Tuyển sinh liên thông đại học

Tuyển sinh liên thông đại học

Share

liên thông, đại học, thương mại, kinh tế quốc dân, công nghiệp,điện lực, ch?

liên thông đại học, liên thông đại học thương mại, liên thông đại học kinh tế quốc dân, liên thông đại học công nghiệp, liên thông sư phạm mầm non, xét tuyển học bạ, liên thông chính quy, liên thông văn bằng 2

19/05/2015

THÔNG TIN TUYỂN SINH

Liên thông trung cấp, cao đẳng lên Đại học

Nghành GD mầm non, GD tiểu học - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2



Căn cứ Công văn số 36/ĐHSPHN2-ĐT, ngày 16/01/2015 của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 gửi Trường Trung cấp Cộng đồng Hà Nội về việc phối hợp tuyển sinh, đào tạo trình độ đại học hình thức VLVH năm 2015;



1.Đối tượng tuyển sinh: Người học đã tốt nghiệp trung cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm đúng chuyên ngành.

2.Hình thức tuyển sinh: Thi tuyển sinh (các môn theo qui định Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2)

3.Hình thức đào tạo: Học ngoài giờ hành chính (ngày thứ 7 và CN hàng tuần)

4.Thời gian đào tạo: - Từ trình độ CĐSP: 2,0 năm.

- Từ trình độ TCSP: 3,0 năm

5.Kinh phí đào tạo: Theo quy định của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

6.Hồ sơ đăng ký dự thi gồm có:

- Hồ sơ theo mẫu của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.

- Bằng tốt nghiệp hoặc CNTN tạm thời, bảng điểm bản sao có công chứng.

- Giấy khai sinh bản sao.

- 4 ảnh 3*4 ghi rõ họ tên, 2 phong bì dán tem ghi rõ địa chỉ, số điện thoại liên hệ.

7. Lệ phí hồ sơ, ôn tập, thi tuyển sinh: Theo quy định Trường ĐHSP Hà Nội 2

8.Thời gian phát hành và thu hồ sơ: Từ ngày Thông báo đến ngày 30/11/2015.

9. Mọi chi tiết liên hệ: Trường Trung Cấp Cộng Đồng Hà Nội

Nơi tiếp nhận hồ sơ: Trung tâm Đào tạo Hướng nghiệp Cộng đồng

Phòng 102, Nhà B, số 05 Đường Mỹ Đình, Phường Mỹ Đình 2, Quận Nam Từ Liêm

TP. Hà Nôi (Sau bến xe Mỹ Đình 500M)

Hotline: 0962.889.319- Mr.Tuấn

Tuyển sinh: cao đẳng hải dương hệ chính quy 2015 19/05/2015

Thông tin tuyển sinh liên thông chính quy khối ngành sư phạm, cao đẳng chính quy, trung cấp chính quy trương cao đẳng hải dương năm học 2015
Đọc thêm:
http://congdong.edu.vn/tuyen-sinh/tuyen-sinh-cao-dang-hai-duong-he-chinh-quy-2015.html

Tuyển sinh: cao đẳng hải dương hệ chính quy 2015 Thông tin tuyển sinh liên thông chính quy khối ngành sư phạm, cao đẳng chính quy, trung cấp chính quy trương cao đẳng hải dương năm học 2015

09/05/2015

Phạm Tuấn

09/05/2015

THÔNG TIN TUYỂN SINH: Cao đẳng xây dựng số 1 hình thức xét tuyển học bạ

Trường Cao đẳng Xây dựng số 1 là Trường công lập trực thuộc Bộ xây dựng, Trường được thành lập theo quyết định số 128/QĐ-TTg ngày 28/05/1999 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở nâng cấp từ Trường Trung học Xây dựng số 1. Năm 2015 Nhà trường phối hợp với Trường Trung cấp Cộng đồng Hà Nội trong công tác tuyển sinh hệ Cao đẳng chính quy, Cao đẳng liên thông từ Trung cấp Chuyên nghiệp.


THÔNG TIN TUYỂN SINH HỆ CAO ĐẲNG CHÍNH QUY VÀ LIÊN THÔNG CHÍNH QUY TRƯỜNG CAO ĐẲNG XÂY DỰNG SỐ 1.

I. NGÀNH ĐÀO TẠO VÀ HỆ ĐÀO TẠO.
1. Cao đẳng chính quy:
- Ngành Công nghệ kỹ thuật Công trình xây dựng
- Ngành Quản lý xây dựng
2: Cao đẳng liên thông từ Trung cấp chuyên nghiệp:
- Ngành Công nghệ kỹ thuật Công trình xây dựng
- Ngành kế toán

II: PHƯƠNG THỨC HỌC.
- Học tập chung

III: ĐỐI TƯỢNG TUYỂN SINH.
- Tốt nghiệp THPT, bổ túc THPT, TCCN

IV: HÌNH THỨC TUYỂN SINH.
- Tuyển sinh theo 2 hình thức.
+ Xét tuyển học bạ lớp 12
+ Xét tuyển dựa vào kết quả kỳ thi THPT quốc gia

V: TỔ HỢP CÁC MÔN XÉT TUYỂN.
1: Toán, Vật lý, Hóa học
2: Toán, Vật lý, Anh văn
3: Toán, Ngữ văn, Anh văn

VI: HỒ SƠ ĐĂNG KÝ TUYỂN SINH.
- Hồ sơ xét tuyển hệ cao đẳng theo mẫu của Bộ Giáo Dục.
- Lệ phí thi tuyển, xét tuyển theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

VII: VĂN PHÒNG TIẾP NHẬN HỒ SƠ.
Phòng 102, Nhà B, Số 5 Đường Mỹ Đình, Quận Nam Từ Liêm, Hà Nội
Điện thoại: 043.7965142 | 0962.889.319-Gặp Mr. Tuấn(phụ trách tuyển sinh)
Email: [email protected]
Website: www.congdong.edu.vn
http://congdong.edu.vn/tuyen-sinh/tuyen-sinh-cao-dang-xay-dung-so-1-hinh-thuc-xet-tuyen-hoc-ba.html
________________________________________
QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI HỌC.

- Sau khi tốt nghiệp được liên thông lên bậc học cao hơn tại trường hoặc các trường khác có cùng chuyên ngành đào tạo theo quy chế của Bộ GD&ĐT.

- Được học tập trong môi trường có cơ sở vật chất tốt.

- Học sinh sinh viên học khá, giỏi được cấp học bổng.

- Được mượn, đọc các tài liệu học tập của thư viện trường miễn phí.

- Được hưởng các chế độ, chính sách ưu tiên theo quy định của Nhà nước.

- Nhà trường có ký túc xá cho học sinh sinh viên.

- Học sinh sinh viên khi vào trường đang học hoặc đã tốt nghiệp nếu có nguyện vọng Nhà trường sẽ tạo điều kiện để được đi học tập và làm việc có thời hạn ở Nhật Bản và CHLB Đức với mức lương từ 1200USD/tháng trở lên (tùy quốc gia).

Photos 24/04/2015

Thông tin tuyển sinh: Cao học ngành quản lý giáo dục 2015 ĐHSPHN

Căn cứ vào thông báo số 1424/ĐHSPHN-SĐH ngày 11/12/2014 của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội về việc tuyển sinh trình độ thạc sĩ năm 2015. Căn cứ vào công văn phúc đáp số 1424/ĐHSPHN-SĐH ngày 15/4/2015 của trường Đại học Sư phạm Hà Nội về việc đồng ý phối hợp mở lớp bổ sung kiến thức, ôn tập dự thi cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục tại trường trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Á Châu. Trường trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Á Châu thông tin về việc tuyển sinh trình độ thạc sĩ ngành Quản lý giáo dục của Đại học sư phạm Hà Nội như sau:
tuyển sinh cao học năm học 2015
I. ĐIỀU KIỆN DỰ THI
1. Về văn bằng:
Người dự thi cần thỏa mãn một trong các điều kiên sau đây:
a) Có bằng tốt nghiệp đúng chuyên ngành hoặc phù hợp với ngành đăng kí dự thi.
b) Có bằng tốt nghiệp đại học ngành gần với ngành đăng kí dự thi, đã hoàn thành chương trình học bổ sung kiến thức do trường ĐHSP Hà Nội quy định.
2. Về thâm niên công tác và đối tượng dự thi chuyên ngành Quản lí giáo dục:
a) Người dự thi có bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành Quản lý giáo dục, Tâm lý học, Tâm lý giáo dục, Giáo dục học được thin gay.
b) Người dự thi có bằng đại học không thuộc mục 2.a. phải có ít nhất hai năm kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực này, tại một trong các vị trí công tác sau: Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường từ mầm non trở lên; Trưởng khoa, phó trưởng khoa, tổ trưởng, tổ phó các trường Cao đẳng và Đại học; lãnh đạo và chuyên viên làm công tác quản lý giáo dục của tổ chức chính trị, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, Sở GD&ĐT, Phòng Giáo dục và Đào tạo, phòng/ ban đào tạo, giáo vụ các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp.
3. Chính sách ưu tiên:
3.1. Đối tượng ưu tiên:
a) Người có thời gian công tác liên tục từ 2 năm trở lên (tính đến ngày hết hạn nộp hồ sơ đăng ký dự thi) tại các địa phương được quy định là khu vực I trong Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy hiện hành. Trong trường hợp này, thí sinh phải có quyết định tiếp nhận công tác hoặc điều động, biệt phái công tác của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền;
b) Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh;
c) Con liệt sỹ
d) Anh hung lực lượng vũ trang, anh hùng lao động;
e) Người dân tộc thiểu số có hộ khẩu thường trú từ 2 năm trở lên ở địa phương được quy định là khu vực I trong Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy hiện hành.
f) Con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học , được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công nhận bị dị dạng, dị tật, suy giảm khả năng tự lực trong sinh hoạt, học tập do hậu quả của chất độc hóa học.
3.2. Mức ưu tiên:
Người dự thi thuộc đối tượng ưu tiên được cộng vào kết quả thi mười điểm cho môn ngoại ngữ (thang điểm 100) và cộng một điểm (thang điểm 10) cho môn cơ bản.
II. THỜI GIAN, HÌNH THỨC ĐÀO TẠO
1. Thời gian: 02 năm (24 tháng)
2. Kế hoạch học tập sau khi học viên trúng tuyển: Học ngoài giờ (vào các ngày từ thứ 2 đến thứ 6 hoặc vào các ngày cuối tuần thứ 7 và chủ nhật)
3. Hình thức đào tạo: Chính quy tập trung.
III. MÔN THI TUYỂN
1. Người dự tuyển, thi 3 môn (Thi viết)
- Môn ngoại ngữ (Theo dạng trắc nghiệm), thời gian 120 phút.
- Môn cơ bản: Thời giant hi 180 phút (Logic học)
- Môn cơ sở: Thời giant hi 180 phút (Giáo dục học)
Danh mục các môn thi tuyển cho từng chuyên ngành (Xem phụ lục 2 kèm theo)
(Chương trình môn thi tuyển xem trên website của Trường ĐHSP Hà Nội)
2. Các trường hợp được miễn phí môn ngoại ngữ: Thực hiện theo Quyết định số 3169/QĐ-ĐHSPHN, ngày 23/6/2014 của Hiệu trưởng Trường ĐHSP Hà Nội, về việc Quy định trình độ ngoại ngữ đầu vào và đầu đầu ra của đào tạo Sau đại học (Xem mục Đào tạo thạc sĩ trên website của Trường ĐHSP Hà Nội)
IV. HỒ SƠ ĐĂNG KÝ DỰ THI GỒM
Hồ sơ theo mẫu của Đại học Sư phạm Hà Nội (Có bán tại văn phòng tuyển sinh của Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Á Châu)
1. Đơn xin dự thi (Theo mẫu)
2. Bản sao công chứng: Bằng tốt nghiệp Đại học, bẳng điểm Đại học
3. Sơ yếu lý lịch có xác nhận của thủ trưởng cơ quan hoặc chính quyền địa phương nơi thí sinh cư trú (Đối với người chưa có việc làm)
4. Công văn cử đi học của thủ trưởng cơ quan quản lý đối với những người đang làm việc tại cơ quan hành chính sự nghiệp nhà nước.
5. Giấy chứng nhận đủ sức khỏe để học tập của một bênh viện đa khoa
6. Bản sao công chứng các quyết định tuyển dụng hoặc hợp đồng lao động để chứng nhận thời gian công tác
7. Giấy tờ hợp pháp về đối tượng ưu tiên (Nếu có)
8. 04 ảnh 4x6, mặt sau ghi rõ họ tên, ngày tháng năm sinh, chuyên ngành đăng kí dự thi
9. 03 phong bì dán tem (định mức tem từ 3000 đồng trở lên/ phong bì) và ghi rõ địa chỉ cần gửi đến thí sinh
V. ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN
1. Hồ sơ bán, nộp hồ sơ tại phòng 102, nhà B, số 05 Đường Mỹ Đình, Phường Mỹ Đình 2, Quận Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội. (Từ ngày 26/04/2015 đến 20/05/2015, lệ phí 50.000đ/ hồ sơ)
2. Thí sinh có nhu cầu ôn tập tạo nguồn hoặc thuộc diện phải bổ sung kiến thức, đăng ký và nộp lệ phí khi nộp hồ sơ (kinh phí ôn tập: 2.000.000đ/3 môn thi; kinh phí học chuyển đổi – bổ sung kiến thức: 7.000.000đ/thí sinh). Bắt đầu ôn tập từ 20/07/2015. Bắt đầu học chuyển đổi – bổ sung kiến thức từ 20/006/2015.
Lệ phí đăng kí dự thi và xử lí hồ sơ: 420.000đ/ thí sinh. (Trường chỉ nhận hồ sơ đã dayd đủ các mục theo quy định. Hồ sơ đã nộp không trả lại)
Địa điểm tiếp nhận hồ sơ:
Phòng 102, nhà B, số 05 Đường Mỹ Đình, Phường Mỹ Đình 2, Quận Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội.
Điện thoại: (043).7965142; 0912.375.118
Chúng tôi xin gửi tới Quý cơ quan lời chào trân trọng!

Photos 11/04/2015

Gần 800 tỷ đồng cho Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng, hiệu quả giáo dục và phát triển con người Việt Nam toàn diện về Đức, Trí, Thể, Mỹ, hướng tới “công dân toàn cầu”.

Theo Đề án được phê duyệt, chương trình (CT) mới, sách giáo khoa (SGK) mới được xây dựng theo hướng coi trọng dạy người với dạy chữ, rèn luyện, phát triển cả về phẩm chất và năng lực; chú trọng giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, nhân cách, lối sống; phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu và định hướng nghề nghiệp cho mỗi học sinh; tăng cường năng lực ngoại ngữ, tin học và các kỹ năng sống, làm việc trong điều kiện hội nhập quốc tế; đẩy mạnh ứng dụng, phát huy thành quả khoa học công nghệ thế giới, nhất là công nghệ giáo dục và công nghệ thông tin.
CT mới, SGK mới lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo, khả năng tự học của học sinh; tăng cường tính tương tác trong dạy và học giữa thầy với trò, trò với trò và giữa các thầy giáo, cô giáo.

CT mới, SGK mới được xây dựng, biên soạn theo hướng tích hợp ở các lớp học, cấp
học dưới và phân hóa dần ở các lớp học, cấp học trên
CT mới, SGK mới đảm bảo tính tiếp nối, liên thông giữa các cấp học, các lớp học, giữa các môn học, chuyên đề học tập và hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Bảo đảm yêu cầu giảm tải, tính thiết thực. Cập nhật với xu thế giáo dục hiện đại trên thế giới và gắn với chương trình bồi dưỡng, nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên và tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật của nhà trường.
Kế thừa ưu điểm của CT, SGK hiện hành đồng thời tham khảo tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các nước có nền giáo dục phát triển, đáp ứng yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế. Thực hiện một CT, nhiều SGK. CT mới được xây dựng, thẩm định và ban hành trước làm cơ sở cho việc biên soạn SGK.
CT mới được thực hiện thống nhất trong toàn quốc, trong đó quy định những yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh sau mỗi cấp học, nội dung và thời lượng giáo dục bắt buộc đối với tất cả học sinh, đồng thời có một phần thích hợp để các cơ sở giáo dục chủ động vận dụng phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương. Khuyến khích các nhà xuất bản, tổ chức, cá nhân biên soạn SGK. Nhà trường, giáo viên chủ động lựa chọn SGK.
Chú trọng phát huy sự đóng góp của các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các nhà khoa học, nhà giáo dục, nhà quản lý... và toàn xã hội trong quá trình xây dựng, biên soạn và triển khai thực hiện CT mới, SGK mới.
CT, SGK mới được định hướng xây dựng như thế nào?
Đề án cũng cho biết, CT mới, SGK mới đáp ứng yêu cầu của giai đoạn giáo dục cơ bản là bảo đảm trang bị cho học sinh tri thức phổ thông nền tảng, toàn diện và thực sự cần thiết; giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp bảo đảm học sinh tiếp cận nghề nghiệp phù hợp với năng lực, nguyện vọng và chủ động chuẩn bị tốt cho giai đoạn giáo dục sau phổ thông.
CT mới, SGK mới được xây dựng, biên soạn theo hướng tích hợp ở các lớp học, cấp học dưới và phân hóa dần ở các lớp học, cấp học trên. Các lớp học, cấp học dưới thực hiện lồng ghép, kết hợp những nội dung liên quan với nhau ở mức độ hợp lý để tạo thành các môn học tích hợp. Thực hiện giảm hợp lý số môn học, tránh chồng chéo nội dung và những kiến thức không hoặc chưa cần thiết đối với học sinh. Ở cấp THPT, ngoài các môn học bắt buộc chung, có các môn học, chuyên đề học tập dành cho học sinh tự chọn.
CT mới, SGK mới phải đáp ứng yêu cầu và góp phần tạo động lực đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy và học, đổi mới thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục. Được xây dựng, biên soạn theo hướng tạo điều kiện thuận lợi và tạo động lực cho giáo viên nghiên cứu, khai thác tư liệu giáo dục, tìm hiểu thực tiễn để chuẩn bị tốt bài giảng; tăng cường tương tác, phát huy tính tích cực, chủ động và tạo cảm hứng học tập cho học sinh; tạo điều kiện cho học sinh dần nâng cao năng lực tự học hỏi, tìm tòi, hiểu biết môi trường, cuộc sống xung quanh và rèn luyện các kỹ năng sống, làm việc; tạo điều kiện thuận lợi và tạo động lực để đa dạng hóa hình thức tổ chức dạy học; thúc đẩy mạnh mẽ ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học.
CT mới, SGK mới được xây dựng, biên soạn đáp ứng yêu cầu và tạo điều kiện thuận lợi thực hiện đổi mới thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục; bảo đảm trung thực, khách quan, thiết thực, tiết kiệm, giảm áp lực cho xã hội và khắc phục bệnh thành tích hình thức, cục bộ. Thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục phải dựa vào yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực học sinh được quy định trong CT; phối hợp đánh giá quá trình học với đánh giá cuối kỳ, cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học, đánh giá của nhà trường với đánh giá gia đình và của xã hội; thực hiện đánh giá chất lượng giáo dục ở cấp quốc gia, địa phương và đánh giá theo chương trình quốc tế để làm căn cứ đề xuất chính sách, giải pháp cải thiện chất lượng giáo dục.
CT mới phải xác định cụ thể nội dung và yêu cầu cần đạt đối với mỗi môn học, lớp học, cấp học nhưng không quá chi tiết để căn cứ vào CT biên soạn được nhiều SGK. SGK phải được cơ quan có thẩm quyền thẩm định, cho phép sử dụng, xuất bản. Việc lựa chọn SGK thuộc thẩm quyền của nhà trường và được thực hiện công khai, minh bạch căn cứ điều kiện thực tiễn, có tham khảo ý kiến của giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh.
Áp dụng chương trình, SGK mới từ năm học 2018-2019
Cũng theo đề án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, CT mới phải thể hiện rõ mục tiêu giáo dục phổ thông và mục tiêu giáo dục của từng cấp học, môn học; quy định yêu cầu cần phải đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh cuối mỗi cấp học, nội dung giáo dục bắt buộc đối với tất cả học sinh trên phạm vi toàn quốc, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục, đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp và mỗi cấp học của giáo dục phổ thông.
Việc lựa chọn tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng CT mới được thực hiện công khai, minh bạch. CT phải được lấy ý kiến rộng rãi của các tổ chức, cá nhân và được thực nghiệm nhằm bảo đảm tính khoa học, tính sư phạm, tính khả thi và độ tin cậy.
CT mới phải được Hội đồng quốc gia thẩm định CT thẩm định trước khi phê duyệt, ban hành. Tiêu chí lựa chọn thành viên Hội đồng quốc gia thẩm định CT, tiêu chí đánh giá và quy trình thẩm định CT phải được công khai, minh bạch.
Bộ GD-ĐT tổ chức thực hiện biên soạn một bộ SGK mới đủ các môn học ở các lớp học, bảo đảm tiến độ theo lộ trình của Đề án. Việc tổ chức biên soạn SGK phải huy động được đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, nhà giáo có năng lực tham gia; tiêu chí, quy trình lựa chọn tổ chức, cá nhân tham gia biên soạn được công khai, minh bạch. SGK phải được lấy ý kiến rộng rãi và được thực nghiệm nhằm bảo đảm sự phù hợp với chương trình, tính khoa học, tính sư phạm, tính khả thi và độ tin cậy.
SGK do Bộ GD-ĐT, các nhà xuất bản, tổ chức, cá nhân biên soạn phải được Hội đồng quốc gia thẩm định SGK thẩm định trước khi phê duyệt cho phép sử dụng đảm bảo tính khoa học, công bằng. Tiêu chí lựa chọn thành viên Hội đồng quốc gia thẩm định SGK, tiêu chí đánh giá và quy trình thẩm định SGK phải được công khai, minh bạch.
Việc biên soạn tài liệu giáo dục của địa phương đáp ứng nhu cầu và phù hợp với đặc điểm của địa phương phải được thẩm định bởi Hội đồng thẩm định cấp tỉnh và được Bộ GD-ĐT phê duyệt.
Theo Quyết định phê duyệt, Đề án trên được thực hiện trong 3 giai đoạn từ năm 2015-2023. Cụ thể, từ năm học 2018-2019, bắt đầu triển khai áp dụng CT mới, SGK mới theo hình thức cuốn chiếu đối với mỗi cấp tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông.
Đề án này cũng đưa ra hướng tăng cường các điều kiện cần thiết bảo đảm thực hiện có hiệu quả CT, SGK mới. Cụ thể, các cơ sở giáo dục phổ thông chủ động tiến hành điều chỉnh, bố trí, sắp xếp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất, kỹ thuật của nhà trường đáp ứng yêu cầu của CT mới, SGK mới; ưu tiên bố trí phòng học bộ môn, phòng thực hành, thí nghiệm; rà soát danh mục tối thiểu hiện hành, chỉ bổ sung những thiết bị thực sự cần thiết, trang bị thiết bị giáo dục ứng dụng kỹ thuật số để nâng cao hiệu quả sử dụng và tiết kiệm chi phí.
778,8 tỷ đồng để thực hiện đề án
Theo đề án, Nhà nước bố trí 778,8 tỷ đồng để thực hiện các nhiệm vụ: xây dựng, thử nghiệm chương trình; Biên soạn, thử nghiệm một bộ sách giáo khoa (do Bộ GD-ĐT tổ chức thực hiện), trong đó có SGK song ngữ (tiếng Việt - tiếng một số dân tộc ít người đối với một số môn học ở cấp tiểu học; biên soạn thử nghiệm SGK điện tử.
Thẩm định CT và thẩm định SGK; Tập huấn, bồi dưỡng cho người tham gia xây dựng, biên soạn, thẩm định CT mới, SGK mới; xây dựng hệ thống tập huấn, bồi dưỡng giáo viên qua mạng; tập huấn, bồi dưỡng giáo viên để thực hiện CT mới, SGK mới.
Cung cấp SGK cho các trường vùng miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc ít người, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, học sinh khuyết tật.

>> http://tuyensinhcongdong.vn/
>>http://congdong.edu.vn/tuyen-sinh.html

Photos from Tuyển sinh liên thông đại học's post 10/04/2015

NỀN KINH TẾ TRI THỨC VÀ NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA NỀN KINH TẾ TRI THỨC

Từ những năm 80 trở lại đây, do tác động mạnh mẽ của khoa học và công nghệ hiện đại, đặc biệt công nghệ thông tin, sinh học, vật liệu mới, năng lượng...nền kinh tế thế giới đang biến đổi sâu sắc, toàn diện, chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức. Đây là một bước ngoặt có ý nghĩa lịch sử trọng đại đối với quá trình phát triển của nhân loại.
Lịch sử xã hội loài người đã trải qua là nền kinh tế nông nghiệp, nền kinh tế công nghiệp và đang bước vào nền kinh tế tri thức. Khái niệm nền kinh tế tri thức ra đời từ năm 1995 do Tổ chức OPDC nêu ra" Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh, truyền bá và sử dụng tri thức trở thành yếu tố quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống".
Theo định nghĩa của WBI, kinh tế tri thức là: "Nền kinh tế dựa vào tri thức như động lực chính cho sự tăng trưởng kinh tế. Có người cho rằng: Kinh tế tri thức là hình thức phát triển cao nhất hiện nay của nền kinh tế hàng hoá, trong đó công thức cơ bản Tiền - Hàng - Tiền được thay thế bằng Tiền - Tri thức - Tiền và vai trò quyết định của tri thức.
Vậy kinh tế tri thức là gì? Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống. Kinh tế tri thức là biểu hiện hay xu hướng của nền kinh tế hiện đại, trong đó tri thức, lao động chất xám được phát huy khả năng sinh lợi của nó và mang lại hiệu quả kinh tế lớn lao trong tất cả các ngành kinh tế: công nghiệp, nông - lâm - ngư nghiệp và dịch vụ, phục vụ cho phát triển kinh tế.
Kinh tế tri thức cũng được hiểu là nền kinh tế chủ yếu dựa trên cơ sở tri thức, khoa học; dựa trên việc tạo ra và sử dụng tri thức, phản ánh sự phát triển củalực lượng sản xuất ở trình độ cao. Hoặc cũng được hiểu, là một loại môi trường kinh tế- kỹ thuật, văn hoá-xã hội mới, có những đặc tính phù hợp và tạo thuận lợi nhất cho việc học hỏi, đổi mới và sáng tạo. Trong môi trường đó, tri thức sẽ tất yếu trở thành nhân tố sản xuất quan trọng nhất, đóng góp vào phát triển kinh tế xã hội.
Nền kinh tế tri thức dựa trên 4 tiêu chí:
1. GDP, trên 70% là do các ngành sản xuất và dịch vụ ứng dụng công nghệ cao mang lại.
2. Cơ cấu giá trị gia tăng, trên 70 % là kết quả của lao động trí óc,
3. Lao động xã hội, trên 70% lực lượng lao động là lao động trí thức
4. Vốn sản xuất, trên 70% là vốn về con người.
Trong nền kinh tế tri thức, của cải làm ra chủ yếu dựa vào cái chưa biết, cái đã biết không có giá trị. Tìm cái chưa biết tức là tạo ra giá trị mới. Khi phát hiện ra cái chưa biết, thì cũng tức là loại trừ cái đã biết, cái cũ mất đi thay thế bằng cái mới; phát triển từ cái mới, không phải từ số lượng lớn dần lên, nền kinh tế xã hội luôn đổi mới.
Sức mạnh của nền kinh tế tri thức dựa vào ba loại hình công nghệ, được xem như là ba thành quả điển hình:
1. Công nghệ sinh học, bao gồm cả công nghệ gen. Bằng công nghệ sinh học, con người có thể cải tạo được những yếu tố cơ bản của thế giới hữu cơ, trong đó có cả bản thân sự sống của loài người.
2. Công nghệ nano, dựa trên những thành quả của việc sắp sếp lại cấu trúc nguyên tử, thông qua đó con người có thể tác động cả vào bản chất của thế giới vô cơ.
3. Công nghệ tin học, thông tin (ICT) với các siêu máy tính. Công nghệ tin học chính là công nghệ trí tuệ điển hình. Con người nhờ vào đó mà tổ chức quản lý, điều hành và thực hiện các quy trình sản xuất hết sức tinh vi, phức tạp mà con người không thể nào thực hiện nổi, thậm chí không nghĩ tới quá khứ tồn tại của mình. Cũng nhờ có công nghệ tin học mà con người có thể làm phong phú lên gấp nhiều lần các mối quan hệ trong đời sống xã hội, giữa con người với con người.
Kinh tế tri thức là một khái niệm mà nó không có trong chủ nghĩa Mác Lê nin cũng như trong các tài liệu triết học trước đó. Nó ra đời trong bối cảnh nền công nghệ thông tin toàn cầu phát triển mạnh mẽ với tốc độ chưa từng có. Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế tri thức là ở đó con người sử dụng các loại hình công cụ chủ yếu là để thực hiện các thao tác trí tuệ.
Nền kinh tế tri thức có 10 đặc trưng chủ yếu:
1. Sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế. ý tưởng đổi mới và phát triển công nghệ mới trở thành chìa khoá cho việc tạo ra việc làm mới và nâng cao chất lượng cuộc sống. Nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, dịch chuyển cơ cấu nhanh
2. ứng dụng công nghệ thông tin được tiến hành rộng rãi trong mọi lĩnh vực; mạng thông tin đa phương tiện phủ khắp, kết nối hầu hết các tổ chức, gia đình. Thông tin trở thành tài nguyên quan trọng. Mọi lĩnh vực hoạt động xã hội đều có tác động của công nghệ thông tin.
3. Sản xuất công nghệ trở thành loại hình sản xuất quan trọng nhất, tiên tiến nhất, tiêu biểu nhất của nền sản xuất tương lai. Các doanh nghiệp đều có sản xuất công nghệ, đồng thời có doanh nghiệp chuyên sản xuất công nghệ, có thể gọi đó là doanh nghiệp tri thức, trong đó khoa học sản xuất được thể chế hoá, không còn phân biệt giữa phòng thí nghiệm và công xưởng, những người làm việc trong đó họ vừa là nhà nghiên cứu vừa là nhà sản xuất, họ là những công nhân trí thức...
4. Xã hội học tập, giáo dục phát triển, đầu tư cho giáo dục khoa học chiếm tỷ lệ cao. Đầu tư vô hình (con người, giáo dục, khoa học...) cao hơn đầu tư hữu hình (cơ sở vật chất). Phát triển con người trở thành nhiệm vụ trọng tâm. Hệ thống giáo dục phải đảm bảo cho mọi người có thể học tập ở bất cứ lúc nào. Mạng thông tin có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo cho việc học tập suốt đời.
5. Tri thức trở thành vốn quý nhất trong nền kinh tế tri thức. Tri thức là nguồnlực hàng đầu tạo sự tăng trưởng. Tri thức và thông tin được tăng lên khi sử dụng, không mất đi khi sử dụng (các nguồn vốn khác bị mất đi khi sử dụng).
6. Sáng tạo là linh hồn của đổi mới, sáng tạo là vô tận. Đổi mới thường xuyên là động lực thúc đẩy sự phát triển. Công nghệ đổi mới nhanh, vòng đời công nghệ rút ngắn, có khi chỉ mấy năm, thậm chí mấy tháng. Các doanh nghiệp muốn trụ được và phát triển phải luôn đổi mới công nghệ và sản phẩm.
7. Dân chủ hoá, xã hội thông tin thúc đẩy sự dân chủ hoá. Mọi người đều dễdàng truy cập thông tin mình cần. Điều này dẫn đến dân chủ hoá các hoạt động và tổ chức điều hành xã hội. Người dân nào cũng có thể được thông tin kịp thời về các chính sách của Nhà nước, các tổ chức và có ý kiến ngay khi thấy không phù hợp.
8. Các doanh nghiệp vừa hợp tác vừa cạnh tranh để phát triển. Trong cùng một lĩnh vực, khi một công ty thành công, lớn mạnh lên thì các công ty khác phải tìm cách sáp nhập hoặc chuyển hướng hoạt động.
9. Nền kinh tế toàn cầu hoá. Thị trường và sản phẩm mang tính toàn cầu, một sản phẩm được sản xuất từ bất kỳ nơi nào cũng có thể nhanh chóng có mặt khắp nơi trên thế giới hoặc sản phẩm phần lớn được thực hiện từ nhiều nơi trên thế giới, kết quả cao của công ty ảo, làm việc từ xa.
10. Sự thách đó văn hoá. Trong nền kinh tế tri thức- xã hội thông tin, văn hoá có điều kiện phát triển nhanh và văn hoá là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội. Do thông tin, tri thức bùng nổ, trình độ văn hoá nâng cao, nội dung và hình thức các hoạt động văn hoá phong ohú, đa dạng. Nhu cầu thưởng thức của người dân cũng tăng cao, giao lưu văn hoá thuận lợi, tạo điều kiện cho các nền văn hoá giao thoa, đễ tiếp thu các tinh hoa văn hoá của nhân loại để phát triển. Nhưng các nền văn hoá cũng đứng trước nguy cơ rủi ro cao, dễ bị pha tạp, lai căng, dễ mất bản sắc văn hoá dân tộc..
Theo WBI, một quốc gia muốn chuyển sang nền kinh tế tri thức, trước tiên cần hình thành 4 trụ cột quan trọng, đó là:
1. Môi trường kinh tế và thể chế xã hội thuận lợi cho sáng tạo và sử dụng tri thức. Một môi trường và thể chế theo luật, cho phép dòng chảy tự do của tri thức, hỗ trợ công nghệ thông tin và truyền thông, khuyến khích việc làm chủ doanh nghiệp như trọng tâm của kinh tế tri thức.
2. Giáo dục và đào tạo. Hệ thống giáo dục và đào tạo có chất lượng cao để người dân được giáo dục và đào tạo, nâng cao năng lực sáng tạo, chia sẻ và sử dụng tri thức, nguồn nhân lực chất lượng cao
3. Hạ tầng cơ sở thông tin (ICT) hiện đại. Một cơ sở thông tin động, từ radio đến internet, là cần thiết để cho phép dễ dàng liên lạc, phổ biến và sử lý thông tin.
4. Hệ thống sáng tạo có hiệu quả. Một mạng lưới các trung tâm nghiên cứu, đại học, tổ chức chuyên gia, cố vấn, doanh nghiệp tư nhân, các nhóm cộng đồng là cần thiết để thu nhận được kho tri thức toàn cầu luôn không ngừng tăng, truyền bá và thích ứng chúng cho các nhu cầu của đất nước,và sáng tạo ra các tri thức mới cần thiết.
Vì vậy, để xây dựng nền kinh tế tri thức, Việt Nam cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:
- Một là. Phải đổi mới cơ chế và chính sách, tạo lập một khuôn khổ pháp lý mới phù hợp với sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Cơ chế chính sách phải thực sự khuyến khích và buộc các doanh nghiệp phải luôn đổi mới, và thúc đẩy nhanh chóng sự ra đời các doanh nghiệp mới, nhất là các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm mới, công nghệ mới. Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, chống độc quyền.
- Hai là. Phải chăm lo phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài, Tập trung đầu tư phát triển giáo dục, cải cách giáo dục. Tăng nhanh đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và công nhân lành nghề, đội ngũ cán bộ quản lý, doanh nhân..
- Ba là. Tập trung tăng cường năng lực khoa học và công nghệ quốc gia để có thể tiếp thu, làm chủ, vận dụng sáng tạo các tri thức khoa học và công nghệ mới nhất của thế giới cần thiết cho phát triển của đất nước, từng bước sáng tạo công nghệ đặc thù của đất nước, xây dựng nền khoa học và công nghệ tiến tiến của Việt Nam
- Bốn là. Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Công nghệ thông tin là chìa khoá để đi vào kinh tế tri thức. Muốn rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, rút ngắn khoảng cách với các nước, phải khắc phục khoảng cách về công nghệ thông tin..

xem thêm: http://congdong.edu.vn/tuyen-sinh.html
http://tuyensinhcongdong.vn/

Photos 06/04/2015

Trách nhiệm giáo dục thuộc về ai? Nhà trường, gia đình, hay xã hội.
Trách nhiệm giáo dục thuộc về ai? Gia đình, nhà trường hay xã hội? có nhiều người đổ lỗi cho đó là bị tác động bởi "mặt trái của kinh tế thị trường". Đây luôn là câu hỏi được nhiều người quan tâm.
Thời gian qua, chúng ta đã chứng kiến nhiều cảnh bạo lực học đường mà các phương tiện thông tin đại chúng đã đưa: Học sinh nữ đánh bạn chỉ vì bạn học giỏi hơn mình, đánh bạn chỉ vì cái nhìn "đểu", đánh bạn chỉ vì... với muôn vàn những nguyên nhân nhỏ bé khác nhau, làm cho chúng ta đều có một cảm giác rằng, giới trẻ hiện nay đang mất dần "nhân tính"….

Trách nhiệm giáo dục thuộc về ai? Gia đình, nhà trường hay xã hội? có nhiều người đổ lỗi cho đó là bị tác động bởi "mặt trái của kinh tế thị trường", có người đổ lỗi cho đó là sự bùng nổ của công nghệ thông tin, văn hoá xấu xa trên mạng làm giới trẻ bị ảnh hưởng..v.v...!

Trước hết, cần phải nói đến chương trình đạo tạo: Chúng ta đã quá chú trọng đến các môn học tự nhiên, mà thiếu tập trung vào những môn học mang tính giáo dục đạo đức, nhân cách con người như Văn, Đạo đức, Lịch sử,... Thử hỏi, các môn Toán, Lý, Hoá có giúp được gì nhiều cho chúng ta trong cuộc đời (trừ những người chuyên về một số ngành có liên quan đến 3 môn đó), trong khi đó, những môn đó lại chiếm quá nhiều thời lượng học tập...

Thử hỏi, ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển hơn chúng ta hàng trăm năm; những nước phát triển công nghệ thông tin trước ta hàng chục thập kỷ... chắc họ cũng bị và còn bị tình trạng này thậm tệ hơn Việt Nam? Xin thưa, không có chuyện ấy đâu ạ!

Nhưng không học thì không theo được chương trình. Vì vậy, cần tính toán để giảm tải chương trình (nhất là các môn học tự nhiên) và tăng thêm thời lượng các môn giáo dục nhân cách con người như Văn học, Đạo đức, Giáo dục công dân, Lịch sử, luật pháp...

Một vấn đề nữa ít người quan tâm, nhưng tôi thấy cũng cần phải phân tích, đánh giá, nhìn nhận một cách nghiêm túc. Đó là việc phân chia theo khối để dự thi đại học – đây chính là nguyên nhân làm cho học sinh học “lệch”, chỉ chú trọng vào những môn mà mình sẽ thi đại học, còn các môn khác thì chỉ học cầm chừng, dẫn đến tình trạng, tốt nghiệp THPT nhưng kiến thức “phổ thông” thì lại hổng lỗ chỗ…

Để giải quyết vấn đề này, nên chăng cần kết hợp kỳ thi tốt nghiệp và kỳ thi vào ĐH làm một và không phân chia theo khối dự thi đại học như hiện nay nữa; Đồng thời, cũng xoá bỏ luôn việc “phân ban” đang tồn tại trong các trường phổ thông.

Ba là vai trò, trách nhiệm của người thày giáo. Cần nhấn mạnh rằng, vai trò của người thày là cực kỳ quan trong vì phải làm nhiệm vụ “trồng người”. Tôi còn rất nhớ trong những năm đất nước chiến tranh, khó khăn về mọi mặt, nhưng những hình ảnh thày, cô đêm đông giá rét, chân lội bùn đến từng nhà học sinh để kèm cặp, bảo ban; chia từng miếng cơm, manh áo với những học trò nghèo, động viên học trò vượt qua khó khăn để học tập…

Những hình ảnh ấy luôn là điểm sáng trong tim, trong tâm hồn, không bao giờ phai mờ trong ký ức…. Nhưng trong những năm gần đây, bầu nhiệt huyết “vì học sinh thân yêu” dường như đã giảm đáng kể… Nói ra thì nhiều nguyên nhân lắm, nhưng xin mọi người đừng vội đổ trách nhiệm cho những người thày, người cô kính yêu của chúng ta…

Nghề giáo – là nghề cao quí nhất, chỉ có nghề giáo mới được gọi là “Thầy”, là “Cô”. Đúng là hiện nay có nhiều hiện tượng tiêu cực trong đội ngũ những người làm công tác giảng dạy; có thày, cô ở chỗ này, chỗ nọ làm hoen ố phẩm chất tốt đẹp của người giáo viên… Nhưng về cơ bản, đa số các thầy, cô vẫn giữ vững được phẩm chất trong sạch, vẫn lên lớp với trái tim, nhiệt huyết nghề nghiêp.

Đất nước ta đã chuyển sang nền kinh tế thị trường, ngoài những thành tựu đã đã được, thì chúng ta cũng cần phải chấp nhận “mặt trái” của nó tác động vào từng con người và từng mối quan hệ xã hội, trong đó có nghề giáo. Tại sao các nghành nghề khác, các lĩnh vực khác có thu nhập cao hơn mà lại đòi hỏi nghề giáo phải “trong sạch” theo cái kiểu “ăn sư, ở phạm”?

Nói như vậy, không phải là khuyến khích các nhà giáo “tiêu cực” mà muốn nói lên rằng, so sánh mức thu nhập trong xã hội hiện nay thì nghề giáo (theo tôi) có lẽ là thấp nhất. Chúng ta ai cũng biết “vật chất quyết định ý thức”, khi “vật chất” chưa đảm bảo thì “ý thức” sẽ như thế nào rồi, cũng như các cụ nhà ta thường nói “có thực mới vực được đạo”……

Vì vậy, không có gì tốt hơn là tăng lương cho đội ngũ những người làm công tác giảng dạy, đồng thời phải loại bỏ ngay những người không còn đủ năng lực, phẩm chất ra khỏi ngành, có như vậy, các thầy cô mới yên tâm mà dốc “bầu tâm huyết” cho “học sinh thân yêu”…. Đang viết bài này thì anh bạn tôi qua chơi, biết tôi đang luận bàn về chủ đề giáo dục… anh liền tâm sự: “Anh biết không, bố em làm Hiệu trưởng một trường THPT hàng chục năm nay, mà chưa bao giờ có đủ tiền cho gia đình đi nghỉ mát một lần…”… Ôi, câu nói của anh làm tôi cảm thấy nao lòng đến vậy!!!

Đất nước ta có được “vẻ vang sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không” phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, điều kiện khác nhau, nhưng trong đó sự nghiệp giáo dục giữ vai trò quyết định.

Nguồn: Internet

Want your school to be the top-listed School/college in Hanoi?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Category

Address


Phòng B102, Tòa Nhà NTC, Số 5 Đường Mỹ Đình, P. Mỹ Đình 2, Q. Nam Từ Liêm
Hanoi
1000