra, mà còn là bệ đỡ tinh thần, là mạch ngầm văn hóa chảy trôi trong huyết quản mỗi con người. Trân trọng nguồn cội chính là việc ghi nhớ công ơn sinh thành của tổ tiên, bồi đắp lòng tự hào về truyền thống gia đình và bản sắc dân tộc. Ý nghĩa lớn lao nhất của việc trân trọng nguồn cội chính là tạo nên một "điểm tựa tâm hồn" vững chãi. Giữa dòng đời đầy biến động và bão giông, khi biết mình từ đâu tới, ta sẽ không bị lạc lối hay cuốn trôi bởi những giá trị ảo màng. Nguồn cội cho ta sức mạnh nội sinh để đối mặt với nghịch cảnh; giống như một cái cây, rễ có bám sâu vào lòng đất mẹ thì cành lá mới có thể vươn cao và đón gió mà không sợ gục ngã. Bên cạnh đó, thái độ trân trọng gốc gác còn giúp con người hoàn thiện nhân cách, sống có trách nhiệm và giàu lòng nhân ái. Khi ta thấu hiểu được những gian khổ, hi sinh của thế hệ đi trước để có được "trái ngọt" hòa bình và ấm no hôm nay, ta sẽ tự khắc hình thành ý thức gìn giữ và phát huy những giá trị ấy, tránh xa lối sống vô ơn, "vắt chanh bỏ vỏ". Hơn thế nữa, ở bình diện quốc gia, việc trân trọng nguồn cội chính là sợi dây vô hình gắn kết cộng đồng, tạo nên sức mạnh đại đoàn kết dân tộc. Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, nếu không biết giữ gìn bản sắc và trân trọng nguồn cội, con người dễ rơi vào tình trạng "hòa tan" thay vì "hòa nhập", trở thành những thực thể không bản sắc. Tuy nhiên, trân trọng nguồn cội không có nghĩa là bảo thủ hay níu giữ những hủ tục lạc hậu, mà là tiếp nối những tinh hoa để viết tiếp những trang sử mới hào hùng hơn. Tóm lại, nguồn cội là gốc rễ của sự sống và đạo đức. Mỗi người trẻ cần nuôi dưỡng lòng biết ơn, bắt đầu từ những hành động nhỏ nhất như tìm hiểu lịch sử gia đình, giữ gìn lời ăn tiếng nói quê hương, để ngọn lửa truyền thống mãi rực cháy trong tim.
Câu 2
Trong dòng chảy của văn học Việt Nam, đề tài gia đình, đặc biệt là hình ảnh người bà, luôn là mảnh đất màu mỡ khơi nguồn cảm hứng cho bao tâm hồn thi sĩ. Nếu như Bằng Việt nhớ về bà qua "Bếp lửa" chờn vờn sương sớm, thì Trương Anh Tú, một người con của Hà Nội hào hoa, lại chọn cách thể hiện nỗi nhớ ấy qua những rung cảm tinh tế, nhẹ nhàng mà sâu lắng trong bài thơ "Nhớ bà". Tác phẩm không chỉ là tiếng lòng thổn thức của một người cháu trước sự mất mát, mà còn là bản hòa ca giữa tình người và linh hồn của tạo hóa.
Mở đầu bài thơ, tác giả đối diện với một sự thật nghiệt ngã: bà đã không còn nữa. Tuy nhiên, thay vì dùng những từ ngữ bi lụy, Trương Anh Tú lại sử dụng hình ảnh so sánh đầy gợi cảm:
"Bà tôi như con gió
thoảng về núi xanh rồi
bóng bà bên bậu cửa
chỉ còn trong mơ thôi"
Hình ảnh "con gió" và "núi xanh" gợi lên một sự ra đi thanh thản, tựa như quy luật tất yếu của tự nhiên. Bà không mất đi, bà chỉ "thoảng" về một miền xanh ngắt, xa xăm. Thế nhưng, cái sự "nhẹ tênh" ấy lại để lại một khoảng trống mênh mông nơi "bậu cửa" – nơi vốn dĩ gắn liền với hình dáng tần tảo của bà. Cụm từ "chỉ còn trong mơ thôi" vang lên như một tiếng thở dài xót xa, xác nhận thực tại chia lìa âm dương cách trở.
Nỗi nhớ ấy không dừng lại ở cảm xúc cá nhân mà lan tỏa, thấm đẫm vào từng sự vật, cảnh vật quanh nhà. Cách tác giả sử dụng phép nhân hóa ở khổ thơ thứ hai thực sự gây ấn tượng mạnh:
"Bà đi nơi chín suối
xa xôi nơi chín đèo
nhớ bà gàu giếng khóc
im lìm nước trong veo"
"Gàu giếng khóc" là một hình ảnh sáng tạo độc đáo. Cái vật vô tri vô giác vốn gắn liền với bàn tay bà mỗi sớm khuya giờ đây cũng biết đau, biết thương, biết "khóc" cho người chủ cũ. Sự đối lập giữa tiếng "khóc" và trạng thái "im lìm nước trong veo" gợi lên một nỗi đau lặn vào bên trong, sâu thẳm và tinh khiết. Hình ảnh "chín suối", "chín đèo" càng tô đậm thêm khoảng cách vời vợi mà người cháu không thể vượt qua.
Theo dấu chân của nỗi nhớ, người đọc được dẫn dắt về lại không gian quen thuộc của gia đình. Ở đó, âm thanh và màu sắc hòa quyện tạo nên một vùng ký ức sống động:
"Vườn xưa xào xạc lá
chợt về trắng sân mây
tiếng chổi tre bà quét
còn vương thoảng đâu đây"
Tiếng "xào xạc" của lá vườn và tiếng "chổi tre" là những âm thanh đặc trưng của làng quê Việt Nam, cũng là âm thanh của sự sống, của sự vun vén. Dù bà đã đi xa, nhưng trong tâm tưởng của cháu, hình bóng ấy vẫn hiện hữu qua từng thanh âm quen thuộc. "Tiếng chổi tre" không chỉ quét đi rác lá trên sân mà dường như còn quét sạch những bụi bặm của thời gian, để lại một nỗi nhớ vấn vương không dứt.
Đỉnh cao của cảm xúc được thể hiện ở khổ thơ thứ tư, khi tác giả nâng tầm hình ảnh người bà lên ngang hàng với tầm vóc của vũ trụ, đất trời:
"Ngỡ bà trong trời đất
thầm lặng như đất trời
ngỡ bà trong dáng núi
ngỡ bà trong mưa rơi"
Điệp từ "ngỡ" được lặp lại ba lần liên tiếp cho thấy một trạng thái nửa hư nửa thực. Người cháu nhìn đâu cũng thấy bà: trong dáng núi uy nghi, trong cơn mưa rơi dịu dàng, trong cái tĩnh lặng của đất trời. Sự hóa thân của bà vào thiên nhiên khẳng định rằng tình yêu thương của bà là bất diệt, là bao la và vĩnh cửu. Bà đã trở thành linh hồn của quê hương, của cội nguồn.
Khép lại bài thơ là những hình ảnh ấm áp về hơi sưởi gia đình:
"Sớm chiều nghe sương khói
lửa ấm đợi tay bà
củi nằm trong bếp ngủ
nhớ bà… vàng mùa thu"
Hình ảnh "lửa ấm" và "bếp" gợi nhớ về sự chăm sóc, bảo ban của bà. Ngay cả khi "củi nằm trong bếp ngủ" – một hình ảnh nhân hóa đầy bình yên – thì nỗi nhớ vẫn thức. Dấu ba chấm "nhớ bà..." như một nốt lặng, kéo dài nỗi suy tư để rồi kết thúc bằng hình ảnh "vàng mùa thu". Màu vàng ấy có lẽ là màu của hoa cúc, màu của nắng, hay chính là màu của sự viên mãn, của những kỷ niệm đẹp đẽ nhất về bà đã chín muồi trong tâm trí người cháu.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ 5 chữ với ngôn ngữ giản dị nhưng giàu hình ảnh và sức gợi. Các biện pháp tu từ như so sánh, nhân hóa, điệp từ được sử dụng nhuần nhuyễn, giúp chuyển tải một cách trọn vẹn tình cảm thiêng liêng. Nhịp thơ chậm rãi, trầm buồn nhưng không bi lụy mà đầy trân trọng.
Tóm lại, "Nhớ bà" của Trương Anh Tú là một bài ca đẹp về lòng hiếu thảo và sự trân trọng nguồn cội. Qua bài thơ, mỗi chúng ta như được soi chiếu lại chính mình, để biết yêu thương và trân quý hơn những người thân yêu khi họ còn hiện hữu. Tác phẩm xứng đáng là một nén tâm nhang thành kính mà nhà thơ dành tặng cho bà, đồng thời chạm đến trái tim của mọi độc giả về đạo lý "uống nước nhớ nguồn" của dân tộc.

04/04/2026

1. CÁCH TÌM Ý CHO ĐỀ PHÂN TÍCH MỘT BÀI THƠ/ĐOẠN TRÍCH THƠ
Để phân tích thơ hiệu quả, cần trả lời các nhóm câu hỏi gợi ý sau:
1.1. Về tác giả:
• Tác giả thuộc giai đoạn văn học nào? (Thơ mới, kháng chiến, hiện đại…)
• Phong cách sáng tác có gì đặc biệt? (trữ tình – chính luận, hiện thực – lãng mạn, tinh tế – dữ dội, sâu sắc – bình dị…)
1.2. Về tác phẩm:
a. Khái quát chung:
• Bài thơ/đoạn thơ thuộc hoàn cảnh sáng tác nào?
• Thể thơ được sử dụng là gì? Nhịp điệu ra sao?
• Mạch cảm xúc của bài thơ vận động như thế nào?
b. Nội dung chính cần phân tích:
• Chủ đề/đề tài bài thơ hướng tới là gì?
• Cảm xúc chủ đạo của bài thơ?
• Hình ảnh trung tâm, biểu tượng chủ đạo là gì?
• Nhân vật trữ tình là ai? Cảm xúc, suy nghĩ của họ ra sao?
c. Nghệ thuật thể hiện:
• Hình ảnh thơ có gì độc đáo? (biểu tượng, ẩn dụ, gợi cảm…)
• Thủ pháp nghệ thuật nổi bật: điệp ngữ, đối lập, nhân hóa, hoán dụ…
• Ngôn ngữ: mộc mạc, hàm súc, tinh luyện, biểu cảm, đa nghĩa?
• Nhịp điệu, âm hưởng thơ: nhẹ nhàng, dồn dập, tha thiết hay thiết tha sâu lắng?
• Giọng điệu: trữ tình, cảm xúc, châm biếm, bi hùng, trang trọng, suy tư…?
2. DÀN Ý CHI TIẾT PHÂN TÍCH MỘT BÀI THƠ/ĐOẠN TRÍCH
A. MỞ BÀI🗯️
• Dẫn dắt bằng một nhận định về vai trò của thơ ca trong đời sống tinh thần.
• Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm, đoạn thơ và vấn đề nghị luận.
B. THÂN BÀI
1. Khái quát về tác giả – tác phẩm
• Tác giả: vị trí trong văn học, phong cách sáng tác.
• Tác phẩm: hoàn cảnh sáng tác, vị trí trong sự nghiệp thơ.
• Thể thơ, kết cấu bài thơ, cảm hứng chủ đạo.
2. Phân tích nội dung đoạn thơ/bài thơ
2.1. Tóm tắt mạch cảm xúc & chủ đề
• Mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình diễn biến theo trình tự nào?
• Bài thơ thể hiện tình cảm gì? Đề tài – chủ đề xuyên suốt?➿
2.2. Phân tích từng khổ/thành phần thơ để làm rõ nội dung
• Hình ảnh thơ tiêu biểu, gợi cảm xúc, biểu tượng đặc sắc.
• Cảm xúc của nhân vật trữ tình qua từ ngữ, nhịp điệu.
• Những tầng nghĩa ẩn sâu đằng sau hình ảnh, biểu tượng thơ.🗯️
• Ý nghĩa của sự vận động cảm xúc (nếu có) từ khổ đầu đến khổ kết.➿
3. Phân tích nghệ thuật thơ ca
• Nghệ thuật xây dựng hình ảnh (ẩn dụ, nhân hóa, hoán dụ, đối lập…)TTKh
• Nhịp thơ, âm hưởng thơ, ngôn ngữ thơ (biểu cảm – cô đọng – đa nghĩa).
• Giọng điệu – thái độ – chiều sâu tư tưởng trong thơ.
• Nghệ thuật kết cấu: liền mạch hay chuyển biến? Trật tự biểu cảm có chủ ý?
4. Đánh giá – mở rộng – liên hệ
• Tổng kết giá trị nội dung (tình cảm – tư tưởng) và nghệ thuật.
• Thông điệp cuộc sống – nhân văn được gửi gắm.
• Liên hệ với các tác phẩm thơ cùng đề tài – phong cách (nếu có).
• Cảm nhận cá nhân sâu sắc: điều còn đọng lại sau khi đọc xong bài thơ.
C. KẾT BÀI
• Khẳng định vẻ đẹp riêng của bài thơ – đoạn trích.
• Suy nghĩ về giá trị thẩm mỹ và nhân văn lâu bền.
• Cảm xúc lắng đọng và những rung động còn mãi trong tâm hồn người đọc.
🍒🍒🍒🍒🍒🍒🍒🍒🍒🍒🍒🍒🍒
🟣MỞ BÀI MẪU :
📌Cách 1:Thơ là tiếng lòng tinh khôi và mãnh liệt nhất của con người trước cuộc sống. Từ những rung động dịu dàng đến nỗi đau quặn thắt, thơ luôn biết cách lưu giữ cảm xúc bằng những dòng ngôn từ chắt lọc. Trong mạch cảm xúc ấy, [Tên tác phẩm] của [Tên tác giả] hiện lên như một bản hòa ca lắng đọng, gợi mở những chiêm nghiệm sâu xa về [vấn đề nghị luận].
📌Cách 2: Nếu văn xuôi là dòng sông kể chuyện thì thơ ca là ngọn lửa thắp lên từ những rung động chân thành. Những vần thơ hay không chỉ truyền tải thông điệp, mà còn lan tỏa cảm xúc. [Tên tác phẩm] của [Tên tác giả] là minh chứng sống động cho điều đó – một bài thơ mang vẻ đẹp của nghệ thuật và chiều sâu tư tưởng về [vấn đề nghị luận].TTKh
📌Cách 3:Trong hành trình đi tìm cái đẹp và sự thật của đời sống, con người không chỉ sống bằng lý trí mà còn cần được dẫn lối bởi cảm xúc. Thơ ca, bằng sự thăng hoa của ngôn từ và hình ảnh, đã thực hiện sứ mệnh đó một cách trọn vẹn. [Tên tác phẩm] của [Tên tác giả] chính là một đóa thơ như thế – đằm thắm, sâu lắng và đầy ám ảnh về [vấn đề nghị luận].🗯️
🟣KẾT BÀI MẪU :
📌Cách 1: Khép lại bài thơ, người đọc không chỉ rời khỏi thế giới của con chữ, mà còn lặng lẽ mang theo những rung động, suy tư về [vấn đề nghị luận]. Và có lẽ, chính điều ấy đã làm nên sức sống bền bỉ cho [Tên tác phẩm] – một thi phẩm không chỉ đẹp về ngôn từ, mà còn sâu lắng trong chiều sâu tâm tưởng.➿
📌Cách 2: Thơ hay là thơ khơi gợi – khiến người đọc phải nghĩ ngợi, trăn trở và lắng lại. [Tên tác phẩm] đã làm được điều đó bằng sự tinh tế của hình ảnh, bằng cảm xúc chân thành và bằng cái nhìn nhân văn sâu sắc. Dẫu thời gian trôi qua, những gì bài thơ để lại vẫn như một tiếng vọng dịu dàng trong tâm hồn người đọc về [vấn đề nghị luận].🗯️
📌Cách 3: Trong dòng chảy của thơ Việt, [Tên tác phẩm] là một nhánh sông êm đềm mà sâu lắng. Từ ngôn từ đến cảm xúc, từ hình ảnh đến tư tưởng, bài thơ đã gieo vào lòng người đọc không chỉ sự rung động, mà còn là những chiêm nghiệm tinh tế về [vấn đề nghị luận] – điều khiến thơ không chỉ là thơ, mà còn là tri kỷ của tâm hồn.
𝘽𝙖̀𝙞 𝙫𝙞𝙚̂́𝙩 𝙩𝙝𝙪𝙤̣̂𝙘 𝙗𝙖̉𝙣 𝙦𝙪𝙮𝙚̂̀𝙣 𝙘𝙪̉𝙖 𝙘𝙤̂ 𝙈𝙞𝙣𝙝 𝙃𝙪̛𝙤̛𝙣𝙜 𝙏𝙏𝙆𝙝
𝙑𝙪𝙞 𝙡𝙤̀𝙣𝙜 𝙙𝙖̂̃𝙣 𝙣𝙜𝙪𝙤̂̀𝙣 𝙠𝙝𝙞 𝙘𝙝𝙞𝙖 𝙨𝙚̉.

29/03/2026

⏰LƯU Ý VỀ THỜI GIAN KHI LÀM BÀI THI MÔN NGỮ VĂN
(Dành cho HS lớp 9 & 12)
Trong bài thi Ngữ văn, kiến thức quan trọng, nhưng biết phân chia thời gian hợp lí cũng quan trọng không kém. Nhiều em học tốt, ôn khá chắc nhưng khi vào phòng thi lại mất điểm đáng tiếc vì làm bài thiếu cân đối: sa đà ở phần Đọc hiểu, viết đoạn văn quá lâu hoặc dành quá ít thời gian cho bài văn chính. Vì vậy, muốn làm bài hiệu quả, các em cần nhớ: 120 phút không phải để viết thật nhiều, mà để làm đủ, làm đúng và làm trọn vẹn các phần của đề.
1. Dành vài phút đầu để đọc toàn bộ đề
Ngay sau khi nhận đề, các em không nên vội cắm cúi làm ngay một câu nào đó. Hãy bình tĩnh đọc lướt toàn bộ đề, từ phần Đọc hiểu đến phần Viết, để nắm cấu trúc, nhận diện yêu cầu của từng câu và hình dung mối liên hệ giữa các phần nếu có. Chỉ cần 3–5 phút đầu cho việc này, nhưng đó là bước rất cần thiết để các em chủ động trong cả bài làm, tránh bỏ sót câu hoặc phân chia thời gian lệch.
2. Phần Đọc hiểu chỉ nên làm trong khoảng 30–35 phút
Đây là phần cần đọc kĩ nhưng trả lời ngắn gọn, đúng trọng tâm. Các em nên nhớ: đề hỏi gì thì trả lời thẳng vào điều đó, không viết lan man, không giải thích quá mức khi đề không yêu cầu. Với các câu nhận biết, hiểu, vận dụng, chỉ cần nêu đúng ý chính, rõ ràng, chính xác. Nếu dành quá nhiều thời gian cho phần này, các em sẽ bị hụt quỹ thời gian cho phần Viết.
3. Đoạn văn nên hoàn thành trong khoảng 20–25 phút
Đoạn văn khoảng 200 chữ chỉ cần tập trung làm rõ một ý lớn, một vấn đề trọng tâm. Các em nên nêu ý chính sớm, sau đó triển khai bằng những câu viết tập trung, mạch lạc. Không nên cố kéo dài dung lượng khi ý đã đủ, cũng không nên mở rộng sang những nội dung ngoài yêu cầu. Viết đoạn tốt là viết đúng trọng tâm, đủ ý, gọn mà sáng.
4. Bài văn cần khoảng 60–65 phút
Đây là phần quan trọng nhất, cần được dành quỹ thời gian nhiều nhất. Khi làm bài văn, các em nên xác định nhanh yêu cầu đề, định hình bố cục, triển khai luận điểm rõ ràng, dẫn chứng phù hợp, diễn đạt mạch lạc. Trong phòng thi, không cần viết quá dài, càng không nên tham nhiều ý đến mức bài bị loãng hoặc viết không kịp. Một bài văn tốt là bài đúng hướng, đủ ý, có bố cục rõ, lời văn sáng sủa và hoàn thành trọn vẹn.
5. Không để mất cân đối thời gian giữa các phần
Một lỗi thường gặp là gặp câu quen thì viết quá say sưa, gặp câu khó thì loay hoay quá lâu, đến cuối giờ phải làm vội các phần còn lại. Các em cần luôn tự nhắc mình: đã dùng bao nhiêu phút, còn bao nhiêu phút, phần nào cần dừng để chuyển sang phần khác. Trong phòng thi, ngoài kiến thức, các em còn phải biết LÀM CHỦ ĐỒNG HỒ ⏰
6. Nhất định phải để lại vài phút cuối để rà soát bài
Khoảng 5–7 phút cuối rất quan trọng. Đây là lúc các em đọc lại bài để sửa lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp, diễn đạt, ngắt đoạn và kiểm tra xem mình đã làm đủ các câu chưa. Nhiều khi chỉ một vài phút rà soát cũng giúp tránh được những lỗi rất đáng tiếc, nhất là lỗi hình thức trình bày.
🕰️Có thể tham khảo cách chia 120 phút như sau:
• 3–5 phút đầu: đọc toàn bộ đề
• 30–35 phút: làm phần Đọc hiểu
• 20–25 phút: viết đoạn văn
• 60 –65 phút: viết bài văn
• 5–7 phút cuối: đọc lại, sửa lỗi
✅ Điều cần nhớ nhất:
Làm bài thi Ngữ văn không phải là cuộc đua viết thật dài, mà là quá trình làm đủ +làm đúng +làm cân đối +làm kịp thời gian. Biết phân bố thời gian hợp lí chính là một biểu hiện của năng lực làm bài.⏰
🍀Chúc các em lớp 9+12 ôn tập tốt, giữ tâm lí vững vàng và hoàn thành bài thi Ngữ văn với kết quả cao nhất.

(St từ fb co minh hương)

27/03/2026

🍂Chiếc nhẫn của vua Solomon có khắc dòng chữ: "Gam zeh ya'avor" - "Tất cả rồi sẽ qua đi". Sông có thể cạn, núi có thể mòn, vạn vật cứ thế chuyển tiếp luân hồi, vậy có điều gì là còn mãi? Có lẽ những trang văn chân chính sẽ mãi là một ô cửa bí mật thôi thúc sự kiếm tìm của độc giả bao thế hệ với những cuộc thám hiểm thú vị. Nói như Franz Kafka: "Văn học luôn là một cuộc thám hiểm sự thật"

"Văn học" là một hình thái ý thức xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng, vì vậy nó luôn phản ánh những tồn tại xã hội. Văn học lấy chất liệu là ngôn từ để xây dựng hình tượng, qua đó thể hiện những tâm tư, tình cảm của nhà văn về con người và cuộc đời. "Văn học luôn là một cuộc thám hiểm" - hành trình sáng tạo nghệ thuật ẩn chứa những điều thú vị, có thể là những khả năng mới ta khó có thể lường trước. "Sự thật" là những điều có thật, tồn tại hiển nhiên như một chân lý, không phụ thuộc vào ý định chủ quan của con người. Như vậy, bằng kinh nghiệm và trải nghiệm sâu sắc của một đời cầm bút, Franz Kafka đã nhận định vô cùng xác đáng về bản chất của văn học: những trang văn là hành trình người nghệ sĩ và người tiếp nhận khám phá những điều thú vị, khai mở những khả năng mới, gợi ra những điều độc đáo. Chiêm nghiệm mới mẻ về “sự thật” không tự nhiên mà hiển hiện, dễ thấy mà đòi hỏi “một cuộc thám hiểm”, dấn thân thậm chí là khổ công của cả hai đối tượng: sáng tạo và tiếp nhận.

Trước hết, văn học là “một cuộc thám hiểm” để nhà văn kiếm tìm sự thật... Mối quan hệ giữa văn học và cuộc sống được ví như thần Ăngtê và Đất Mẹ Gaia, thần chỉ phát huy tối đa sức mạnh khi đứng trên Đât Mẹ cũng như văn chương chỉ tồn tại đúng nghĩa khi bắt rễ từ hiện thực cuộc sống. Đó là mối quan hệ hữu cơ, gắn bó không thể tách rời. Văn học phản ánh chân thực chân dung con người cũng như soi chiếu mọi phương diện đời sống. Bởi "nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối" ("Giăng sáng" - Nam Cao), trang văn được viết lên từ nỗ lực khám phá, "mổ xẻ" hiện thực của người nghệ sĩ để gửi gắm đến độc giả những chiêm nghiệm về sự thật. Sau thế chiến thứ hai, nữ nhà văn Svetlana Alexievich, đã đi thu thập những "mảnh vụn" trong ký ức của những người phụ nữ tham chiến để dệt nên thiên tiểu thuyết để đời "Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ". Hành trình "thám hiểm sự thật" của nữ sĩ không hề dễ dàng khi bà phải đi qua hơn một trăm thành phố, thị trấn và các khu làng mạc dân cư để ghi chép và phỏng vấn hàng ngàn phụ nữ Liên Xô cũ - những người đã trực tiếp tham gia thế chiến. Bà đã lật lại mặt trái của tấm huy chương chiến tích, kéo người phụ nữ ra khỏi bóng tối của chiến tranh để cất lên tiếng nói về sự thật đau đớn, nghiệt ngã mà họ phải chịu đựng. S. Alexievich đã "nhặt lấy chữ của đời" (Chế Lan Viên) là hình ảnh những thiếu nữ mười tám đôi mươi đón nhận chiến tranh bằng tâm hồn thuần khiết, bước vào cuộc chiến với bím tóc đuôi dài và bước ra với mái tóc lỏm chơm cắt kiểu đàn ông; nữ xạ thủ bị phát xít Đức bắn chết khi cố níu giữ lại chút thiên tính nữ và quàng lên cổ một chiếc khăn màu đỏ; nữ điện báo viên phải nhấn chìm đứa con dưới nước cho đến chết để giữ an toàn cho cả đội; nữ y tá trưởng với gưong mặt xinh đẹp bị chiến tranh làm cho biến dạng đến nỗi khi sống sót trở về mẹ ruột không nhận ra con... tất cả đã diễn tả nỗi đau khổ mất mát mà chiến tranh đã gây ra, đặc biệt là với người phụ nữ. Hiện thực có thể khiến con người ta đau đớn nhưng sứ mệnh của người nghệ sĩ vẫn luôn phải kiếm tìm và phản ánh chân thực để cảnh tỉnh nhân loại. "Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ" là tiếng nói phản chiến gay gắt, nhưng thấm đượm giá trị nhân đạo, như khi mở đầu tác phẩm nữ nhà văn đã viết: "Phải viết một cuốn sách về chiến tranh sao cho người đọc buồn nôn sâu sắc về nó, cho họ thấy chỉ ý tưởng chiến tranh thôi cũng bỉ ổi, tâm thần".

Nếu chiếc gương soi phản ánh cuộc sống nguyên xi, một chiều; nhiếp ảnh đóng băng cuộc sống trong một khoảnh khắc nào đó thì văn chương phản chiếu cuộc sống theo những cách đặc thù, riêng biệt. Văn học muốn nói lên sự thật không thể thiếu tưởng tượng và hư cấu, đó là phương tiện để sự thật ấy được nói ra một cách khách quan, chân thực mà đầy tính nghệ thuật. "Hiện thực thứ hai" trong tác phẩm văn học cho phép người nghệ sĩ bày tỏ quan điểm và góc nhìn riêng về con người và cuộc sống, từ đó thể hiện những chiêm nghiệm về cõi nhân sinh. Những khám phá về sự thật đôi khi thật tàn nhẫn nhưng mục đích mà văn học hướng đến không phải làm cho lòng người thêm đau đớn, mất niềm tin. Mỗi người nghệ sĩ là một "nhà nhân đạo từ trong cốt tủy" (Balzac), nỗ lực kiếm tìm bản chất của hiện thực đồng thời cũng là "người dẫn đường đến xứ sở của cái đẹp" (Paustovsky), gửi gắm những ý niệm nhân văn, cao cả. Thi phẩm "Tấm ảnh chụp ngày tháng l của nữ nhà thơ Wislawa Szymborska, người đoạt giải Nobel Văn chương năm 1996, viết để tưởng niệm những người vô tội đã hi sinh trong vụ khủng bố tại tòa tháp đôi New York:
"Chỉ hai việc tôi có thể làm cho họ
Miêu tả chuyến bay
Và không đặt tay
Ghi vào câu kết"
Tôi hình dung trước khi dừng bút, nữ sĩ đã khóc rất lâu bởi tôi như cảm nhận sự bất lực trong từng câu chữ. Nhưng không vì thế mà tuyệt vọng, buông xuôi, nhà thơ vẫn phải làm tròn sứ mệnh "nâng giấc cho những kẻ cùng đường tuyệt lộ" (Nguyễn Minh Châu), níu giữ sự sống của nhân loại trên từng trang viết. W.Szymborska "không đặt tay ghi vào câu kết" để những người xấu số không phải "chết lần thứ hai". Viết về sự thật nhưng không sao chép y nguyên hiện thực vốn có mà khơi lên niềm hy vọng cho con người về những điều tốt đẹp, đồng thời đó cũng là nỗ lực tận độ của nữ nhà thơ để cảnh báo nhân loại hôm nay về giá trị của sự thật, của hai chữ "hòa bình".

Để viết nên những tác phẩm chân chính, nhà văn với tư chất đặc biệt của mình luôn khao khát kiếm tìm chân lý, khơi mở những mạch nguồn nhân bản. Người cầm bút quăng mình vào cuộc đời, nếm trải mọi "cuộc bể dâu" để vui chung niềm vui của nhân loại, đau chung nỗi đau của kiếp người. Từ vốn sống, vốn trải nghiệm, cuộc đời văn nhân nghệ sĩ như được "cộng dồn" cả trăm năm của đời người, dễ dàng nhìn thấy được những góc khuất của hiện thực, khái quát lên những vấn đề nhân sinh, khẳng định chân lý của cuộc đời. Daniel Defoe sáng tác nên cuốn tiểu thuyết "Robinson Crusoe" từ cái nhìn sâu sắc về hiện trạng xã hội đương thời cùng những điều trải qua trong chính cuộc đời mình. Ông từng bị đối xử bất công, bị bêu rếu bởi lối ứng xử hoang dã của con người đương thời. Nhà văn đã sáng tạo, hư cấu nên nhân vật Robinson với chuyến phiêu lưu hơn hai mươi tám năm ngoài đảo hoang để khẳng định tuyên ngôn: văn minh chính là lối ứng xử giữa người với người bằng sự tôn trọng và tình yêu thương. Từ triết lý đó, soi vào hiện thực là một hành trình "thám hiểm sự thật" ở Anh thời kỳ xã hội tư bản, nơi con người ứng xử với nhau như những kẻ hoang dã và những người văn minh như kẹt giữa đảo hoang trên đất liền.

Văn học thực chất cũng là hành trình độc giả khám phá và "thám hiểm sự thật". Văn học xây dựng hình tượng, gửi gắm tư tưởng qua hệ thống ngôn từ nghệ thuật. Có thể coi tác phẩm nghệ thuật là một bộ mã, nhà văn là người ký mã, bạn đọc là người giải mã để tri nhận và lĩnh hội những tư tưởng được gửi gắm tinh tế, khéo léo. Mỗi trang văn như "một ô cửa" (Lưu Quang Vũ), mở ra nhiều cách hiểu, nhiều trường liên tưởng độc đáo, thú vị. Tùy vào góc nhìn chủ quan của từng độc giả, mỗi người sẽ "thám hiểm sự thật" theo những cách rất riêng, khám phá sự đa chiều của cuộc sống hiện thực. Đến với thơ Hồ Xuân Hương, ta choáng ngợp trước hệ thống ngôn từ phong phú, đa nghĩa, thậm chí là cựa quậy, muốn phá tung mọi khuôn khổ chật hẹp của lẽ giáo phong kiến. Ngôn ngữ thơ bà không trang nhã, đài các như thơ Bà Huyện Thanh Quan cũng không sướt mướt như Ngọc hàn công chúa trong "Ai tư vãn"; thơ Hồ Xuân Hương đầy sức sống "xanh mướt như rau vườn mới hát", sống động như "những điệu Van-xơ (Valse) chóng mặt"... Chính điều này đã tạo nên sự đa dạng trong tiếp nhận và khám phá thơ bà. Trong "Thiếu nữ ngủ ngày" nữ sĩ viết:
"Lược trúc biếng cài trên mái tóc
Yếm đào trễ xuống dưới nương long
Đôi gò bồng đào sương còn ngậm
Một lạch đào nguyên suối chửa thông"
Đi sâu khám phá thế giới nghệ thuật thơ Nôm Hồ Xuân Hương, ta thấy thơ bà mang đậm nét cá tính riêng, lệch chuẩn để vượt chuẩn, phá vỡ những chuẩn mực phong kiến. Độc giả bao đời với những kiến giải về sự thật xoay quanh thơ bà cũng vì thế mà tiếp nhận với nhiều chiều hướng khác nhau. Có người cho là "dâm", là "tục", song cũng có những cái nhìn nhân văn, tiến bộ hơn, trong "hành trình thám hiểm sự thật" đã nhận ra tầng sâu ý nghĩa đằng sau lớp vỉa quặng ngôn từ để định giá lại thơ bà. Ví thân thể người phụ nữ với "bồng đảo", "đào nguyên" - chốn tiên cảnh nhằm khắc họa lên vẻ đẹp tràn đầy sức sống với vẻ trinh nguyên, thuần khiết. Nữ sĩ Xuân Hương dám cất lên tiếng nói nữ quyền, ca ngợi vẻ đẹp hình thể của người con gái là biểu hiện của một cá tính mạnh mẽ, táo bạo đứng lên để bảo vệ và trân trọng bao thân phận phụ nữ giữa những bất công, ngang trái trong xã hội phong kiến đương thời. Thơ Hồ Xuân Hương đến nay vẫn là một khu vườn bí ẩn, vô tận, và "hành trình thám hiểm sự thật" của độc giả không chỉ dùng lại ở đó. Thế giới trong thơ bà luôn mời gọi sự kiếm tìm và khám phá để "tái sinh" trong lòng người tiếp nhận. Độc giả khi tìm đến văn chương là hành trình giải mã, tìm hiểu sâu hơn về đời sống và cũng là hiểu hơn về chính mình. Trong thời đại ngày nay, sự lên ngôi của khoa học, công nghệ số kéo theo sự bùng phát của "pose-truth" (hậu sự thật). Bởi vậy con người hiện đại càng khao khát kiếm tìm sự thật hơn bao giờ hết và văn chương có thế đáp ứng được điều đó. Địa hạt văn chương cho con người cơ hội tìm lại chính mình, sống chậm hơn để nhìn nhận về mọi vấn đề của cuộc sống và con người đương thời. Văn học giai đoạn đổi mới sau năm 1975 ghi dấu sự xuất hiện của nhiều ngòi bút truyện ngắn xuất sắc, trong đó phải kể đến nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Ông đã góp phần đưa văn học thoát khỏi "bầu không khí vô trùng" của nền văn học cách mạng 1945-1975 để nhìn thẳng, nhìn sâu, khám phá cuộc sống và con người trong đa trị, đa sự, đa đoan. Người đọc không khỏi ngỡ ngàng bởi Nguyễn Huy Thiệp viết "thật quá" song cũng như ông đã khẳng định: "lẽ đời là thế", chúng ta không thể trốn tránh cũng như không thể tô hồng sự thật, văn Nguyễn Huy Thiệp cho ta cái nhìn cuộc sống mang tính khám phá và chân thực nhất. Nhà văn đã dân chủ hóa mối quan hệ tác giả - độc giả để bạn đọc tự do, chủ động "thám hiểm", có khi còn là sự dấn thân, đi sâu để tìm ra cách lý giải phù hợp nhất. "Chảy đi sông ơi" là hành trình tìm về huyền thoại con trâu đen của nhân vật tôi để rồi vỡ mộng khi nhận ra sự bạc ác, ích kỷ của kiếp người. Huyền thoại ở đâu khi "giết người ăn cướp có thực", "ngoại tình có thực", chỉ có chuyện “trâu đen” là giả? Huyền thoại ấy không phải trong mộng ảo mà có lẽ kết tinh trọn vẹn nhất ở đời thực, ngay trong nhân vật chị Thắm - người cứu "tôi" và bao người trên dòng sông bến Cốc. Nhưng một lần nữa trên hành trình "thám hiểm sự thật" độc giả không khỏi bàng hoàng và xót xa khi chị Thắm - một nhân vật mang thiên tính nữ nhân hậu, vị tha, một Đấng cứu thế đầy bao dung, chị chết đuổi mà không có ai cứu. Nguyễn Huy Thiệp đưa ra một cái kết đầy trở trêu, một “lẽ đời" khiến ta phải băn khoăn, day dứt: Liệu cái Đẹp, cái Thiện có còn tồn tại trên mảnh đất tâm hồn căn cồi và ích kỷ trong mỗi con người? Đến đây, bao người đọc phải giật mình sực tỉnh để nhìn lại chính mình, nhìn lại sự thật cuộc đời đang hiện hữu. Câu chuyện ấy là lời cảnh tỉnh tới con người hôm nay về sự xuống cấp nghiêm trọng của đạo đức, đồng thời là lời thức tỉnh lương tri, níu giữ những giá trị tốt đẹp để hướng con người tới Chân - Thiện - Mỹ. Những tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp luôn ẩn chứa những khả năng mới. Đó là sự thâm nhập, thám hiểm của nhà văn về đời sống và thế giới tâm hồn phức tạp của con người; đồng thời cũng mở ra bao hành trình tiếp nhận cho độc giả tìm kiếm sự thật và tìm kiếm chính mình.

"Văn học luôn là một cuộc thám hiểm đến sự thật" đối với cả nhà văn và bạn đọc muôn đời. Sự thật vốn khó kiếm tìm và lý giải, nhất là với người tiếp nhận. Đôi khi chỉ có những kiến giải về sự thật mà ra không thể tìm ra sự thật một cách tuyệt đối. Nhà văn là người nhạy cảm, tinh tế với "con mắt trông thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời" (Mộng Liên Đường) có thể nắm bắt và khái quát hiện thực một cách giản lược mà sắc sảo. Tuy nhiên có những sự thật khuất lấp và khó phát hiện, văn nhân phải tôi luyện bản lĩnh vững vàng để không bẻ cong ngòi bút nghệ thuật chân chính. "Thám hiểm sự thật" cũng là hành trình người nghệ sĩ mở rộng bản sắc của chính mình, phản ánh hiện thực song cũng có nhiều cách tân độc đáo để khái quát lên những vấn đề mang tính nhân loại muôn thuở. Đó không chỉ là sự khổ hạnh trước "pháp trường trắng" (Nguyễn Tuân), công phu "nhặt lấy chữ của đời mà góp nên trang" (Chế Lan Viên) mà nghệ thuật còn đòi hỏi bản lĩnh dấn thân và cả sự chấp nhận đời đen bạc của phận văn chương kia nữa! Văn chương cũng là một sự truy cầu độc giả cần trau dồi vốn sống, vốn tri thức để có thể rung cảm trước những biến chuyển tế vi, tinh tế phát hiện sự thật được gửi gắm để từ đó hoàn thiện bản thân mình. Tác phẩm là một sinh thể, không thể loại trừ những bất trắc, cần lắm những cuộc cách mạng trong chính chúng ta - những bạn đọc hiện đại, để nối dài sức sống vô tận của văn chương.

Sự đời "thương hải tang điền", đổi thay khó đoán định. Thời gian cũng có thể "biến tóc ta thành hoa lau", "nhuộm hồn ta thành lá đỏ" rồi đến một ngày "đời ta biến thành mây lang thang" (Nguyễn Nhật Ánh). Song tôi luôn tin rằng, văn chương với sứ mệnh muôn đời và giá trị sâu sắc vẫn luôn trường tồn cùng thời gian, là “hành trình thám hiểm đầy thú vị, khơi gợi sự khám phá của nhân loại mãi về sau.
(Lương Thu Hằng Trường THPT Chuyên Lương Văn Tụy - Ninh Bình Giải Nhì HSG Quốc gia năm 2024)

🍀https://hocvan.edu.vn (st)

Want your school to be the top-listed School/college in Hanoi?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Category

Telephone

Website

Address


Hanoi
100000