Luyện thi Ngữ Văn -Thầy Hòa

Luyện thi Ngữ  Văn -Thầy Hòa

Share

Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Luyện thi Ngữ Văn -Thầy Hòa, Education, Hanoi.

25/08/2026

PHÂN BIỆT ĐẶC ĐIỂM NHÂN VẬT VÀ DIỄN BIẾN TÂM TRẠNG

Có một lỗi rất nhiều học sinh mắc phải khi làm bài Văn. Đề yêu cầu:

“Phân tích đặc điểm của nhân vật.” nhưng học sinh lại viết: “Ban đầu nhân vật lo lắng, sau đó thất vọng và cuối cùng trở nên vui mừng.” Câu trả lời này đang nêu diễn biến tâm trạng, chưa làm rõ đặc điểm của nhân vật.

1. KHÁI NIỆM

- Đặc điểm nhân vật là những nét nổi bật về ngoại hình, tính cách, phẩm chất, suy nghĩ và hành động của nhân vật.

- Diễn biến tâm trạng là sự thay đổi cảm xúc của nhân vật theo từng thời điểm hoặc sự việc.

Nói đơn giản:

- Đặc điểm nhân vật = nhân vật là người như thế nào.

- Diễn biến tâm trạng = cảm xúc của nhân vật thay đổi ra sao.

2. VÍ DỤ

Một nhân vật dù gặp nguy hiểm vẫn bình tĩnh cứu giúp người khác.

- Đặc điểm nhân vật: Nhân vật là người dũng cảm, bình tĩnh và giàu lòng nhân ái.

- Diễn biến tâm trạng: Ban đầu nhân vật lo lắng khi nhìn thấy người gặp nạn, sau đó quyết tâm hành động và cuối cùng nhẹ nhõm khi người ấy được an toàn.

Có thể thấy:

- Đặc điểm nhân vật cho biết nhân vật có phẩm chất gì?

- Diễn biến tâm trạng cho biết cảm xúc thay đổi theo trình tự nào.

3. DẤU HIỆU NHẬN BIẾT TRONG ĐỀ THI

Nếu đề hỏi:

- Nhân vật là người như thế nào?

- Nêu đặc điểm của nhân vật.

- Phân tích phẩm chất của nhân vật.

- Qua hành động, lời nói, nhân vật hiện lên ra sao? thì trả lời về ĐẶC ĐIỂM NHÂN VẬT.

Nếu đề hỏi:

- Tâm trạng của nhân vật thay đổi như thế nào?

- Diễn biến cảm xúc của nhân vật ra sao?

- Nhân vật có tâm trạng gì trước và sau sự việc?

- Phân tích sự thay đổi trong cảm xúc của nhân vật.

thì trả lời về DIỄN BIẾN TÂM TRẠNG.

4. MẸO KHÔNG NHẦM

Nếu đề hỏi về đặc điểm nhân vật, hãy tìm:

- Lời nói

- Hành động

- Suy nghĩ

- Cách ứng xử

Từ đó khái quát thành phẩm chất như: nhân hậu, dũng cảm, ích kỉ, trách nhiệm, hiếu thảo...

Nếu đề hỏi về diễn biến tâm trạng, hãy tìm:

- Ban đầu nhân vật cảm thấy gì?

- Sau đó cảm xúc thay đổi thế nào?

- Cuối cùng nhân vật có tâm trạng ra sao?

Diễn biến tâm trạng phải được trình bày theo đúng trình tự của câu chuyện
- Suy nghĩ

- Cách ứng xử

Từ đó khái quát thành phẩm chất như: nhân hậu, dũng cảm, ích kỉ, trách nhiệm, hiếu thảo...

Nếu đề hỏi về diễn biến tâm trạng, hãy tìm:

- Ban đầu nhân vật cảm thấy gì?

- Sau đó cảm xúc thay đổi thế nào?

- Cuối cùng nhân vật có tâm trạng ra sao?

Diễn biến tâm trạng phải được trình bày theo đúng trình tự của câu chuyện.

5. GHI NHỚ NHANH

Đặc điểm nhân vật = nhân vật là người như thế nào (Phẩm chất gì?)

Diễn biến tâm trạng = cảm xúc thay đổi ra sao (Cảm xúc thay đổi thế nào?)

Phụ huynh hãy lưu lại để giúp con đọc đúng yêu cầu của đề và chia sẻ tới những học sinh vẫn đang nhầm giữa đặc điểm nhân vật với diễn biến tâm trạng nhé!
Nguồn: Sưu tầm

24/08/2026

Tô Hoài – trò đúc dế, tôi rành lắm!
Bạn mê thế giới tuổi thơ trong truyện của Tô Hoài, đặc biệt là Dế mèn phiêu lưu kí đầy thú vị? Sau đây, hãy cùng khám phá sâu hơn về Tô Hoài và câu chuyện giản dị nhưng đậm chất văn!
Viết truyện về con dế vì tuổi thơ thường chơi dế mèn ở bờ sông Tô Lịch, nhưng Tô Hoài gửi gắm trong truyện đồng thoại những tư tưởng của thế hệ mình.

•Nhờ “Dế mèn…” mà tôi được phiêu lưu

Năm 17 tuổi, khi vừa mới thôi học còn đang lang thang tìm việc, tôi đã bắt đầu sáng tác, vừa làm thơ vừa viết văn xuôi. Tôi vẫn thích thơ, nhưng thấy mình viết văn xuôi hay hơn.
Con dế mèn là tác phẩm đầu tiên của tôi được nhà xuất bản Tân Dân in. Đầu tiên đó là một tuyển tập gồm khoảng 20 truyện ngắn. Ngay sau khi tác phẩm được in một thời gian, ông Vũ Đình Long, giám đốc của NXB Tân Dân, gọi tôi lên chơi và nói chuyện.

Lúc đó tôi 21 tuổi, được mời đến nói chuyện thì thấy vinh hạnh lắm, đã vậy còn được tán dương. Ông ấy bảo, bạn đọc rất thích và NXB Tân Dân đặt tôi viết thêm viết cho dài ra. Tôi sướng lắm.

Nhuận bút của Con dế mèn là 5 đồng, lúc đó một tạ gạo chỉ có 3 đồng. Lĩnh nhuận bút tôi sắm ngay bộ quần áo tây và đi dép nilông thay cho bộ quần áo dài và đôi guốc mộc.

Tôi bắt tay ngay vào việc viết tiếp Con dế mèn để thành Dế mèn phiêu lưu kí như hiện nay. Với nhuận bút 25 đồng của Dế mèn phiêu lưu kí, lại xin được thẻ nhà báo tôi cũng bắt đầu chuyến phiêu lưu đầu tiên của mình khắp Bắc – Trung – Nam rồi Việt – Miên – Lào. Vừa đi đường vừa viết báo gửi về lấy tiền nhuận bút đi tiếp.

Chính cảm hứng phiêu lưu trong tôi đã giúp tôi viết được Dế mèn phiêu lưu kí, nhưng chính nhờ Dế mèn phiêu lưu kí mà tôi được phiêu lưu một cách thực sự. Theo như tôi được biết cho đến nay tác phẩm đầu tay này của tôi đã đi du ngoạn ở 37 nước, tôi là tác giả của nó mà còn đi chưa được bằng từng đấy.

• Những trò đúc dế, đấu dế tôi rành lắm

Tôi chọn nhân vật dế mèn vì có một thực tế hết sức dữ dội, đó là tôi chơi dế mèn trên bờ sông Tô Lịch.

Lúc đó Hà Nội không như Hà Nội bây giờ. Tôi ở Nghĩa Đô lúc đó Hồ Tây, sông Tô Lịch, những cánh đồng lúa làng Bái Ân, làng Nghĩa Đô, làng Hồ, làng An Thái… còn là thiên đường của trẻ con, chúng tôi có thể chơi suốt ngày ở ngoài đấy.

Những trò đúc dế, đấu dế tôi rành lắm, đến chân tơ kẽ tóc. Toàn bộ không gian của Dế mèn phiêu lưu kí chính là ở vùng ngoại ô ấy. Tôi đã tả, kể dế mèn bằng chính những kinh nghiệm đấy.

Khi viết Dế mèn, tôi có hai cuốn sách gối đầu giường là Gulivơ du kí (Jonathan Swift) và Con chim xanh (Maurice Maeterlinck). Chính cảm hứng từ hai cuốn sách đã khơi gợi trong tôi những tò mò về thế giới bên ngoài và ước muốn được phiêu lưu. Cả hai điều này nhuần nhuyễn trong tôi. Dế mèn phiêu lưu kí không phải là chuyện đồng thoại đơn thuần, mà mang những tư tưởng của chúng tôi thời đó.

Dế mèn hôm nay được 70 tuổi, mọi người cũng hay hỏi là bí quyết để thành công? Tôi cũng thú thật là tôi cũng không hiểu. Tôi viết Dế mèn vì cái tự do tư tưởng, tự do hiểu biết của mình. Tôi hết sức yêu cái thực tế của tôi, từ tình yêu đó mà tôi có thể sáng tạo.

• 70 năm kỉ niệm cùng “Dế mèn phiêu lưu kí”

Tôi có nhiều kỉ niệm với Dế mèn phiêu lưu kí này ngoài hai kỉ niệm tôi vừa kể.
Dế mèn khi in ở Thái Lan, còn được sản xuất thành đồ chơi bằng nhựa, họ có tặng tôi. Còn ở Đức người ta in kèm sách một cuốn từ điển về dế mèn với tiểu sử khoa học của các nhân vật dế mèn, dế trũi… Còn ở Tula (Nga) có cháu bé viết thư cho tôi thắc mắc rằng “trong sách thấy có tả ‘con dế mèn răng trắng tẩy’ nhưng cháu xem sách khoa học thì dế mèn răng đen chứ không phải răng trắng”, thế là những lần in sau tôi phải sửa lại là “răng xám mờ”.

Có một may mắn, từ những bản in đầu tiên của Dế mèn phiêu lưu kí đến nay, chưa bản in nào không có minh hoạ. Bản in đầu tiên trong tủ sách Truyền bá của Tân Dân Con dế mèn và về sau là Dế mèn phiêu lưu kí do hoạ sĩ Nguyệt Hồ vẽ, về sau còn có rất nhiều bản vẽ khác của Ngô Mạnh Lân, Trương Qua và sau này là Tạ Huy Long.

Mỗi bản vẽ tôi đều có những điều tâm đắc riêng, nó đều có nhiều điều ăn ý với tôi. Cách đây không lâu anh Dương Trung Quốc có giới thiệu cho tôi một nhóm kiến trúc sư, nhà điêu khắc miền Nam họ đang có dự định là sẽ làm dế mèn bằng các chất liệu đồng, đá, gỗ… dựng trong công viên. Tôi vẫn đang chờ được nhìn thấy khu vườn tượng của dế mèn.

Bài viết được chọn lọc và trích dẫn từ bài phỏng vấn nhà văn Tô Hoài của Giáng Ngọc, đăng trên new.zing.vn ngày 27/09/2019 –
Photo: new.zing.vn

23/08/2026

MỞ KHÓA VĂN CHƯƠNG

“Văn học không quan tâm đến câu trả lời do nhà văn đem lại, mà quan tâm đến những câu hỏi do nhà văn đặt ra và những câu hỏi này luôn rộng hơn bất kì câu trả lời cặn kẽ nào.”

Có những tác phẩm mà khi khép lại trang sách cuối cùng, người đọc vẫn còn lưu luyến bởi những câu chuyện đẹp đẽ đã đi qua. Nhưng cũng có những tác phẩm, càng đọc, con người càng nhận ra rằng điều đọng lại không phải là một đáp án hoàn chỉnh, mà là vô vàn những suy tư chưa có điểm dừng. Bởi lẽ, văn chương đích thực chưa bao giờ là nghệ thuật của những lời giải đáp tuyệt đối, mà là hành trình không ngừng khơi mở những vấn đề thuộc về con người và cuộc sống. Chính vì thế, nhận định: “Văn học không quan tâm đến câu trả lời do nhà văn đem lại, mà quan tâm đến những câu hỏi do nhà văn đặt ra và những câu hỏi này luôn rộng hơn bất kì câu trả lời cặn kẽ nào” đã chạm đến một trong những giá trị sâu xa nhất của văn học: sức mạnh của sự gợi mở và khả năng đánh thức những suy tư bất tận trong tâm hồn con người.

Ta cần hiểu rằng “câu trả lời” ở đây không đơn thuần là những lời giải thích hay những kết luận mà nhà văn muốn truyền đạt, còn "những câu hỏi” chính là những trăn trở, những vấn đề mà nhà văn đặt ra về thân phận con người, về lẽ sống, về hạnh phúc, về tình yêu thương hay những giới hạn của cuộc đời. Nhận định đã khẳng định một chân lí sâu sắc: văn học không tồn tại để áp đặt chân lí, mà tồn tại để khơi dậy khả năng suy tư của con người trước những vấn đề muôn thuở của nhân sinh.

Cuộc sống vốn dĩ chưa bao giờ là một đường thẳng đơn giản. Nó là một thế giới đa diện, đầy những khoảng sáng - tối đan xen, những nghịch lísong hành và những giá trị luôn vận động theo thời gian. Chính vì vậy, không một nhà văn nào có thể đưa ra một đáp án trọn vẹn cho mọi vấn đề của cuộc đời. Thiên chức của người nghệ sĩ không phải là đứng trên cao để ban phát chân lí, mà là trở thành người gieo những hạt mầm suy tưởng vào tâm hồn độc giả. Một tác phẩm lớn không khiến người đọc thốt lên: “À, mọi thứ đã được giải đáp", mà khiến họ phải tự hỏi: "Liệu cuộc sống còn điều gì sâu xa hơn thế nữa hay không?".

Bởi vậy, giá trị của văn chương không nằm ở việc nó trả lời được bao nhiêu câu hỏi, mà nằm ở việc nó khơi dậy được bao nhiêu trăn trở sau khi tác phẩm đã khép lại. Một câu trả lời, dù cặn kẽ đến đâu, cũng có thể bị giới hạn bởi thời gian và hoàn cảnh lịch sử, nhưng một câu hỏi lớn về con người thì luôn có khả năng vượt qua mọi ranh giới của thời đại để tiếp tục sống trong suy tư của nhiều thế hệ.

Đọc Vợ nhặt của Kim Lân, điều còn ở lại không chỉ là câu chuyện về một người đàn ông nghèo “nhặt” được vợ giữa nạn đói năm 1945. Điều khiến người đọc day dứt hơn cả là những câu hỏi mà tác phẩm để lại: Điều gì đã giúp con người vẫn còn đủ lòng tin để hướng về sự sống trong những ngày tháng cận kề cái chết? Điều gì khiến con người vẫn lựa chọn yêu thương khi bản thân còn chưa đủ đầy? Liệu tình người có đủ sức mạnh để nâng đỡ con người vượt qua những thời khắc khắc nghiệt nhất của số phận hay không? Kim Lân không trực tiếp trả lời, nhưng chính sự lặng lẽ ấy lại khiến người đọc tư tìm thấy câu trả lời cho riêng mình.

Đến với Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, người đọc tiếp tục bị cuốn vào những suy tư không có điểm dừng. Đằng sau bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp là hiện thực đầy ngang trái của cuộc đời. Nhà văn không dạy chúng ta phải nhìn cuộc sống như thế nào, mà đặt ra hàng loạt câu hỏi: Liệu cái đẹp có phải lúc nào cũng đồng nghĩa với chân lí? Liệu con người có thể đánh giá một sự việc chỉ bằng những gì nhìn thấy bên ngoài? Làm thế nào để thấu hiểu trọn vẹn một số phận? Chính những câu hỏi ấy đã mở rộng biên độ nhận thức của con người về cuộc đời vốn vô cùng phức tạp.

Hay trong Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài cũng không đưa ra một đáp án khép kín về hành trình giải phóng con người. Ông âm thầm đặt ra những câu hỏi khiến người đọc không khỏi suy ngẫm: Điều gì đã giúp Mị vùng dậy từ một kiếp sống tưởng chừng đã hoàn toàn tê liệt? Điều gì khiến khát vọng tự do chưa bao giờ bị dập tắt trong tâm hồn con người? Phải chăng, dù bị đẩy đến tận cùng của đau khổ, bản năng hướng về ánh sáng vẫn luôn âm thầm tồn tại?

Có thể nói, những tác phẩm vĩ đại chưa bao giờ già đi cùng năm tháng bởi chúng không khép lại bằng một dấu chấm hết của tri thức, mà mở ra những chân trời mới của nhận thức. Văn chương đích thực không biến người đọc thành những người tiếp nhận thụ động, mà biến họ trở thành những người đồng sáng tạo, đồng suy ngẫm và đồng đối thoại với tác giả.

Sâu xa hơn, nhận định còn khẳng định thiên chức cao quý của văn học. Nếu khoa học hướng đến việc tìm ra lời giải chính vác thì văn học lại hướng đến việc mở rộng đời sống tinh thần của con người. Nhà văn không dạy con người phải nghĩ gì, mà dạy con người biết cách suy nghĩ. Bởi đôi khi, một câu hỏi lớn còn quý giá hơn rất nhiều so với một câu trả lời hoàn chỉnh. Chính những trăn trở ấy sẽ giúp con người không ngừng khám phá bản thân, hiểu hơn về cuộc đời và trở nên nhân văn hơn trong cách ứng xử với thế giới xung quanh.

Có lẽ, đó cũng chính là sức mạnh diệu kì nhất của văn chương. Khi những câu trả lời có thể đổi thay theo thời đại, thì những câu hỏi về con người vẫn luôn tồn tại như một mạch nguồn bất tận. Và cũng bởi vậy mà những tác phẩm lớn chưa bao giờ kết thúc ở trang sách cuối cùng; chúng tiếp tục sống trong những suy tư, những chiêm nghiệm và những cuộc đối thoại không hồi kết giữa con người với chính mình.

Bởi suy cho cùng, văn học không trao cho chúng ta một chân lí để ghi nhớ, mà trao cho chúng ta một đôi mắt để nhìn sâu hơn vào cuộc đời, một trái tim để rung cảm nhiều hơn trước con người và một tâm hồn không ngừng kiếm tìm ý nghĩa của sự tồn tại.

Ngọc Linh

22/08/2026

NHỮNG NGỮ LIỆU ĐỘC ĐÁO LÀM BÀI VĂN TRỞ NÊN ẤN TƯỢNG

1. “Nhất khuyển phệ hình, bách khuyển phệ thanh" (Vương Phù)

Câu nói “một chó sủa hình, trăm chó sủa tiếng" của Vương Phù bắt nguồn từ hình ảnh một ngôi làng cổ: con chó đầu tiên trông thấy người lạ liền sủa lên vì “thấy hình", những con chó sau không nhìn thấy người lạ, chỉ nghe tiếng sủa của con trước mà sủa theo. Câu chuyện tưởng chừng đơn giản ấy lại gợi một hiện tượng xã hội phổ biến: khi một người lên tiếng từ trải nghiệm cá nhân, nhiều người khác hùa theo chỉ vì thấy người xung quanh cũng làm vậy, dẫn đến sự lan truyền thiếu kiểm chứng, đánh mất bản chất thật của vấn đề. Thiết nghĩ, tám chữ ấy vẫn còn nguyên giá trị cảnh tỉnh trong thời đại số hôm nay. Trên mạng xã hội, biết bao ý kiến, phán xét, thậm chí là những cuộc “tấn công tập thể” chỉ khởi phát từ một vài tiếng nói đầu tiên chỉ vì tâm lý đám đông, vì sợ “lạc lõng” hay chỉ đơn giản là thói quen “phản xạ theo tiếng". Phải chăng, đã đến lúc mỗi người tự hỏi: mình đang "thấy hình" hay chỉ “thấy tiếng"? Và biết dừng lại trước khi trở thành một mắt xích vô thức của một đám đông thiếu suy nghĩ, đó cũng là một cách để giữ lại sự tỉnh táo và trách nhiệm với chính lời nói, hành động của mình.

2. Chuồn chuồn ngô
Bứt hai cánh Quả ớt.

(Yoda)

Tương truyền, Yoda, một tướng quân ẩn dật, có lần làm bài thơ Haiku: "Chuồn chuồn ngô/ Bứt hai cánh/Quả ớt”. Trong mắt ông, con chuồn chuồn xinh đẹp bị tước đi đôi cánh, trở thành trái ớt đỏ au, xơ xác và cô độc. Khi đưa Basho xem, bậc thầy Haiku lặng lẽ xoay ngược mảnh giấy rồi đọc: “Quả ớt/Chấp hai cánh/Chuồn chuồn ngô". Vẫn những chất liệu ấy, nhưng Basho đã thay “bứt” bằng “chấp”, biến trái ớt câm lặng thành một sinh thể có đôi cánh, biết cất lên giữa trời. Câu chuyện nhỏ ấy gợi cho ta một bài học lớn: cùng một hiện thực, nhưng mỗi góc nhìn lại mở ra một bức tranh khác. Xét cho cùng, thế giới bên ngoài vẫn chừng ấy những vận động cơ bản, cái tạo thành ý nghĩa, cái tạo thành đẹp hay xấu, vui hay buồn, chính là lăng kính ta soi vào những cái cơ bản ấy. Có người từ mất mát thấy toàn bế tắc; có người cũng từ mất mát ấy lại thấy một cơ hội mới. Có người từ một cánh cửa đóng nhìn thấy một dấu chấm hết, có người từ cùng cánh cửa ấy lại thấy một lối đi mới đang mở ra sau lưng. Trong cuộc sống, ta thường vội vàng quy chụp người khác là tiêu cực, là sai trái chỉ vì họ không nhìn vấn đề như ta. Nhưng nếu thửđặt mình vào góc nhìn của họ, thử "xoay ngược tờ giấy” mà xem, biết đâu ta sẽ thấy nỗi đau thầm kín, những mất mát họ đã trải qua, hay những khát vọng họ cất giữ mà chẳng thể nói thành lời. Thay đổi góc nhìn, âu cũng là cách ta học cách nhìn bằng mắt của người khác để thấu hiểu và cảm thông cho những nỗi niềm của họ.

3. "Không ai là hòn đảo Hoàn toàn chỉ riêng mình Mỗi người là một mẩu của lục địa Một mảnh của đại dương.” (For whom the bell tolls, John Donne; Bản dịch của Vũ Hoàng Linh)

Bài thơ "For whom the bell tolls" (Chuông nguyện hồn ai) của John Donne, với câu mở đầu bất hủ "No man is an island” truyền đạt một triết lý nhân sinh sâu sắc về sự kết nối giữa con người với con người. Donne ví mỗi cá nhân như một mảnh đất của đại lục, không ai tồn tại tách biệt như một hòn đảo đơn độc. Khi một nắm đất bị sóng cuốn trôi, cả châu lục đều nhỏ đi, cũng như cái chết của bất kỳ ai cũng làm tổn thương chính chúng ta, bởi “ta là một phần của nhân loại". Chính từ cảm hứng ấy, Ernest Hemingway đã mượn tựa đề và trích dẫn bài thơ làm lời đề từ cho tiểu thuyết "Chuông nguyện hồn ai", để khắc họa sự hy sinh của con người trong cuộc nội chiến Tây Ban Nha, minh chứng rằng nỗi đau của người xa lạ cũng là nỗi đau của chính ta. Bài học Donne gửi gắm thật giản dị mà lớn lao, đừng hỏi tiếng chuông nguyện hồn ai, bởi nó nguyện hồn cho chính mình. Sống giữa thế gian, chẳng thể dửng dưng trước mất mát của người khác, chẳng thể quay lưng trước đau thương của đồng loại. Mỗi hành động thờ ơ cũng là một vết cắt vào sợi dây vô hình nối ta với nhân loại. Và ngược lại, một chút quan tâm, một chút san sẻ, cũng đủ để chứng tỏ ta hiểu rằng mình không phải hòn đảo cô đơn. Trong thời đại ngày nay, thông điệp của Donne vẫn còn đó, nhắc nhở ta rằng chỉ khi biết rung cảm trước nỗi đau chúng ta ta mới thực sự là người.

21/08/2026

NHỮNG QUAN NIỆM VĂN CHƯƠNG CỦA NHÀ VĂN THẠCH LAM

1. “Những nhà văn nào ồ ạt theo thời chỉ tạo ra được những tác phẩm số phận mỏng manh. Bởi họ chỉ nghe theo tiếng gọi của sự háo hức, lòng hám danh, sự chiều chuộng công chúng".

2. “Công việc của nhà văn là phải phát hiện ra cái đẹp ở chỗ không ai ngờ tới, tìm cái đẹp kín đáo và che lấp của sự vật, để cho người đọc một bài học trông nhìn và thưởng thức.”

3. “Cái thực tài của nhà văn nguồn gốc chính là ở tâm hồn nhà văn, một nghệ sĩ phải có một tâm hồn phong phú, những tình cảm dồi dào. Nếu không, nghệ sĩ đó chỉ là thợ văn khéo thôi.”

4. “Chúng ta chỉ có thể bằng các nhà văn ngoại quốc, khi chúng ta đi sâu vào tâm hồn của chúng ta mà thôi.”

5. “Chỉ có những tác phẩm nào có nghệ thuật chắc chắn, trong đó nhà văn biết đi qua những phong trào nhất thời, để suy xét đến những tính tình bất diệt của loài người, chỉ những tác phẩm đó mới vững bền mãi mãi."

6. “Chúng ta không cần bắt chước ai (...). Chúng ta cứ việc diễn tả cái tâm hồn An Nam của chúng ta, những tư tưởng, những ý nghĩ mà chúng ta ấp ủ trong thâm tâm. Chúng ta chỉ có thể bằng các nhà văn ngoại quốc. khi chúng ta đi sâu vào tâm hồn của chúng ta mà thôi.”

7. “Thiên chức của nhà văn cũng như những chức vụ cao quý khác là phải nâng đỡ cái tốt, để trong đời có nhiều công bằng và nhiều thương yêu hơn.”

8. “Đối với tôi, văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên; trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn."

9. “Tiểu thuyết có một ích lợi khác rất lớn, và theo ý tôi, quan trọng nhất: tiểu thuyết dạy ta biết sống, nghĩa là dạy ta biết sung sướng.”

10. “Bỏ hết cái sáo, những cái kêu to mà trống rỗng, những cái giả dối đẹp đẽ, tìm cái giản dị, sâu sắc và cái chân thật, bằng cách quan sát và rung động đúng, đó là công việc các nghệ sĩ phải làm”.

11. “Chúng ta cứ là chúng ta, với cái tâm hồn và bản ngã thật của chúng ta.”

12. “Người ta sinh ra là nghệ sĩ hay không, chứ không có thể học tập mà thành được. Muốn cố sức tìm hiểu thế nào cũng không bằng cái “trực giác “ nhiệm màu của tâm hồn nghệ sĩ.”

20/08/2026

Ý nghĩa của vai trò ĐỒNG SÁNG TẠO của người đọc trong văn chương

1. Vai trò đồng sáng tạo

Văn chương là nghệ thuật của sự gợi mở chứ không phải nghệ thuật của sự áp đặt. Nhà văn không trao cho người đọc những chân lý hoàn chỉnh mà chỉ mở ra những khả năng nhận thức và cảm nhận. Khi sáng tác, nhà văn gửi gắm tư tưởng, cảm xúc và những tín hiệu nghệ thuật thông qua ngôn từ, nhưng những con chữ ấy chỉ thực sự sống khi được người đọc tiếp nhận. Bản thân văn học luôn tồn tại những khoảng trống về cảm xúc, và suy tư để người đọc tham gia lấp đầy bằng trải nghiệm cá nhân của mình. Chính bởi vậy, cùng một tác phẩm nhưng người đọc ở những độ tuổi, hoàn cảnh hay thời đại khác nhau sẽ có những phát hiện và rung cảm khác nhau. Chính sự tham gia chủ động ấy khiến người đọc không chỉ tiếp nhận mà còn góp phần hoàn thiện đời sống ý nghĩa của tác phẩm.

2. Đối với tác giả và tác phẩm

Vai trò đồng sáng tạo của người đọc chính là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sức sống bền bỉ vượt qua thời gian, vượt ra khỏi thời đại khi ấy. Mỗi tác phẩm văn học được viết ra trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, nhưng nhờ những cách tiếp nhận đa dạng của nhiều thế hệ độc giả qua mỗi thời kì, tác phẩm liên tục được khám phá ở những tầng nghĩa mới. Những tầng nghĩa mới ấy có thể là những rung động, những phát hiện mới trong tài năng nghệ thuật của tác giả và cả những giá trị nhân sinh vẫn hiện hữu đến ngày hôm nay khi người đọc gặp được những trang văn của người cầm bút. Chính quá trình ấy khiến văn học không trở thành những con chữ bất động trên trang giấy mà luôn vận động cùng thời gian. Đối với tác giả, sự đồng sáng tạo của người đọc là minh chứng cho thành công của tác phẩm, bởi những điều được gửi gắm đã thực sự được cộng hưởng và tiếp tục được phát triển trong niềm cảm xúc của độc giả mỗi thời.

3. Đối với độc giả

Không chỉ góp phần hoàn thiện tác phẩm, quá trình đồng sáng tạo còn giúp người đọc hoàn thiện chính bản thân mình. Khi bước vào thế giới nghệ thuật của văn chương, người đọc không chỉ đơn thuần tiếp nhận câu chuyện của người khác mà còn soi chiếu vào những trải nghiệm, cảm xúc và suy nghĩ của chính mình. Mỗi một cách cảm nhận, mỗi lần khám phá ra một điều mới trong tác phẩm cũng là một lần người đọc mở rộng nhận thức của bản về cuộc sống và con người. Vì thế, đồng sáng tạo không chỉ là hành trình khám phá văn chương mà còn là hành trình cá nhân tự giáo dục, tự khám phá bản thân. Dần dần, văn học cũng giúp con người trở nên sâu sắc, tinh tế và giàu đời sống tinh thần hơn.
Nguồn: Sưu tầm

19/08/2026

Đề bài:

Trần Thanh Địch đã viết trong “Tìm hiểu truyện ngắn”: “Cái ngắn của truyện ngắn mà người viết văn luyện tập suốt cả cuộc đời và qua mỗi tác phẩm của mình là một sự dồn nén để khái quát lấy những chi tiết điển hình"".

Phân tích một truyện ngắn để làm sáng tỏ?

Bài làm

Anđecxen thích nghĩ ra những câu chuyện thần tiên của ông ở trong rừng. K.Pautôpxki đã nói rằng Anđecxen có một cặp mắt rất tốt, gần như là một cái kính hiển vi. Vì thế, dù chỉ ngắm một miếng vỏ cây hay một lá thông già, ông có thể thấy ở trong đó những chi tiết như qua một máy phóng đại, từ những chi tiết ấy có thể dựng lên những câu chuyện cổ tích. Phải khẳng định rằng, một chi tiết đắt giá trong cốt truyện có thể làm nên sức sống cho truyện ngắn. Như Trần Thanh Địch đã viết trong “Tìm hiểu truyện ngắn”: “Cái ngắn của truyện ngắn mà người viết văn luyện tập suốt cả cuộc đời và qua mỗi tác phẩm của mình là một sự dồn nén để khái quát lấy những chi tiết điển hình".

Nhận định trên đã khái quát được vai trò hết sức to lớn của những chi tiết trong truyện ngắn. Truyện ngắn là một hình thức tự sự cỡ nhỏ, ít nhân vật, ít tình tiết.... Dung lượng nhỏ, và đó chính là cái mà Trần Thanh Địch gọi là sự dồn nén mà người viết văn luyện tập suốt cả cuộc đời. Khuôn khổ ngắn nhiều khi làm cho truyện ngắn có một vẻ gần gũi với truyện cổ tích, truyện cười, các thể loại dân gian. Nhưng thực ra truyện ngắn gần nhất với tiểu thuyết, bởi nó cũng lấy cuộc sống đương thời làm đối tượng mô tả. Chính dung lượng nhỏ đòi hỏi người viết truyện ngắn phải “khái quát lấy những chi tiết điển hình". Chi tiết là các tiểu tiết của tác phẩm văn xuôi tự sự, có khả năng biểu hiện tư tưởng và cảm xúc. Chi tiết điển hình là những chi tiết vừa có thể khái quá được một nét bản chất nhân sinh rộng rãi, có thể gọi nhiều ý nghĩa. Chính sự “dồn nén” của dung lượng truyện ngắn, mà các chi tiết của nó phải là những chi tiết điển hình.

Khi một truyện ngắn co mình lại trong một số chữ hạn định để thành truyện cực ngắn, các thành tố của nó có thể giảm thiểu đến kiệt cùng, như nhân vật, lời trần thuật... Song cái mà nó quyết giữ chính là tình huống. Mất tình huống là mất tính cách truyện ngắn. Tình huống là một khoảnh khắc mà trong đó “sự sống hiện ra rất đậm đặc, khoảnh khắc chứa đựng cả một dời người, thậm chí một đời nhân loại”. (Nguyễn Minh Châu). Vì tình huống của truyện ngắn chỉ là một khoảnh khắc, chỉ là một lát cắt trên thân cây cổ thụ mà qua lớp vân gỗ có thể thấy trăm năm cuộc đời thảo mộc, nên nó đòi hỏi phải có những chi tiết đắt giá. Nhiều khi truyện ngắn sống dược là nhờ những chi tiết phát sáng.

Truyện ngắn khắc hoạ một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất nhân sinh trong tâm hồn con người. Nó khôngc ó nhiều sự kiện phức tạp như trong tiểu thuyết, trái lại, có thể rất đơn giản. Song đơn giản ở đây có nghĩa là từ những chi tiết có vẻ ngoài giản dị, ta vẫn thấy được trong đó là “bề sâu nội tại”. Một chi tiết điển hình được xây dựng thành công có thể đem lại nhiều giá trị cho cả tác phẩm truyện ngắn. Những chi tiết ấy có thể làm bật lên một nét tính cách con người. Truyện ngắn phải ngắn gọn, cô đúc, kiệm lời, dung lượng nhỏ nhưng “sức chứa lõi phải dầy, vỏ phải mỏng". (Nguyễn Khải). Dù số lượng câu chữ ít nhưng xét về chất lượng, hiệu quả của truyện ngắn phải ngang với tiểu thuyết. Cái dồn nén ở câu nói của Tràn Thanh Địch là cái dồn nén về dung lượng ngắn. Song không có nghĩa là những chi tiết của truyện ngắn cũng theo đó mà trở nên quá giản đơn, nông cạn. Mà trái lại, nó càng phải được đầu tư, để có thể truyền tải được những ý tưởng mà nhà văn chưa thể, và không thể nói trên bề mặt chữ nghĩa. Suy cho cùng, sự cô đọng về ngôn từm về cốt truyện chính là lý do vì sao chi tiết của truyện ngắn phải giàu sức gọi. Dung lượng của truyện ngắn rất nhỏ gọn, xinh xắn, song càng nhỏ, càng gọn gàng thì lại càng đòi hỏi lớp “dung lượng" đậm đặc của chi tiết. Truyện càng ngắn, càng phải có những chi tiết điển hình. Và những chi tiết ấy có thể làm người ta nhớ mãi, có sức gây ám ảnh, lắng đọng và dư vang mãnh liệt trong lòng người, từ đó tạo nên sức sống cho tác phẩm.

Mặt khác, nếu như người viết tiểu thuyết phải theo dõi, tìm hiểu nhân vật của mình cả một quãng đời, thì người viết truyện ngắn lại phải sử dụng nhân vật sao cho thật đắc địa. Thật vậy, truyện ngắn không khắc hoạ những tính cách điển hình có cá tính đầy đặn, mà thường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội. Các nhân vật có thể không hiện đủ ra mọi vẻ như nó vốn có. Bởi vậy để có thể là bật lên những nét bản chất của nhân vật, hay muốn ký thác một tư tưởng, một ý đồ gì đó, gửi một điều gì đó vào nhân vật của mình, nhà văn viết truyện ngắn phải xây dựng được những chi tiết đầy đặn, có dung lượng lớn, có sức gợi lớn, mang nhiều ẩn ý. “Một lời mà thiên cổ, một gọi mà trăm suy”. Có thể nói, chi tiết hay là một cánh cửa để hé lộ những chiều sâu tư tưởng, giá trị của tác phẩm. Đi sâu vào phân tích va gỡ gạc, mổ xẻ những chi tiết, là cách đúng đắn để tìm hiểu truyện ngắn.

Ta vẫn thường nhắc đến “Vợ nhặt" như là một truyện ngắn tiêu biểu của Kim Lân trong kháng chiến chống Pháp. “Vợ nhặt" phản ánh một thời kỳ khủng khiếp trong lịch sử dân tộc - nạn đói năm 1945. Thế nhưng đó không phải là mục đích cuối cùng của Kim Lân. Nhà văn đã xây dựng những chi tiết đặc sắc để khắc hoạ một tình huống độc đáo, có một không hai, để từ đó cất lên một bài ca bất diệt về tình người, về sự sống.

Giữa những ngày đói khát, cái chết luôn rình rập số kiếp con người, lại xảy ra một sự việc hết sức bất ngờ, éo le: anh cu Tràng đã “nhặt” được một người vợ. Một anh chàng nghèo kiết xác, xấu xí, thô kệch, lại được một người đàn bà theo về, mà theo không hẳn hoi! Kim Lân đã đặt tình huống ấy trong một bối cảnh hết sức ảm đạm và ngột ngạt. Ông xây dựng những chi tiết hiện thực rất trần trụi.: “Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau xanh xám như những bóng ma”, “người chết như ngả rạ”, “ba bốn cái thây nằm còng queo”, “những tiếng quạ gào thê thiết”, “tiếng hờ khóc tỉ tê”, “mùi xác chết thối”, “mùi khét của những đống rấm ở những nhà có người chết"... Đó là những chi tiết hiện thực bỏng rát, đủ sức để làm g*i lạnh. Bóng tối bao trùm, ngự trị khắp không gian, từ những dãy phố úp xúp không ánh đèn lửa và từ những gương mặt người, những ánh mắt người hốc hác tối sầm lại vì đói khát. Ngòi bút Kim Lân đã ghi lại một cách trung thực cái cuộc sống ngột ngạt, thoi thóp trong bóng tối của thần chết. hệ thống các chi tiết hiện thực rát bỏng ấy để cho người ta một ấn tượng bao trùm: cái đói, cái chết đang săn đuổi, lấn át sự sống. Không gian đói và con người cũng đói. Đói khát thảm thê đè nặng làm cho câu chuyện ngột ngạt đến tức thở. Nhưng chính tại không gian đầy màu đen chết chóc này, vẻ đẹp của tình người lại vút lên những thanh âm trong trẻo. Xây dựng những chi tiết rất thực của những ngày nạn đói hoành hành khủng khiếp; cái đích cuối cùng của Kim Lân là khai thác cho kỳ được bản chất tâm hồn của những người dân quê Việt Nam. “Đói, nó vừa đau đớn, vừa đắng cay, nhưng đồng thời nó cũng làm loé lên những tia sáng về đạo đức, về danh dự. Truyện ngắn Vợ nhặt khai thác khía cạnh sau cùng của tấn bi kịch ấy" (Lời tâm sự của Kim Lân). Khi con người ta bị đẩy đến nơi giáp ranh của sự sống và cái chết, có thể cuộc sống của họ sẽ nhếch nhác đói nghèo, nhưng vẫn không hề nhếch nhác trong nhân cách. Và niềm tin, sự lạc quan trong hồn người mới được cơ hội bừng sáng lên những ngọn lửa ấm. Dựng lên những chi tiết hiện thực ngày đói khát, Kim Lân đã đặt nhân vật của mình vào nơi mà tính cách con người bị thử thách ghê gớm nhất.

Bản năng sinh tồn có thể kêu gào, đòi huỷ diệt nhân tính, tình thương. Vậy mà nhân vật của ông vẫn hiện ra trong sáng, đôn hậu, thương nhau bằng tình thương rất thật, và vẫn còn đủ đầy trọn vẹn một niềm tin ởngày mai.

Họ dắt nhau về nhà. “Một đám cưới" nhếch nhác chẳng có pháo đỏ rượu ngon, chẳng có hai họ đưa đón. Hai con người nghèo khổ, Tràng và người phụ nữ vô danh, chẳng rõ gốc gác quê quán - đã buộc số phận họ lại với nhau bằng hai lần làm quen tầm phơ tầm phào. “Thóc gạo này đến cái thân mình cũng chẳng biết nuôi nổi không, lại còn đèo bòng"". Nếu như ban đầu Tràng vẫn còn nghĩ đến chuyện sinh tồn, thì đến giờ anh chỉ còn nghĩ đến tình nghĩa với người đàn bà đi bên. Kim Lân đã khắc hoạ một chi tiết rất giản dị, tự nhiên, nhưng lại chứa chan ý nghĩa: đó là hành động khoe chai dầu con con của Tràng; cùng vẻ mặt hớn hở, “phón phở” của anh. Mua dầu để thắp chính là việc mà Tràng có thể làm để khiến cho ngày mà họ thnàh vợ thành chồng trở nên đặc biệt hơn. Chỉ là hai hào dầu thôi, nhưng cũng đủ thấy Tràng nghĩ đến cái tình hơn là cái đói. Anh đã không tiếc hai hào dầu để có được chút gì thắp sáng cho ngày vợ về nhà mình. Tấm lòng ấy đối với người vợ chỉ mới “nhặt” được, thật đáng quý. Cái đói có thể huỷ diệt được sức sống, nhưng không thể làm méo mó được tâm hồn con người. Chi tiết “đánh diêm đốt đèn" khi trời tối cũng là chi tiết cùng hệ thống với “hai hào dầu". Khi ngọn đèn vàng lục toả ra ánh sáng ấm áp trong căn nhà, dường như câu chuyện ngày đói bớt đi không khí ảm đạm. Trong bóng tối mênh mang đang bao trùm cả xóm ngụ cư ấy, một ngọn đèn được thắp lên đem lại cảm giác ấm áp, và mơ hồ thôi, nó cũng là điểm tựa cho niềm tin.

Đặc biệt, Kim Lân đã miêu tả từng chi tiết về những sự thay đổi trong ngôi nhà của mje con bà cụ Tứ cực kỳ tỉ mỉ: nhà cửa được quét tước sạch sẽ, mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt khươm mươi niên ở một góc nhà đã thấy đem ra sân hong. Hai cái ang nước vẫn để khô cong dưới gốc ổi đã kín nước đầy ăm ắp. Đống rác mùn tung bành ngay lối đi đã hót sạch. Dường như căn nhà tuềnh toàng đã được đón một luồn sinh khí mới. Hình ảnh người mẹ lúi húi dọn cỏ ngoài vườn và tiếng loẹt quẹt quét sân của người vợ tạo nên một bầu không khí gia đình ấm cúng. Nếu trước đây, cái đói khiến người vợ phải đanh đá, chao chát, chỏng lỏn, thì bây giờ chị đã trở nên thuần hậu, chất phác, thu vén cho gia đình. Bà cụ Tứ nom cũng nhẹ nhõm, tương tỉnh hẳn lên. Hy vọng đã được thắp lên từ căn nhà lụp xụp, rúm ró ấy, và sáng lên cả trong lòng người.

Bữa ăn đầu tiên của ba mẹ con thật thảm hại. Giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối và một đĩa muối hột ăn với cháo. Đó là cảnh cơ cực đói khổ điển hình của những người dân quê Việt Nam trong nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu. Có một chi tiết đã trở thành đặc trưng của “Vợ nhặt”; gây nên sức ám ảnh lớn đối với người đọc, là nồi cháo cám ngày đói mà bà cụ Tứnấu đãi các con. Một món ăn không lạ đối với người lao động trong cảnh khốn cùng. Vẫn còn cám mà ăn đã là may phước lắm. Bát cháo cám trước hết nó có giá trị hiện thực. Bởi qua nó, ta có thể thấy được thảm cảnh bùi ngùi bị thiết của người dân quê ngày ấy. Truyện “Nghèo” của Nam Cao cũng khắc họa hình ảnh bát cháo cám trong một bữa cơm của một gia đình cùng quẫn. Thế nhưng bát cháo cám của “Nghèo” sao mà đắng chát cái nỗi thê thảm, đau xót, đắng cay của miếng ăn ngày đói, còn bát cháo cám của “Vợ nhặt” lại thấm đẫm tình người, tình vợ chồng, mẹ con. Kim Lân khắc hoạ chi tiết hiện thực đó, cốt để làm sáng lên vẻ đẹp ấy. Từ niềm lạc quan hóm hỉnh của bà cụ Tứ khi vui vẻ gọi đùa món ăn ấy là “chè khoán”, đến hành động điểm nhiên đưa cám vào miệng ăn của người vợ, tất cả là thái độ ứng xử của con người trước hoàn cảnh đói khát, khốn cùng. Trong cái lúc tả tơi nhất của số phận, người ta vẫn dành cho nhau tình người, nâng đỡ nhau, cưu mang nhau bằng niềm tin chân thành.

Ngòi bút của Kim Lân đã xây dựng được những chi tiết điển hình trong truyện ngắn "Vợ nhặt”. Những chi tiết có sức gọi và sức khái quát rất lớn. Không tố cáo bằng những lời lẽ đanh thép, đao to búa lớn, Kim Lân đã phơi bày được sự thật bỏng rát về nạn đói trong lịch sử dân tộc. Nhưng sẽ thật là thường, nếu Kim Lân chỉ dừng lại ở đó. Điều đáng nói, là ở đằng sau những chi tiết rất sống, rất thực, là một tấm lòng nhân đạo cao cả. Trái tim nhân hậu của Kim Lân đã nương ngòi bút của mình tìm về với bản chất chân thật đẹp đẽ của những người dân quê. Ông hiểu họ, hiểu cuộc sống và cả những mối tâm tư tình cảm của họ. Những chi tiết có sức dồn nén cao độ, mà bên trong nó là tình người ấm áp, là niềm tin tưởng vào ngày mai. Dường như Kim Lân đã gặp gỡ với Nguyễn Khải ở quan niệm nhân sinh: “Ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới. Điều cốt yếu là phải có đủ sức mạnh để vượt qua được những ranh giới ấy”. (Mùa lạc)

Trở lại với nhận định của Trần Thanh Địch, có thể thấy đó là nột đặc trưng của truyện ngắn. Nếu như truyện ngắn cần tình huống tiêu biểu, cần cốt truyện đặc sắc, cần ngôn ngữ tinh giản, hành văn ẩn ý... thì nó cũng cẫn những chi tiết sáng giá để làm nến sức sống cho riêng mình. Nhà văn cần biết phát hiện những chi tiết có dung lượng lớn để có thể truyển tải được những tư tưởng, tình cảm của mình một cách trọn vẹn. Và hơn nữa, như Trần Thanh Địch đã khẳng định: “người viết văn luyện tập suốt cả cuộc đời". Vậy là anh vừa phải có tài, vừa phải có tâm, có sự khổ ải tìm tòi, có trách nhiệm với nghề nghiệp. Chỉ khi ấy, anh mới có được những tác phẩm hay và đứng vững giữa sự sàng lọc nghiệt ngã của thời gian.

(Nguyễn Việt Thanh Hà)

Want your school to be the top-listed School/college in Hanoi?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Category

Address


Hanoi