Cổ học Quy Chân

Cổ học Quy Chân

Share

Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Cổ học Quy Chân, Educational Research Center, 61 Lê Duẩn, Hoàn Kiếm, Hanoi.

Cổ học Quy Chân là nơi đăng tải các kiến thức về Huyền học và các khoá học của Thư viện Quy Chân, với mong muốn nghiên cứu và ứng dụng Cổ học phương Đông theo góc nhìn đa chiều, giản dị và mạch lạc.

04/05/2026

蘇幕遮

碧雲天,
黃葉地。
秋色連波,
波上寒煙翠。
山映斜陽天接水。
芳草無情,
更在斜陽外。

黯鄉魂,
追旅思,
夜夜除非好夢留人睡。
明月樓高休獨倚。
酒入愁腸,
化作相思淚。


🌿 Tô mạc già - Phạm Trọng Yêm

Bích vân thiên,
Hoàng diệp địa.
Thu sắc liên ba,
Ba thượng hàn yên thuý.
Sơn ánh tà dương thiên tiếp thuỷ.
Phương thảo vô tình,
Cánh tại tà dương ngoại.

Ảm hương hồn,
Truy lữ tứ,
Dạ dạ trừ phi hảo mộng lưu nhân thuỵ.
Minh nguyệt lâu cao hưu độc ỷ.
Tửu nhập sầu trường,
Hoá tác tương tư lệ.

🌿 Bản dịch của Lương Trọng Nhàn:

Trời đầy mây biếc, lá vàng
Mùa thu cảnh sắc lẫn sang nước hồ,
Sóng sương lạnh biếc nhấp nhô.
Trời chiều phủ bóng non mờ tiếp sông.
Cỏ thơm không hiểu nỗi lòng,
Mọc lan tới tận cuối dòng chân mây.

Nhớ nhà rầu rĩ tháng ngày,
Nỗi lòng đất khách tràn đầy xót xa,
Hằng đêm mộng đẹp quê nhà,
Để còn chợp mắt một vài trống canh.
Lầu cao trăng sáng long lanh,
Người sao vẫn lẻ bóng đành tựa trông.
Rượu vào trong dạ sầu đong,
Hoá thành giọt lệ nhớ nhung đêm ngày.

08/03/2026

🌿 TÍNH ĐỒNG BỘ (SYNCHRONICITY) – NGUYÊN LÝ KẾT NỐI PHI NHÂN QUẢ TRONG TƯ DUY JUNGIAN 🌿

Khái niệm Synchronicity – thường được dịch là “tính đồng bộ” – là một trong những đóng góp độc đáo và nhiều tầng nghĩa nhất của Carl Gustav Jung vào kho tàng tư tưởng hiện đại. Được ông chính thức đề xuất trong bài tiểu luận "Synchronicity: An Acausal Connecting Principle" (1952), khái niệm này không chỉ mở rộng biên giới của tâm lý học phân tích mà còn đặt ra những vấn đề triết học sâu sắc về bản thể, ý nghĩa và mối quan hệ giữa chủ thể và thế giới.

🌿 1. Khái niệm và cấu trúc của hiện tượng đồng bộ

Trong ngôn ngữ học thuật của Jung, tính đồng bộ chỉ những trường hợp trong đó hai hay nhiều sự kiện xảy ra đồng thời, không có liên hệ nhân quả trực tiếp, nhưng lại mang một mối liên hệ ý nghĩa sâu sắc đối với chủ thể đang trải nghiệm chúng. Đây không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên đơn thuần (mere coincidence), mà là một kiểu liên kết mang tính biểu tượng và có tính chuyển hóa tâm lý.

Hiện tượng đồng bộ, theo Jung, thường bao gồm hai thành tố chính:

Một hình ảnh nội tâm (đến từ vô thức) xuất hiện trong tâm thức – qua giấc mơ, linh cảm, ý tưởng bất chợt hoặc biểu tượng hóa.

Một sự kiện khách quan xảy ra đồng thời hoặc gần sát về thời điểm, tương ứng rõ rệt với nội dung hình ảnh trên, nhưng không thể quy về mối quan hệ nhân quả.

Chính mối trùng khớp về ý nghĩa giữa hai yếu tố này tạo nên tính chất “đồng bộ”. Trong quan điểm của Jung, đây là cầu nối giữa thế giới nội tại (inner world) và thế giới ngoại tại (outer world), vượt ra khỏi mô hình nhân quả tuyến tính truyền thống của khoa học hiện đại.

🌿 2. Bản thể học về “ý nghĩa” – vượt ra ngoài nhân quả

Tư duy phương Tây hiện đại, chịu ảnh hưởng sâu đậm của Descartes và Newton, thường đặt nền móng trên nguyên lý nhân quả cơ học. Tuy nhiên, Jung cho rằng, thế giới – đặc biệt là thế giới của trải nghiệm con người – không thể chỉ được giải thích bằng nhân quả. Synchronicity là một nguyên lý kết nối “phi nhân quả” (acausal), trong đó “ý nghĩa” đóng vai trò như một lực liên kết thực thể và hiện tượng.

Điều này khiến tính đồng bộ không chỉ là hiện tượng tâm lý, mà còn là một nguyên lý triết học. Nó đặt câu hỏi về bản chất của thực tại: Liệu mọi thứ tồn tại chỉ vì nguyên nhân và kết quả, hay còn có thể vì một “ý nghĩa được hiển lộ”? Ở đây, có thể thấy ảnh hưởng sâu xa từ các truyền thống tư tưởng cổ đại – đặc biệt là triết học cổ Hy Lạp (như chủ nghĩa Tân Platon) và các hệ thống biểu tượng phương Đông – nơi mà thực tại mang cấu trúc biểu tượng hơn là vật lý đơn thuần.

🌿 3. Vô thức tập thể và kiến trúc của biểu tượng

Tính đồng bộ được Jung gắn chặt với học thuyết vô thức tập thể (collective unconscious) – nơi chứa đựng các nguyên mẫu (archetypes): những hình ảnh, biểu tượng, tình huống có tính phổ quát và vượt thời gian, cấu trúc nên tâm thức nhân loại.

Trong các ví dụ được Jung trình bày, như trường hợp bệnh nhân mơ thấy bọ hung vàng và sau đó một con bọ cánh cứng thực sự bay vào phòng, hiện tượng đồng bộ không thể được giải thích bằng xác suất thống kê. Thay vào đó, nó phản ánh sự hiện diện sống động của một biểu tượng nguyên mẫu (symbolic archetype) được “kích hoạt” đồng thời trong nội tâm và ngoại giới. Tính biểu tượng này có khả năng mở ra tiến trình chuyển hóa nội tâm, đặc biệt trong bối cảnh trị liệu phân tích.

🌿 4. Thực tại như một cấu trúc có tầng lớp

Jung không phủ nhận nguyên lý nhân quả, nhưng ông cho rằng đó chỉ là một chiều trong cấu trúc của thực tại. Tính đồng bộ gợi ý rằng thế giới có thể được tổ chức không chỉ theo cơ chế nhân quả, mà còn theo cấu trúc ý nghĩa – một dạng trật tự khác biệt nhưng có sức chi phối mạnh mẽ đối với trải nghiệm con người.
Quan điểm này mở rộng tầm nhìn triết học, cho phép ta xét lại mối quan hệ giữa chủ thể và thực tại theo chiều hướng gần hơn với các truyền thống siêu hình phương Đông – nơi mà “ngoại giới” không hoàn toàn tách biệt với “nội giới”, và biểu tượng đóng vai trò then chốt trong việc cấu trúc thế giới sống (Lebenswelt).

🌿 5. Hào quang của biểu tượng trong Huyền học và Đạo học

Không khó để nhận ra những điểm giao cắt giữa khái niệm Synchronicity và các quan niệm trong Huyền học cổ điển. Trong Dịch học phương Đông, hiện tượng “ứng kỳ” – khi một vấn đề mà nội tâm người hỏi đang băn khoăn, được thể hiện qua Tượng khi lập quẻ Dịch - ứng nghiệm với ngoại cảnh, cũng được lý giải không theo logic nhân quả, mà bằng thứ gọi là “Thiên ý” ẩn trong cấu trúc của tượng số. Khái niệm như cảm ứng, thiên nhân hợp nhất, hay các trải nghiệm thần giao cách cảm, trực giác,... đều phản ánh nền tảng tư tưởng tương tự về một thế giới vận hành theo biểu tượng và cộng hưởng nội – ngoại.

🌿 6. Kết luận: Synchronicity như một bản thể luận về biểu tượng

Khái niệm Synchronicity của Jung không chỉ là một công cụ trong liệu pháp phân tích, mà còn là một hệ hình tư tưởng mời gọi ta tiếp cận thực tại từ lăng kính biểu tượng. Nó đặt ra câu hỏi về bản chất kết nối giữa con người và thế giới, giữa cái “thấy” và cái “là”, giữa hình ảnh nội tâm và biến động ngoại giới.

Thay vì đóng khung thực tại trong các chuỗi nhân quả, Jung gợi mở một viễn tượng đa tầng hơn – nơi “ý nghĩa” trở thành nguyên lý liên kết sâu xa, thậm chí nền tảng – của tồn tại.

Quy Chân

---

Tài liệu tham khảo:
Jung, C. G. (1952). Synchronicity: An Acausal Connecting Principle. Princeton University Press (CW Vol. 8).

Main, R. (2004). The Rupture of Time: Synchronicity and Jung's Critique of Modern Western Culture. Brunner-Routledge.

Pauli, W. (1955). The Influence of Archetypal Ideas on the Scientific Theories of Kepler. In: The Interpretation of Nature and the Psyche.

Peterson, D. (2012). "Synchronicity: Jung and the Problem of Coincidence." Journal of Analytical Psychology.

18/02/2026

Thư viện Quy Chân xin kính chúc anh chị có một năm Bính Ngọ thật nhiều sức khoẻ, học hành tinh tấn, vạn sự như ý, mã đáo thành công! ❤️

14/02/2026

Con người không thể sống mà không có “Tình”.

Tình, chữ Hán viết 情, là những cảm xúc và trạng thái nội tâm nảy sinh nơi con người khi tiếp xúc với sự vật và con người khác, ví như vui, buồn, thương, ghét, ham muốn, luyến lưu. Đây là chữ hình thanh, bên trái là bộ Tâm 忄 cho ý, bên phải là chữ Thanh 青 cho âm. Người xưa quan niệm Tình là phản ứng phát sinh tự nhiên của tâm trước ngoại vật. Vì nó có sẵn trong mỗi người, không do học hay rèn luyện mà thành, nên không được xem là chuẩn mực đạo đức tự thân.

Phần chú giải của sách Thuyết Văn có giảng: “Tình là dục của con người”. Lễ Ký gọi bảy trạng thái hỉ, nộ, ai, cụ, ái, ố, dục là “bất học nhi năng”, tức những thứ không cần học mà vẫn có. Điều này cho thấy Tình vốn có sẵn, không sinh ra do giáo hóa nên các loại tình không thuộc phạm trù đạo đức và cũng không tự mang giá trị thiện hay ác. Việc điều tiết tình được giao cho lễ và các quy phạm xã hội.

Tình là một chữ vô cùng quen thuộc, tạo nên hàng loạt từ ghép trong kho tàng tiếng Việt. Những từ thường gặp như tình yêu, tình cảm, tình ý, chung tình, nhiệt tình, tình duyên, tội tình, thương tình, tài tình, phong tình,... hay tình hình, tình huống, đồng tình, biểu tình,... đều dùng nghĩa của chữ Tình này. Đây cũng chính là những nét nghĩa phổ biến nhất của chữ Tình trong tiếng Việt.

Trong số các lớp nghĩa ấy, tình yêu đôi lứa là một dạng Tình được đưa vào văn chương, âm nhạc và nghệ thuật rất nhiều. Bởi đây là thứ tình cảm dễ gợi cảm xúc, tạo rung động và thường trở thành nguồn cảm hứng lớn cho việc sáng tác. Có lẽ đó là lý do mà vào ngày 14 tháng 02, chữ Tình được nhắc đến nhiều hơn thường lệ. Cảm xúc là thứ đáng được thừa nhận và trân trọng, nên đây cũng là dịp để con người cho phép mình lắng nghe những rung động khẽ khàng đang hiện diện trong đời.

Giữa nhịp sống vội vã, việc còn biết thương nhớ và hướng lòng mình về một ai đó, tự thân nó đã là một điều đáng quý. Chúc cho những người đang yêu giữ được sự tử tế và dịu dàng dành cho nhau mỗi ngày. Chúc những người đã sẵn sàng để yêu có đủ dũng khí mở lòng, đón nhận mối duyên lành đúng lúc. Với những ai chưa sẵn lòng để yêu, mong rằng mọi người có thể vui vẻ, tự tại, chớ vì nhất thời muốn gắn với một ai đó mà vội vàng hay tự ép buộc mình. Chúc rằng dù chúng ta chọn lựa ra sao, mỗi người đều sẽ thật an nhiên và hạnh phúc.

Và nhớ là đừng “ăn chè đậu đỏ để cầu tình duyên” nha :))
___

Bài viết: Khánh Ly
Hình ảnh: Tình, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

11/02/2026

Tiết đã Lập Xuân, trời đất bắt đầu một chu kỳ mới, còn con người vẫn đang ở những ngày cuối năm. Lòng cố thu gọn những điều cũ, mà bên trong đã lặng lẽ khởi sinh một sự bắt đầu.

Ứng dụng ý nghĩa tướng mặt cốt lộ, cốt ẩn trong công việc 28/01/2026

Âm Dương là tiên đề căn bản của Huyền học. Đôi khi chẳng cần nhiều kiến thức cầu kỳ, chỉ cần nhìn Nhân tướng dưới góc độ Âm Dương thôi đã có thể luận ra nhiều nét về tâm tính và số mệnh của một người.
Quy Chân xin gửi tới anh chị một bài viết về phần ứng dụng của Âm Dương - tức cặp cốt ẩn, cốt lộ - trong Nhân tướng.

Ứng dụng ý nghĩa tướng mặt cốt lộ, cốt ẩn trong công việc Cổ nhân có câu: "Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng". Chúng ta có thể nhận thấy, người xưa luôn đánh giá kỹ lưỡng một người trước khi thiết lập mối quan hệ...

Sống không mục đích 14/01/2026

"kẻ học vì một mục đích nào đó, sẽ tự giới hạn hiểu biết của mình trong chính cái mình đề ra".

Sống không mục đích Người ta bảo nhau, sống phải có mục đích.Sống có mục đích cần rất nhiều dũng khí để theo đuổi. Sống có lý tưởng lại càng cần nhiều dũng khí hơn.Tuy nhiên,...

01/01/2026

Thư viện Quy Chân xin kính chúc anh chị em và gia đình có một năm 2026 thật nhiều sức khoẻ, tri thức và thành công rực rỡ! ❤️

Ý nghĩa thời điểm sinh và ứng dụng trong việc luận đoán Tử vi 27/12/2025

Khi xác định nghiên cứu Tử vi lên đến tầng bản chất, người học cần hiểu được ý nghĩa ẩn sau các công thức tính trong Tử vi. Quy Chân xin chia sẻ một góc nhìn về ý nghĩa thời điểm sinh trong bài viết dưới đây.
Chúc anh chị em một cuối tuần thật ấm áp và gặt hái được nhiều tri thức!

Ý nghĩa thời điểm sinh và ứng dụng trong việc luận đoán Tử vi Để lập một lá số Tử vi đòi hỏi phải biết chính xác giờ, ngày, tháng, năm sinh của người cần lập. Nhưng để nghiên cứu Tử vi chuyên sâu, ta cần tìm hiểu ý ng...

Photos from Cổ học Quy Chân's post 22/12/2025

Chúng điểu cao phi tận,
Cô vân độc khứ nhàn.
Tương khan lưỡng bất yếm,
Chỉ hữu Kính Đình san.

11/12/2025

Năm 2004, Bảo tàng Anh quốc công bố tấm bản đồ sao cổ hoàn chỉnh nhất thế giới, tìm thấy ở Đôn Hoàng, Trung Quốc năm 1907, được làm vào đời Đường, khoảng năm 600. Tấm bản đồ là một cuộn giấy rộng 25cm, dài 2,1m vẽ và chú thích tên chi tiết bằng tiếng Hán 1345 ngôi sao, phân thành 257 chòm. Cho đến tận thời Phục Hưng ở châu Âu, trước khi có kính thiên văn, chưa bao giờ có một bản đồ sao chính xác và chi tiết đến thế. Trong đó có nhiều ngôi sao gần như không thể thấy được bằng mắt thường.

Đây là sự kiện thú vị với những nhà khảo cổ, nhưng thực ra không lạ đối với các nhà thiên văn học, bởi từ thời thượng cổ, những người phương Đông, mà cụ thể là người Trung Hoa đã hình thành và phát triển khoa học thiên văn với trình độ rất cao mà những thành tựu đã được ghi nhận cho đến ngày nay.

Với đặc trưng nền nông nghiệp lúa nước, có thể nói mọi người nông dân đồng bằng Hoàng Hà đều đã là những người quan sát tự nguyện để phục vụ việc canh tác. Khi các hình thức nhà nước được thiết lập, vì mê tín và muốn củng cố địa vị “con trời”, nên một trong những việc đầu tiên của các vị Thiên tử là tập hợp những người có kiến thức thiên văn phù trợ cho mình trong việc mong muốn tìm hiểu ý trời. Ngay từ khoảng năm 2000 trước Công nguyên (TCN), các đài quan sát thiên tượng đã được dựng ở kinh đô các quốc gia sơ khai. Lúc Tần Thủy Hoàng lên ngôi (221 TCN), đã ra lệnh đốt sách Nho giáo và các tư tưởng. Tuy sách thiên văn thuộc về bói toán, nằm ngoài danh sách phải hủy, nhưng cũng rất nhiều quyển đã chịu chung số phận, nên những gì còn lại về thời trước đời Tần chỉ rất rời rạc và hạn chế. Sau đó chính Tần Thủy Hoàng cũng trọng dụng ngay 300 người làm nghề xem sao. Dù lúc đầu chỉ là xem sao, tính lịch và bói toán, nhưng dần dần với thiên hướng ghi chép lại mọi sự vật hiện tượng diễn ra, các chiêm tinh gia đã chuyển thành nhà thiên văn học, đứng đầu là các quan Thái sử, đảm nhiệm chép sử, xem thiên tượng, làm lịch, tính ngày, xem địa lý và cả khí tượng.

Các ý kiến về quan sát thiên văn sớm nhất ở Trung Hoa không thống nhất. Có người đẩy về tận năm 6000 TCN, mà dấu tích còn lại trên một vài vách đá, hoặc một số bài thơ truyền miệng. Đa số cho rằng nó vào khoảng thế kỷ 24 TCN, với dấu tích là các giáp cốt văn (ghi trên xương thú, mai rùa). Các ghi chép bắt đầu rõ ràng vào khoảng đời nhà Thương - 1500 TCN. Thời điểm này có có ý kiến là do có sự giao lưu với văn hóa Babylon, tuy nhiên trong khi nền văn hóa Babylon gần như không còn để lại dấu tích nào về thiên văn, thì người Trung Hoa lại gìn giữ những ghi chép liên tục cho đến tận ngày nay.

Trước sự hỗn độn, không thống nhất, không đối xứng của các vì sao, người Trung Hoa gọi bầu trời nói chung là Hỗn Thiên. Từ Thiên Văn mà ta dùng ngày nay, mang nghĩa “Hình tượng trên bầu trời”.

Trước khi có phát hiện về bản đồ sao Đôn Hoàng, bản đồ sao hoàn chỉnh sớm nhất của loài người được ghi nhận là bản đồ sao đời Bắc Tống, vẽ vào thời Nguyên Phong (1078 - 85), được khắc lên bia đá năm 1247, đặt trong khu đền Khổng Tử, đến nay vẫn còn nguyên vẹn. Trên tấm bia Thiên Văn đồ đó chia rõ phương vị, cung độ, gồm 1434 vì sao được chia thành các chòm, có đủ Hoàng đạo, Thiên xích đạo, Ngân hà. Bên dưới là bài văn bia 209 chữ chép rõ về các kiến thức thiên văn.

Cho đến triều Thanh, người Trung Hoa đã quan sát và ghi lại khoảng 3000 ngôi sao có cấp độ sáng từ 6 trở lên, phân thành 283 chòm sao. Khác với các chòm sao của Hy Lạp đặt tên theo các vị thần hoặc anh hùng thần thoại, các chòm sao ở phương Đông mang tên tất cả những gì thuộc về cuộc sống; từ tên các chức tước trong triều đình, tên các vùng đất, các nghề nghiệp, cho đến con vật như trâu bò, đồ vật như cái cày, cái đấu. Họ không giải thích các hiện tượng, mà chỉ đơn giản là quan sát và ghi nhận chúng, coi đó là khách quan của “Trời”.

Trong khoảng thời gian từ 12 tháng 12 năm 146 TCN cho đến 3 tháng 2 năm 1761 các quan sát thiên văn liên tục của Trung Hoa đã ghi lại thời gian, đặc điểm 173 hiện tượng rất đặc biệt trên bầu trời, gồm 66 lần Nhật thực, 83 hiện tượng bùng nổ của các ngôi sao, 24 hiện tượng khác. Tất cả các quan sát đó đã được thiên văn học hiện đại kiểm chứng, và không có trường hợp nào sai lệch.
Hiện tượng Nhật thực lần đầu tiên được ghi lại là vào năm 2136 TCN:

“Năm thứ 5 đời Trọng Khang nhà Hạ, mùa thu, hạ tuần tháng 9, ngày Canh Tuất, có hiện tượng Nhật thực”

Khi có Nhật thực, người Trung Hoa tin rằng đó là do mặt trời bị ăn mất (thực - ăn), nên làm lễ cầu nguyện, cúng bái, dùng âm thanh để “xua đuổi quái vật ăn mặt trời”. Hiện tượng Nguyệt thực thường xảy ra hơn, nên cũng ít được chú ý hơn. Lần ghi chép về nguyệt thực đầu tiên là năm 1065 TCN. Sau đó họ ghi lại khoảng 1000 lần nguyệt thực nữa cho đến cuối triều Thanh.

Một tài liệu đời Tây Hán (TK 2 TCN) tìm được năm 1973 ghi rõ chu kỳ của Sao Kim là 584,4 ngày, Sao Mộc là 377 ngày, Sao Thổ là 594,4 ngày, chỉ sai lệch so với kết quả tính toán hiện đại chưa đến 0,3 ngày. Đời Hán Cao Tổ, hiện tượng 5 hành tinh của Hệ mặt trời ở vị trí thẳng hàng đã được gọi là “Chuỗi ngọc 5 sao”. Vào khoảng năm 484 TCN, các tính toán cũng xác định độ dài chính xác của một năm là 365,25 ngày, là cơ sở cho việc đặt hệ thống Âm-dương lịch khá hoàn chỉnh. Hệ thống lịch này được điều chỉnh một số lần, càng về sau càng chính xác.

Tuệ tinh (Sao chổi) được quan sát sớm nhất thế giới, từ năm 613 TCN. Trong một lăng mộ cổ từ thế kỷ 5 TCN được khai quật năm 1973 có cuộn lụa vẽ lại 29 ngôi sao chổi, thành quả quan sát hơn 300 năm. Trong đó có ngôi có 2 đuôi, ngôi có đuôi thẳng và dài, có ngôi lại có đuôi móc câu. Họ cũng nhận xét là hầu hết các sao chổi có đuôi bay ngược chiều mặt trời, và cho rằng đó là Thiên khí từ mặt trời thổi ra.

Ngôi sao chổi Halley xuất hiện năm 240 TCN (năm thứ 7 đời Tần Thủy Hoàng) đã quay lại vào năm 164 TCN, rồi lại được nhìn thấy vào những năm sau đó, đã giúp các nhà thiên văn Trung Hoa tìm ra chu kỳ 76 năm của nó. Thực ra quan sát thấy sao chổi đầu tiên năm 613 TCN (ghi trong Kinh Xuân thu) chính là Halley, nhưng bị gián đoạn. Quĩ đạo của hơn 40 sao chổi đã từng xuất hiện cũng được ghi lại cẩn thận trong các bản đồ cổ, đặc biệt năm 600, một sao chổi được ghi lại là “sáng như mặt trăng”. Trong toàn bộ thời phong kiến, từ thời Ân đến 1911, có 360 văn bản ghi lại sự xuất hiện của sao chổi, trong đó sao chổi Halley là 31 lần.

Một quan sát đặc biệt quan trọng của người Trung Hoa đó là sao Khách – những vì sao sáng rực lên trong một thời gian ngắn rồi tối đi, giống như người khách qua đường. Ngày nay ta gọi đó là các Siêu tân tinh. Quan sát đầu tiên trên thế giới của họ được ghi lại là năm 14 TCN.

Hiện tượng nổi tiếng nhất là vào đời nhà Tống. Ngày 4 tháng 6 năm 1054, một ngôi sao bống rực sáng trên bầu trời phía đông, thậm chí thấy rõ trong ánh sáng ban ngày suốt 23 ngày khiến người Trung Hoa kinh hoàng. Các quan khâm thiên quan sát suốt ngày đêm không nghỉ, cho đến khi nó tối hẳn vào cuối tháng 4 năm 1056, sau 643 ngày bùng nổ. Vị trí của nó ở gần Hoàng đạo và sao Tất (Zeta Taurius), ngày nay Siêu tân tinh đó được biết đến dưới cái tên Crab Nebula, và đến năm 1968 vẫn còn tiếp tục phun vật chất vào vũ trụ.

Năm 2001, các nhà thiên văn NASA đã có bằng chứng về một sao pulsar trong chòm Sagittaurius, tại đúng vị trí mà năm 386 người Trung Quốc đã ghi nhận là có hiện tượng bùng nổ của một siêu tân tinh rất lớn. Đây là ngôi sao pulsar thứ hai được tính chính xác tuổi là 1615 năm cho đến thời điểm được phát hiện.

Ngoài ra, Trung Hoa cũng là nơi đầu tiên phát hiện về Vết mặt trời và ghi chép mưa thiên thạch. Quan sát đầu tiên là vào thế kỷ 4 TCN, tiếp theo là vào năm 165 TCN, vết đen được ghi lại là có hình chữ Vương, và cho đến năm 1638, họ ghi lại 112 lần hiện tượng này. Khi đó họ đoán là có ngôi sao nào đó xuất hiện trên mặt trời. Những quan sát tương tự ở châu Âu đến năm 807 mới có. Hiện tượng quầng lửa trên mặt trời cũng được quan sát thấy, họ mô tả mặt trời căng phồng lên, những đốm lửa bùng lên.

Tuy vậy, trong các văn bản cổ, cũng có những sai lệch. Đặc biệt là có khoảng 10 chỗ phi lý đến đáng ngờ. Cuối cùng các nhà khoa học cũng tìm ra được nguyên nhân. Đó là sự sai lệch có chủ ý của các quan thiên văn. Khi biết vua chúa thường tin vào các điềm báo của bầu trời, họ đã cố tình sửa các quan sát của mình để trục lợi. Chẳng hạn, đời Hán Thành đế, quan khâm thiên được đút lót đã thay sao Thương vào vị trí Hỏa Tinh, và tuyên bố sắp có kẻ mưu sát vua, khiến ông vua mê tín đã xuống tay hạ sát mấy vị đại thần. Tương tự như vậy, sao Thiên Lang – vốn được coi là nơi thể hiện điềm báo – thường được gán cho các màu sắc đặc biệt để báo trước tai họa hay phúc lành, dù rằng ngôi sao sáng nhất bầu trời này không bao giờ thay đổi màu sắc. Những sai lệch này có nguyên nhân chính trị và mê tín hơn là do quan sát.

Việc sử dụng Thiên tượng như là điềm báo trước rất phổ biến, đặc biệt cho triều đình phong kiến, nên nó được lợi dụng không ít lần. Các hiện tượng sao Chổi, Nhật thực, sao Khách đều gây xáo trộn nhất định. Nhưng cũng vì thế mà nó được ghi chép lại rất tỉ mỉ, để lại cho đời sau những tài liệu vô giá.

Cùng với các quan sát tỉ mỉ, các hệ thống công trình cũng được triều đình cho xây dựng. Đầu công nguyên, nhà Hán đã xây dựng một loạt đài thiên văn dọc theo Trường thành để đo thời gian và chuyển động của các thiên thể. Theo một số học giả thì hệ thống các đài định vị này còn mở rộng khắp đất Trung quốc, xuống tận miền nam đến Việt Nam, thậm chí cột đồng Mã Viện cũng chỉ là cột định vị của hệ thống này (Trần Đai Sĩ, 2001). Thậm chí có tài liệu viết rằng vào khoảng năm 721-725, dưới thời Đường, một hệ thống cột định vị (gnomon) được dựng theo hướng Bắc - Nam, cận nam từ tận miền Trung Việt Nam, cực bắc lên đến sát Trường Thành. Cột đồng lớn nhất được dựng năm 1276 đời Tống, cao đến 12 m.

Do nhận ra chu kỳ quay tròn của bầu trời, người Trung Hoa cũng chia vòng tròn thiên cầu thành các độ, tuy nhiên độ này ứng với các ngày trong năm, nên một vòng tròn có 365 và ¼ độ. Vào đầu công nguyên họ cũng tính ra độ dài của 1 cung kinh độ là khoảng 155 km, đến đời Đường (TK 7) họ tính lại là 123.7 km (thực tế khoảng 111 km)

Cũng như nhiều kiến thức khoa học, Thiên văn học cũng chịu sự tác động qua lại của các nền văn minh khác. Sự tác động sớm nhất là thiên văn Babylon, thông qua con đường tơ lụa (khoảng thế kỷ 1, 2 TCN), sau đó chịu ảnh hưởng rất mạnh của Ấn Độ, thông qua Phật giáo (đầu CN). Đến cuối TK 13 thì tư tưởng thiên văn Hồi giáo truyền vào cùng với sự bành trướng của đế quốc Nguyên Mông, và thế kỷ 16 là thiên văn phương Tây, theo chân các nhà truyền giáo. Những công trình thiên văn cổ của Trung Quốc tại Bắc Kinh còn lại ngày nay được xây dựng trong triều Minh và Thanh. Đến triều Thanh thì lịch pháp đã dựa rất nhiều vào kiến thức phương Tây, và các đài thiên văn đều có bàn tay của giáo sĩ nước ngoài.

🌞 NHỮNG CÔNG TRÌNH CỔ CÒN SÓT LẠI

Công trình cổ sớm nhất còn lại hiện nay là đài thiên văn ở Nam Kinh, được thiết kế và xây dựng vào những năm 1231-1314 đời Tống. Cùng thời đó nhà Tống còn cho xây thêm 4 đài thiên văn nữa rải rác khắp đất nước. Thiên Văn đồ cũng được vẽ và khắc vào giai đoạn này. Sau này một số thiết bị quan trắc được dựng tại đài Nam Kinh theo bản vẽ cổ.

Năm 1442, triều đình nhà Minh cho xây tại Bắc Kinh đài thiên văn bằng đá cao 14 m, trên đó có các thiết bị bằng đồng dành cho quan sát thiên tượng, gồm các vòng tròn dựng trên giá gồm những con rồng, một cột đồng đo bóng mặt trời để tính thời gian, và một thiên cầu. Trong những năm sau đó, các thiết bị dùng để vẽ lại vị trí các thiên thể được thêm vào.

Đến triều nhà Thanh (1673), những thiết bị dùng để đo góc giữa các vì sao làm bằng đồng chạm khắc cầu kỳ được dựng thêm lên. Khung hỗn thiên gồm thiên xích đạo, hoàng đạo, và một thiên cầu đường kính hơn 1 m chạm nổi các chòm sao, dùng để mô tả chuyển động của các hành tinh, tính toán thời gian.

Những thiết bị này đều có giá đỡ là những con rồng, con vật huyền thoại thống lĩnh bầu trời. Công trình này có sự góp sức rất lớn của nhà truyền giáo Ferdinand Verbiest. Ngày nay đây là điểm tham quan hấp dẫn khách du lịch.

Cùng với các phát minh quan trọng như La bàn, thuốc nổ, giấy và nghề in, những thành tựu nghiên cứu về thiên văn vũ trụ, lịch pháp, dù với mục đích nào, cũng đã để lại cho hậu thế những kho tri thức vô giá. Những kiến thức đó là chung cho nhân loại chứ không riêng quốc gia, dân tộc nào.

Theo: thuvienthienvan.org

Want your school to be the top-listed School/college in Hanoi?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Telephone

Address


61 Lê Duẩn, Hoàn Kiếm
Hanoi
100000