ベトナム人技能実習生・特定技能・育成就労の理想&現実

  • Home
  • Vietnam
  • Hanoi
  • ベトナム人技能実習生・特定技能・育成就労の理想&現実

ベトナム人技能実習生・特定技能・育成就労の理想&現実 外国人人材に関わる情報を発信

2026.8.25「優良認定【技能及び日本語能力の習得に係る実績に関するもの】に物申す。」~” Tôi xin có đôi lời về tiêu chí công nhận 【thành tích liên quan đến việc ...
24/08/2026

2026.8.25

「優良認定【技能及び日本語能力の習得に係る実績に関するもの】に物申す。」
~” Tôi xin có đôi lời về tiêu chí công nhận 【thành tích liên quan đến việc tiếp thu kỹ năng và năng lực tiếng Nhật】 của doanh nghiệp tốt”~

何の気なしに育成就労制度の運用要領を見ていたら、「ぇー…」と思うものがあったのでご紹介。
Hôm nọ, khi tình cờ xem lại tài liệu hướng dẫn vận hành chương trình việc làm để phát triển kỹ năng, tôi bắt gặp một quy định khiến tôi phải thốt lên: “Ơ…”.

ページ4-123~4-127に記載のある育成就労実施者(≒受入企業)の優良認定条件の内の1つ【技能及び日本語能力の習得に係る実績に関するもの】について。

まず、加点と計算方法について。(ページ4-119)

①過去3育成就労事業年度の1年目におけるA1相当の日本語試験(育成就労の期間が1年を経過するまでに受験する必要のある試験)の合格率

(加点)
・75%以上:7点
・60%以上~75%未満:4点
・50%以上~60%未満:0点
・50%未満:-7点
・受験実績がない場合:0点

(計算方法)
・分子:分母のうち育成就労の期間が1年を経過するまでに合格した者の数
・分母:過去3育成就労事業年度における育成就労の期間が1年を経過した育成就労外国人数 - やむを得ない事由により受験できなかった者の数

②過去3育成就労事業年度のA2相当の日本語試験(目標となる日本語能力の試験)の合格率

(加点)
・80%以上:10点
・70%以上~80%未満:6点
・60%以上~70%未満:2点
・50%以上~60%未満:0点
・50%未満:-10点
・受験実績がない場合:0点

(計算方法)
・分子:分母内の合格者数
・分母:過去3育成就労事業年度における3年間の育成就労を終了した育成就労外国人数 - やむを得ない事由により受験できなかった者の数

③過去3育成就労事業年度のB1相当の日本語試験の合格率

(加点)
・B1相当試験の合格率が50%以上:5点
・B1相当試験の合格率が30%以上~50%未満:3点

(計算方法)
・分子:分母内の合格者数
・分母:過去3育成就労事業年度における3年間の育成就労を終了した育成就労外国人数

④育成就労開始から2年目終了までにA2相当の日本語能力試験(目標となる日本語能力の試験)に合格している者の割合

(加点)
・50%以上:4点
・30%以上~50%未満:2点

(計算方法)
・分子:分母のうち、育成就労開始から2年目終了までにA2相当の日本語試験に合格した者
・分母:過去3育成就労事業年度に受け入れた育成就労外国人の数

*「育成就労開始から2年目終了までにA2相当の日本語試験に合格した者の割合」については、早期に育成就労の目標となる日本語試験に合格することは育成就労外国人及び育成就労実施者にとって望ましいことから、加点要素とすることで育成就労実施者による充実した日本語学習機会の提供を奨励するものです。

育成就労制度外国人に対して、日本語学習の支援を積極的に行い、結果が出れば加点をあげますよという条件自体は大変好ましいではありますが、それぞれに付いている注釈に物申したいです。
Việc tích cực hỗ trợ người nước ngoài tham gia chương trình việc làm để phát triển kỹ năng học tiếng Nhật, và nếu đạt được kết quả thì được cộng điểm, bản thân điều kiện này là điều rất đáng hoan nghênh. Tuy nhiên, tôi muốn có đôi lời về phần chú thích đi kèm với từng mục.

(注釈 Chú thích)
【入国前等、育成就労の開始前や転籍前の育成就労実施者の下でA1・A2・B1相当の日本語能力の試験に合格している者については、分母の「過去3育成就労事業年度における3年間の育成就労を終了した育成就労外国人数」には含みません。】
“Đối với những người đã đỗ kỳ thi năng lực tiếng Nhật tương đương A1, A2 hoặc B1 trước khi nhập cảnh, trước khi bắt đầu chương trình việc làm để phát triển kỹ năng hoặc tại doanh nghiệp tiếp nhận trước khi chuyển sang doanh nghiệp khác, thì những người này không được tính vào ‘số người nước ngoài đã hoàn thành 3 năm chương trình việc làm để phát triển kỹ năng trong 3 năm tài khóa chương trình việc làm để phát triển kỹ năng gần nhất’ ở phần mẫu số.”

ここの“入国前”という一言。
Chính là một chữ “trước khi nhập cảnh” ở đây.

要は、本人が母国でいくら頑張って勉強しても、育成就労実施者が母国にいる労働者にいくら頑張って勉強させても、一切の加点にならないという話。
Nói cách khác, dù bản thân người lao động ở quê nhà có cố gắng học tiếng Nhật đến mức nào, hay doanh nghiệp tiếp nhận có tích cực cho những người lao động đang ở quê nhà học tiếng Nhật đến mức nào đi nữa, thì hoàn toàn không được cộng điểm.

育成就労実施者としては、入国前に相当講習だけ済ませて就労開始後にA1に合格させて加点を取りにいくか、入国前にA1なりA2なりに合格させて講習費用を削減しにいくかの二択になろうかと思われます。
Đối với doanh nghiệp tiếp nhận, tôi nghĩ rằng họ sẽ đứng trước hai lựa chọn:
・Hoặc chỉ cho người lao động học đến mức tương đương cần thiết trước khi nhập cảnh, sau đó cho họ đỗ A1 sau khi bắt đầu làm việc để lấy điểm cộng.
・Hoặc cho người lao động đỗ A1, A2… ngay trước khi nhập cảnh để giảm chi phí đào tạo.

以下の通り、更に項目ごとに万遍なく加点をしていかないといけない為、入国前にA1~B1に合格してしまっていると、貴重且つ割と容易な加点(特に1年以内にA1合格、3年以内にA2合格)をみすみす逃すことになってしまいます。
Hơn nữa, như dưới đây, vì cần phải đạt điểm cộng một cách tương đối đồng đều ở từng hạng mục, nếu người lao động đã đỗ A1 ~ B1 trước khi nhập cảnh thì doanh nghiệp sẽ tự mình bỏ mất những điểm cộng khá quan trọng và tương đối dễ đạt được, đặc biệt là đỗ A1 trong vòng 1 năm và đỗ A2 trong vòng 3 năm.

(優良認定の条件) ページ4-118
“優良な育成就労実施者として認められるためには、以下の項目ごとの点数を偏りなく獲得していることが求められます。具体的にはⅣを除く項目について、それぞれ6割以上獲得していることが求められます。”
+
“「優良」であると認定された後も、優良な育成就労実施者として育成就労を行わせ続けるためには、下記の表で各項目の合計が最大点数の合計の7割以上の点数を保ち続けること、Ⅳを除く各項目について6割以上の点数を保ち続ける必要があります。”

あまりにも悪法が過ぎる。
Quy định này thực sự quá bất hợp lý.

確かに入国前に合格していたら送出機関と本人の努力の結果であって、育成就労実施者の手柄ではないだろという言い分もわからないわけではないのですが、育成就労実施者によっては入国前の採用した労働者に対して、定期的に日本語指導やチェックを行っているところもありますし、取組み内容次第で何かしらの加点は付けておいてほしかったと思います。
Tôi hiểu lập luận rằng nếu người lao động đã đỗ kỳ thi trước khi nhập cảnh thì đó là kết quả của sự nỗ lực từ phía công ty xuất khẩu lao động và bản thân người lao động, chứ không phải thành tích của doanh nghiệp tiếp nhận.
Tuy nhiên, cũng có những doanh nghiệp tiếp nhận ngay từ khi tuyển dụng người lao động ở quê nhà đã định kỳ tổ chức hướng dẫn tiếng Nhật, kiểm tra năng lực tiếng Nhật… Nếu dựa trên nội dung và mức độ nỗ lực thực tế, tôi nghĩ ít nhất cũng nên có một cơ chế nào đó để được cộng điểm cho những hoạt động này.

何より、各段階で日本語能力の向上を求める制度設計になっているにも関わらず、更には入国時点で日本語能力が高いほうが三方よしであるにも関わらず、「(各項目で万遍なく加点を取らないといけない以上)これは入国前に合格させないほうがいいんじゃね??」というしょうもない発想をさせてしまう規定はあまりにもお粗末。本末転倒。
Quan trọng hơn, mặc dù chương trình được thiết kế theo hướng yêu cầu người lao động nâng cao năng lực tiếng Nhật ở từng giai đoạn, và mặc dù việc người lao động có năng lực tiếng Nhật cao ngay tại thời điểm nhập cảnh rõ ràng là điều tốt cho cả ba bên, nhưng quy định này lại vô tình khiến người ta nảy sinh một suy nghĩ rất vô lý:
“Vì phải lấy điểm ở từng hạng mục một cách đồng đều, vậy chẳng phải tốt hơn là đừng cho người lao động đỗ kỳ thi trước khi nhập cảnh hay sao??”
Đây thực sự là một quy định quá vụng về và hoàn toàn đi ngược mục tiêu ban đầu của hệ thống.
Tôi rất mong quy định này sẽ được xem xét lại.

育成就労制度運用要領 第4章 育成就労計画の認定等
【Hướng dẫn vận hành chương trình việc làm để phát triển kỹ năng - Chương 4: Công nhận kế hoạch chương trình việc làm để phát triển kỹ năng, v.v.】
https://www.otit.go.jp/upload/docs/04%20%E7%AC%AC%EF%BC%94%E7%AB%A0%EF%BC%88%EF%BC%98%E6%9C%88%E6%94%B9%E6%AD%A3%EF%BC%89.pdf

2026.8.24「背景」~”Bối cảnh”~先日、当ブログで紹介したベトナム現地の記事。Trước đây không lâu, trên blog của tôi có giới thiệu một bài viết của báo...
23/08/2026

2026.8.24

「背景」
~”Bối cảnh”~

先日、当ブログで紹介したベトナム現地の記事。
Trước đây không lâu, trên blog của tôi có giới thiệu một bài viết của báo chí Việt Nam.

https://www.facebook.com/share/1F87HHBvMp/?mibextid=wwXIfr

海外就労中にその国で法に違反した場合、帰国後の再出国を禁止すべきだという提案でした。
Đó là đề xuất cho rằng những người lao động Việt Nam nếu vi phạm pháp luật tại nước ngoài thì sau khi về nước nên bị cấm xuất cảnh trở lại.

改正案の審議中にどうしてこうした提案がなされたのかを少し説明しようかと思います。
Tôi muốn giải thích một chút về lý do tại sao lại có đề xuất như vậy trong quá trình thảo luận về dự thảo sửa đổi luật.
◇◆◇◆◇◆◇◆

Người đưa ra ý kiến là một đại biểu Quốc hội đến từ tỉnh Hà Tĩnh

→Hà Tĩnh省はベトナム全土でも有数の海外就労者輩出省で、海外就労の問題について現場感を強く持っている省。
Hà Tĩnh là một trong những tỉnh có số lượng người đi lao động ở nước ngoài thuộc hàng cao nhất Việt Nam, đồng thời cũng là địa phương có nhiều kinh nghiệm thực tế và mối quan tâm sâu sắc đối với các vấn đề liên quan đến lao động đi làm việc ở nước ngoài.

日本にもかなりの数のHà Tĩnh省出身の技人国/特定技能/技能実習生がいる。
Tại Nhật Bản cũng có khá nhiều người Hà Tĩnh đang làm việc theo diện kỹ sư, lao động kỹ năng đặc định và thực tập sinh kỹ năng.

Best3は断言できないが、Best5には入ってると思う。
Tôi không thể khẳng định chắc chắn là nằm trong Top 3, nhưng tôi nghĩ Hà Tĩnh chắc chắn nằm trong Top 5.


Đã từng có trường hợp bị nước tiếp nhận lao động nói rằng “đừng đến nữa”

→恐らく現在は解除されていると思うが、Hà Tĩnh省内のいくつかの市区町村が韓国への就労(EPS)への応募を禁じられたことがある。
Có lẽ hiện nay quy định này đã được dỡ bỏ, nhưng trước đây một số đơn vị hành chính cấp huyện/xã ở Hà Tĩnh từng bị cấm đăng ký tham gia chương trình EPS đi làm việc tại Hàn Quốc.

理由は不法滞在率の高さ。
Lý do là tỷ lệ lao động bỏ trốn và cư trú bất hợp pháp quá cao.

*注意点としては省全体ではなく更に小さい行政区分単位での禁止。
Điểm cần lưu ý là không phải toàn tỉnh Hà Tĩnh bị cấm, mà chỉ có những đơn vị hành chính nhỏ hơn trong tỉnh bị áp dụng biện pháp này.

*台湾への家事労働者はベトナム全体で禁止された過去がある。
Đài Loan cũng từng có thời điểm cấm tiếp nhận lao động giúp việc gia đình Việt Nam trên phạm vi toàn quốc.


Tại Nhật Bản, cũng có trường hợp các tổ chức quản lý hoặc doanh nghiệp tiếp nhận, tùy theo quyết định riêng, không tuyển người đến từ Hà Tĩnh hoặc thậm chí không cho họ tham gia phỏng vấn

→この場合、Hà Tĩnh省だけではなく、その上のNghe An省・Thanh Hoa省(いずれも北部超有数の海外就労者輩出省)も揃って採用しないことが多い。
Trong những trường hợp như vậy, không chỉ Hà Tĩnh mà cả Nghệ An và Thanh Hóa - hai tỉnh cũng thuộc nhóm có rất nhiều người đi lao động ở nước ngoài - thường bị đưa vào cùng một nhóm và không được tuyển dụng.

考えられる理由は、韓国と同じく、失踪等のトラブル率の高さ。
Lý do có thể nghĩ đến là tỷ lệ xảy ra các vấn đề như bỏ trốn cũng tương đối cao, tương tự như trường hợp tại Hàn Quốc.

個人的にはπが多すぎるが故ではないかとは思っている。
Cá nhân tôi thì nghĩ rằng có thể đơn giản là vì “π” quá lớn.

私が知っている10年超の範囲で当該3省の出身者で失踪した技能実習生は確かにいるけど、他省出身者と比べて高いという印象は全くない。
Trong phạm vi hơn 10 năm mà tôi biết, đúng là tôi từng biết những thực tập sinh kỹ năng đến từ ba tỉnh này bỏ trốn. Tuy nhiên, tôi hoàn toàn không có ấn tượng rằng tỷ lệ này cao hơn so với người đến từ các tỉnh khác.

むしろ長く同じ会社でずっと働いてるというポジティブな印象のほうが強い。
Ngược lại, ấn tượng tích cực của tôi còn mạnh hơn: có rất nhiều người làm việc ổn định và lâu dài tại cùng một công ty.


Không thể nói rằng ba tỉnh nói trên hoàn toàn không bị người Việt Nam trong nước nhìn với ánh mắt kiểu “À~ chỗ đó à…”
◇◆◇◆◇◆◇◆
今回の発言をした議員さんとしても、多くのすばらしい人材がいる中で、海外で法を犯すベトナム人によるベトナム全体及び自省の評判・評価への悪影響、国内外からの見られ方に忸怩たる想いはあると思います。
Tôi nghĩ bản thân vị đại biểu đưa ra phát biểu lần này cũng có những trăn trở nhất định.
Trong số rất nhiều người Việt Nam tài giỏi và tuyệt vời, việc một số người Việt Nam vi phạm pháp luật ở nước ngoài gây ảnh hưởng xấu đến danh tiếng, hình ảnh của Việt Nam nói chung cũng như quê hương mình, đồng thời khiến Việt Nam bị nhìn nhận không tốt cả trong và ngoài nước, chắc hẳn là điều khiến ông ấy cảm thấy rất day dứt.

私自身も国単位、省単位で一括りに評価することに何の意味も感じていません。
Bản thân tôi cũng không thấy có ý nghĩa gì trong việc đánh giá tất cả mọi người chỉ dựa trên quốc gia hay tỉnh thành mà họ xuất thân.

ただ、日本に限れば、SNSや日々のニュースで何かしらのベトナム人のネガティブな発言や報道がされることが確実に増え、一般的な日本人の間でベトナム人に対するイメージが急激に悪化していることは紛れもない事実だと思います。
Tuy nhiên, nếu chỉ xét riêng tại Nhật Bản, tôi cho rằng không thể phủ nhận một thực tế là những phát ngôn tiêu cực và tin tức tiêu cực liên quan đến người Việt Nam đang xuất hiện ngày càng nhiều trên mạng xã hội cũng như trên các phương tiện truyền thông hằng ngày.
Và trong một bộ phận người Nhật nói chung, hình ảnh về người Việt Nam đang xấu đi nhanh chóng.

こうした罰則が厳格に且つ実効性のあるものとして運用されれば、「フィリピン人≠失踪」に近いイメージを作ることはできるかもしれません。
Nếu những biện pháp xử phạt như vậy được thực hiện một cách nghiêm khắc và thực sự có hiệu quả, có lẽ có thể từng bước tạo dựng được một hình ảnh gần với:

「Người Philippines ≠ bỏ trốn」

先立って施行される、海外で不法滞在・不法就労した者に対する最大約60万円の罰金だけでは、大した効果は期待できないでしょう。
Chỉ riêng việc áp dụng trước mức tiền phạt tối đa khoảng 600.000 yên đối với những người cư trú bất hợp pháp hoặc làm việc bất hợp pháp ở nước ngoài có lẽ sẽ không mang lại hiệu quả đáng kể.

「帰国しても罰金だけなら、稼げるだけ稼いでから帰ればいい」と考える人のほうが多いと思います。
Tôi cho rằng sẽ có nhiều người nghĩ rằng: “Nếu về nước cũng chỉ bị phạt tiền thì cứ kiếm được bao nhiêu thì kiếm rồi hãy về.”

例えば今回提案されているような出国禁止、あるいはベトナム国内で前科が付くなど、より実害のある措置が必要でしょう。
Ví dụ, cần có những biện pháp gây ảnh hưởng thực tế nghiêm trọng hơn, chẳng hạn như cấm xuất cảnh như đề xuất lần này, hoặc thậm chí ghi nhận tiền án tại Việt Nam.

ベトナム推しの私としてもベトナム政府の今後の取り組みには期待しています。
Tôi vốn là một người rất yêu mến Việt Nam, nên tôi cũng kỳ vọng vào những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong thời gian tới.

VNEXPRESS
'Lao động vi phạm pháp luật ở nước ngoài cần bị cấm xuất cảnh'
[海外で法律に違反した労働者に出国禁止措置を]
https://vnexpress.net/lao-dong-vi-pham-phap-luat-o-nuoc-ngoai-can-bi-cam-xuat-canh-5107303.html

2026.8.23「まぁ知ってはいたけど、酷いね。」~"Dù biết trước rồi, nhưng vẫn thấy quá tệ hại."~公判中の元労働省副大臣、海外労働管理局、及び送出機関代表による汚職、贈収賄事件。Vụ án...
22/08/2026

2026.8.23

「まぁ知ってはいたけど、酷いね。」
~"Dù biết trước rồi, nhưng vẫn thấy quá tệ hại."~

公判中の元労働省副大臣、海外労働管理局、及び送出機関代表による汚職、贈収賄事件。
Vụ án tham nhũng, hối lộ đang diễn ra phiên tòa xét xử liên quan đến cựu Thứ trưởng Bộ Lao động, Cục Quản lý lao động ngoài nước và đại diện các công ty xuất khẩu lao động.

ハノイの送出機関に勤めて10年超。
Làm việc tại một công ty xuất khẩu lao động ở Hà Nội cũng đã hơn 10 năm.

腐ってんなとは思っていたけど、法廷での陳述を見てもこの期に及んで見苦しい言い訳ばかり。
Vẫn biết là thối nát rồi, nhưng nhìn những lời khai báo, chống chế trơ trẽn tại tòa đến tận phút này mới thấy thực sự mục nát đến mức nào.

本当に腐ってんなと実感。
Thực sự thấy mục nát đến tận cùng.

胸糞悪い。
Kinh tởm.

賄賂、潤滑油、上納金、色々な言われ方をしますが、記事でも書かれている通り、昔から長く続く“伝統”。
Hối lộ, tiền bôi trơn, tiền nộp về... dù gọi bằng bất kỳ cái tên nào thì như báo chí đã đưa tin, đó cũng chỉ là một "truyền thống" tồn tại từ rất lâu.

この伝統にかかる費用は技能実習生が送出機関に支払っている費用に確実に上乗せされていました。
Chi phí cho cái "truyền thống" này chắc chắn đã được cộng trực tiếp vào khoản tiền mà người thực tập sinh phải trả cho các công ty xuất khẩu lao động.

この腐りきった伝統がなければ、100万円以上の費用をかけずに日本やその他の国々へ行けたベトナム人も非常に多かったことでしょう。
Nếu không có cái truyền thống thối nát này, có lẽ đã có rất nhiều người Việt Nam sang Nhật Bản hay các quốc gia khác mà không phải gánh khoản chi phí lên tới hơn 1 triệu yên (hơn 160 triệu VNĐ).

返済に追われて違法に手段に手を出すベトナム人もなんぼかは少なかったかもしれません。
Và có lẽ cũng sẽ bớt đi những người vì áp lực trả nợ mà phải dấn thân vào con đường phạm pháp.

自国の役人が自国民を長きに渡って苦しめ続けていた最悪の構図。
Một kịch bản tồi tệ nhất khi quan chức trong nước lại đi đày đọa chính đồng bào của mình suốt một thời gian dài.

胸糞悪い。
Kinh tởm.

本当に胸糞悪い。
Thực sự kinh tởm.

心底胸糞悪い。
Kinh tởm đến tận cùng.

'Không có tiền, hồ sơ xuất khẩu lao động 30 ngày bị ngâm thành 2 năm'
【お金を払わなければ、30日間の労働者派遣申請書類が2年間も放置される】
https://vnexpress.net/khong-co-tien-ho-so-xuat-khau-lao-dong-30-ngay-bi-ngam-thanh-2-nam-5110821.html

2026.8.22「認定送出機関」~”Công ty xuất khẩu lao động được công nhận”~ついに育成就労制度の認定送出機関リストが公表されました。Cuối cùng, danh sách các công ...
21/08/2026

2026.8.22

「認定送出機関」
~”Công ty xuất khẩu lao động được công nhận”~

ついに育成就労制度の認定送出機関リストが公表されました。
Cuối cùng, danh sách các công ty xuất khẩu lao động được công nhận trong chương trình việc làm để phát triển kỹ năng đã được công bố.

🇹🇭 65社
https://www.otit.go.jp/upload/docs/260817_THA_ESD.pdf

🇺🇿 11社
https://www.otit.go.jp/upload/docs/260817_UZB_ESD.pdf

🇻🇳はいつになることやら??
Không biết đến bao giờ mới tới lượt Việt Nam đây??

2026.8.21「お忘れなく!!」~”Đừng quên nhé!!”~来週8月24日(月)より12月のJLPTの受験申し込みが開始されます。Từ thứ 2, ngày 24/8 tuần tới, thời gian đăng ký ...
20/08/2026

2026.8.21

「お忘れなく!!」
~”Đừng quên nhé!!”~

来週8月24日(月)より12月のJLPTの受験申し込みが開始されます。
Từ thứ 2, ngày 24/8 tuần tới, thời gian đăng ký dự thi JLPT tháng 12 sẽ chính thức bắt đầu.

以下にある通り、前回のように“申込受付期間内でも受付を締め切る”可能性があるそうです。
Như thông báo dưới đây, cũng giống như lần trước, có khả năng ban tổ chức sẽ đóng đăng ký ngay cả khi vẫn còn trong thời hạn đăng ký.

特定技能2号に移行の為、留学生で専門学校進学の為、就職の為、様々な理由があると思いますが、一度受験し損ねると半年後になってしまいますので、忘れないように早めに申し込みを済ませておきましょう。
Có thể mỗi người đăng ký vì một lý do khác nhau:
・Để chuyển sang kỹ năng đặc định số 2
・Để học tiếp tại trường chuyên môn với tư cách du học sinh
・Để xin việc
・Hoặc vì những mục đích khác.

Tuy nhiên, nếu bỏ lỡ một lần đăng ký, bạn sẽ phải chờ thêm 6 tháng mới có cơ hội thi tiếp.

Vì vậy, đừng quên nhé!
Hãy đăng ký càng sớm càng tốt.
◇◆◇◆◇◆◇◆
2026年第2回日本語能力試験の申込受付期間は2026年8月24日(月)から9月7日(月)17時までといたします。
Về thời gian đăng ký Kỳ thi năng lực tiếng Nhật lần thứ 2 năm 2026 (Thay đổi thời gian tiếp nhận đăng ký)
Thời gian tiếp nhận đăng ký Kỳ thi năng lực tiếng Nhật lần thứ 2 năm 2026 sẽ được thực hiện từ thứ Hai, ngày 24/8/2026 đến 17:00 thứ Hai, ngày 7/9/2026.

近年、応募者数の急増により会場の確保が非常に困難になっております。
Trong những năm gần đây, số lượng người đăng ký dự thi tăng mạnh, khiến việc đảm bảo địa điểm thi trở nên vô cùng khó khăn.
�そのため、2026年第2回日本語能力試験は、会場の都合により、申込受付期間内でも受付を締め切る場合があります。
Do đó, đối với Kỳ thi năng lực tiếng Nhật lần thứ 2 năm 2026, tùy thuộc vào tình hình địa điểm thi, ban tổ chức có thể đóng đăng ký ngay cả trong thời gian tiếp nhận đăng ký.
�お早めのお申し込みをお願いいたします。
Rất mong thí sinh đăng ký sớm.

受験者及び関係各位の皆様におかれましては、ご理解のほど、よろしくお願いいたします。
Kính mong các thí sinh và tất cả các bên liên quan thông cảm và hợp tác.
◇◆◇◆◇◆◇◆

2026年第2回日本語能力試験の申込について(申込受付期間の変更)
Về việc đăng ký Kỳ thi năng lực tiếng Nhật lần thứ 2 năm 2026 (Thay đổi thời gian tiếp nhận đăng ký)
https://info.jees-jlpt.jp/other/applicationperiod.html #

2026.8.20「特定技能1号の現在地」~“Thực trạng hiện nay của Kỹ năng đặc định số 1 – lĩnh vực dịch vụ ăn uống” ~8月10日に出入国在留管理庁より処理状況につ...
19/08/2026

2026.8.20

「特定技能1号の現在地」
~“Thực trạng hiện nay của Kỹ năng đặc định số 1 – lĩnh vực dịch vụ ăn uống” ~

8月10日に出入国在留管理庁より処理状況について発表がなされました。
Ngày 10/8, Cục Quản lý Xuất nhập cảnh và Lưu trú Nhật Bản đã công bố tình hình xử lý hồ sơ.

まずおさらいですが、特定技能1号の在留者数です。
Trước hết, xin được nhắc lại số lượng người đang lưu trú theo diện kỹ năng đặc định số 1 – lĩnh vực dịch vụ ăn uống.

47,714名(2026年3月末)
47.714 người (tính đến cuối tháng 3/2026)

受入上限の50,000人まで5か月前の残すところ僅か2,286人です。
So với hạn mức tiếp nhận 50.000 người, chỉ còn 2.286 suất, trong khi vẫn còn 5 tháng nữa mới kết thúc năm tài chính.

以下は出入国在留管理庁のHPより抜粋。
Dưới đây là phần trích từ trang web của Cục Quản lý Xuất nhập cảnh và Lưu trú Nhật Bản.
◆◇◆◇◆◇◆◇
1 在留資格認定証明書交付申請
Hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận tư cách lưu trú (COE)
�現状、在留資格変更許可申請を優先して処理しており、毎月の在留者数を踏まえて、在留資格認定証明書交付申請の交付が可能な場合に、受付日順で順次交付しています。
Hiện tại, cơ quan chức năng đang ưu tiên xử lý các hồ sơ xin thay đổi tư cách lưu trú. Căn cứ vào số lượng người đang lưu trú hằng tháng, khi có khả năng cấp COE, các hồ sơ sẽ lần lượt được cấp theo thứ tự ngày tiếp nhận.
�⇒現在は受付日が令和8年1月5日までの申請
Hiện tại đang xử lý các hồ sơ có ngày tiếp nhận đến ngày 5/1/2026.
◆◇◆◇◆◇◆◇

未だに半年以上前の1月5日までの申請分を処理していることを考えると、4月中旬に滑り込んだ申請は間に合わない可能性が非常に高いのではと感じざるをえません。
Việc hiện nay vẫn đang xử lý những hồ sơ được nộp từ ngày 5/1, tức hơn nửa năm trước, khiến tôi không khỏi cảm thấy rằng những hồ sơ đã kịp nộp vào giữa tháng 4 có khả năng rất cao sẽ không thể được xử lý kịp thời.

業界団体は受入枠の拡大を求めて政府に対して陳情をあげているようですが、いつ拡大されるのか、そもそも拡大されるのかすらわかりません。
Các tổ chức trong ngành dường như đang kiến nghị Chính phủ mở rộng hạn mức tiếp nhận. Tuy nhiên, khi nào hạn mức sẽ được mở rộng, hay thậm chí có được mở rộng hay không, vẫn chưa rõ.

先行き不透明極まりない状況ですし、未だに海外で待ち続けている方も少なからずいるでしょうし、拡大される可能性が全くないならはっきりとしてほしいところです。
Tình hình hiện tại thực sự vô cùng thiếu rõ ràng.
Có lẽ vẫn còn không ít người đang phải chờ đợi ở nước ngoài để được sang Nhật làm việc.
Nếu khả năng mở rộng hạn mức hoàn toàn không có, tôi thực sự mong phía Chính phủ có thể đưa ra câu trả lời rõ ràng càng sớm càng tốt.

特定技能1号(外食業分野)の在留諸申請の審査状況(2026年8月10日掲載)
[Tình hình xử lý các hồ sơ liên quan đến tư cách lưu trú “kỹ năng đặc định số 1 (lĩnh vực dịch vụ ăn uống)” – công bố ngày 10/8/2026]
https://www.moj.go.jp/isa/10_00259.html

特定技能「外食」受け入れ停止、店側「人手不足に拍車」外国人「早く働きたいのに」 県内でも影響
[“Nhật Bản dừng tiếp nhận lao động nước ngoài diện ‘dịch vụ ăn uống’ theo tư cách kỹ năng đặc định – các cửa hàng lo tình trạng thiếu nhân lực càng trầm trọng; người nước ngoài: ‘Chúng tôi muốn được đi làm càng sớm càng tốt’ – ảnh hưởng cũng lan tới các địa phương trong tỉnh”]
https://www.niigata-nippo.co.jp/articles/-/885383

2026.8.19「これはぜひ実現してほしい」~”Tôi thực sự rất mong điều này sẽ trở thành hiện thực”~8月10日、ベトナム人海外就労法(改正案)の審議が行われました。Ngày 10/8...
18/08/2026

2026.8.19

「これはぜひ実現してほしい」
~”Tôi thực sự rất mong điều này sẽ trở thành hiện thực”~

8月10日、ベトナム人海外就労法(改正案)の審議が行われました。
Ngày 10/8, dự thảo sửa đổi Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đã được đưa ra thảo luận.

その中でHà Tĩnh省出身の議員が以下のように述べています。
Trong đó, một đại biểu Quốc hội đến từ tỉnh Hà Tĩnh đã phát biểu như sau:

“一部の企業はハティン省をはじめとする中部地方の特定の地域からの労働者の受け入れを停止しており、合法的に就労を希望する人々に影響を与えている。“
(原文)
Tình trạng này khiến một số thị trường ngừng tiếp nhận lao động tại một số địa phương của Hà Tĩnh và các tỉnh miền Trung, ảnh hưởng đến những người có nhu cầu đi làm việc hợp pháp.

”海外就労中に法律違反を犯した者に対する渡航禁止措置など、より厳しい罰則が必要だ“
(原文)
cần có chế tài nghiêm khắc hơn, trong đó xem xét cấm xuất cảnh người từng vi phạm pháp luật khi làm việc ở nước ngoài.

”納税義務を怠った個人や企業は出国を禁じられている。それなのに、海外就労中に法律違反を犯した者が帰国後、なぜ他の国で普通に働くことが許されるのか??”
(原文)
Người, doanh nghiệp không nộp thuế bị cấm xuất cảnh. Vì sao một người đi lao động ở nước này vi phạm pháp luật, khi về lại được đi lao động ở nước khác bình thường?

上から下まで完全同意。
Tôi hoàn toàn đồng ý từ đầu đến cuối.

*ちなみに今も不法滞在や不法就労に対する処罰として45-55万円程度の罰金が規定されていますが、適用された例は聞いたことがありません。わざわざ「私、罰金払った!!」と公言する恥知らずもいませんので。
Nhân tiện, hiện nay pháp luật vẫn quy định mức phạt khoảng 80 - 100 triệu đồng đối với một số trường hợp cư trú bất hợp pháp hoặc vi phạm hợp đồng khi làm việc ở nước ngoài. Tuy nhiên, tôi chưa từng nghe nói về trường hợp nào thực sự bị áp dụng mức phạt này. Mà cũng chẳng có ai “trơ trẽn” đến mức công khai rằng: “Tôi đã bị phạt rồi!!” nên rất khó biết trên thực tế quy định này được áp dụng đến đâu.

8月24日に法案の採決を取り、承認される見込みのようですが、海外就労中の法律違反者に対する帰国後の罰則規定(再渡航禁止等)はぜひ追加していただいた上で厳格に運用してほしいですね。
Theo những gì tôi được biết, dự luật dự kiến sẽ được đưa ra biểu quyết vào ngày 24/8 và có khả năng được thông qua.
Nếu vậy, tôi thực sự mong rằng các quy định xử lý đối với những người vi phạm pháp luật trong thời gian làm việc ở nước ngoài, chẳng hạn như cấm xuất cảnh hoặc cấm tiếp tục đi làm việc ở nước ngoài, sẽ được bổ sung vào dự luật và được thực thi một cách nghiêm khắc.

退去強制は政府間で情報共有できると思いますが、自主出国されるとベトナム側のイミグレできちんと確認してもらう必要があるように感じます。
Đối với những trường hợp bị cưỡng chế xuất cảnh/ trục xuất, tôi cho rằng chính phủ hai nước có thể chia sẻ thông tin với nhau.
Tuy nhiên, nếu người lao động tự nguyện xuất cảnh và trở về nước, thì có lẽ phía cơ quan xuất nhập cảnh của Việt Nam cần có cơ chế kiểm tra, xác minh đầy đủ.

正直、ここが心配。
Thành thật mà nói, đây mới là điều khiến tôi lo lắng.

昨今の外国人に対する誹謗中傷は合法的に日本に滞在し、真面目に働き、納税等の義務もきちんと果たしている方々にも小さくない影響があると思います。
Những lời công kích, bôi nhọ người nước ngoài đang xuất hiện ngày càng nhiều trong thời gian gần đây. Tôi cho rằng điều này cũng đang gây ra những ảnh hưởng không nhỏ đối với những người đang cư trú hợp pháp tại Nhật Bản, nghiêm túc làm việc và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ như đóng thuế.

SNS上のベトナム人の評判、一般的な日本人のベトナム人に対する心象、いい加減やばい水準まで来てしまっているように感じます。
Nhìn vào những đánh giá về người Việt Nam trên mạng xã hội, cũng như cách nhìn nhận của người Nhật nói chung đối với người Việt Nam, tôi có cảm giác rằng tình hình đã thực sự trở nên đáng báo động.

正直者がバカを見る、正直者が損をする世界ではあってはならないと思います。
Không nên để một xã hội trở thành nơi mà người sống ngay thẳng lại là người chịu thiệt, còn người vi phạm thì chẳng bị ảnh hưởng gì.

抑止力になりうる厳格な対応をお願いしたいところです。
Tôi thực sự mong rằng những biện pháp xử lý nghiêm khắc sẽ được thực hiện, không chỉ để trừng phạt mà còn để tạo ra một sức răn đe thực sự.

VNEXPRESS
'Lao động vi phạm pháp luật ở nước ngoài cần bị cấm xuất cảnh'
[海外で法律に違反した労働者に出国禁止措置を]
https://vnexpress.net/lao-dong-vi-pham-phap-luat-o-nuoc-ngoai-can-bi-cam-xuat-canh-5107303.html

2026.8.18「技能実習制度:開発途上国等への技能・技術移転」~“Chế độ thực tập kỹ năng: Chuyển giao kỹ năng, kỹ thuật cho các nước đang phát triển v...
17/08/2026

2026.8.18

「技能実習制度:開発途上国等への技能・技術移転」
~“Chế độ thực tập kỹ năng: Chuyển giao kỹ năng, kỹ thuật cho các nước đang phát triển và các quốc gia khác”~

知っている人は知っている技能実習制度の建前であり、理念です。
Đây là mục đích và lý tưởng trên danh nghĩa của Chế độ thực tập kỹ năng mà những người biết thì đều biết.

先日の投稿でも触れた通り、第16期国会臨時会において、ベトナム人の海外就労に関する法律の改正・補足をする法案が審議された際に多くの国会議員から海外就労者の帰国後の人材活用について懸念が表面されたそうです。
Như tôi đã đề cập trong bài viết trước, tại Kỳ họp bất thường lần thứ 16 của Quốc hội Nhật Bản, khi dự luật sửa đổi, bổ sung Luật về việc người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài được đưa ra thảo luận, có vẻ như nhiều nghị sĩ đã bày tỏ quan ngại về vấn đề sử dụng nguồn nhân lực sau khi người lao động đi làm việc ở nước ngoài trở về nước.

日本で働き、ベトナムに帰国する労働者は非常に多いですが、技能実習生として或いは特定技能、技人国として働いた仕事の技術が帰国後も役に立っているかと問われれば“否”と答えます。
Có rất nhiều người lao động làm việc tại Nhật Bản rồi trở về Việt Nam. Tuy nhiên, nếu hỏi rằng những kỹ năng, kỹ thuật mà họ đã học được trong thời gian làm việc tại Nhật Bản với tư cách là thực tập sinh kỹ năng, kỹ năng đặc định số.1, kỹ năng đặc định số.2 hoặc kỹ sư có tiếp tục phát huy tác dụng sau khi trở về Việt Nam hay không, thì câu trả lời của tôi là “Không.”

これまでの10年超で送り出してきた技能実習生の内、日本で就いていた仕事と同系のものにベトナムでも従事している人は両手で数えても余る程度しか知りません。
Trong hơn 10 năm qua, trong số những thực tập sinh kỹ năng mà tôi đã đưa sang Nhật Bản, số người mà tôi biết sau khi về Việt Nam vẫn làm những công việc tương tự hoặc cùng ngành nghề với công việc họ từng làm tại Nhật Bản chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay.

今でこそ送出機関は経営悪化で廃業や縮小をしていますが、一昔前の送出機関の日本語教師の元技能実習生率の高さは凄いものがありましたし、100%だったところも少なからずあるでしょう。
Ngày nay, các công ty xuất khẩu lao động đang phải đóng cửa hoặc thu hẹp quy mô do tình hình kinh doanh khó khăn. Nhưng cách đây không lâu, tỷ lệ những cựu thực tập sinh kỹ năng trở thành giáo viên tiếng Nhật tại các công ty xuất khẩu lao động cao đến mức đáng kinh ngạc. Không ít nơi có tỷ lệ này lên tới 100%.

帰国した海外就労者のベトナム労働市場への組み込みという問題は以前から言われていますが、未だに何かが改善する見込みはありません。
Vấn đề đưa những người từng đi làm việc ở nước ngoài trở về và hòa nhập vào thị trường lao động Việt Nam đã được đề cập từ lâu, nhưng cho đến nay vẫn chưa thấy có dấu hiệu cho thấy vấn đề này sẽ được cải thiện.

個人的に原因として考えているのは、海外就労者経験者のスペックの中途半端さ、彼ら彼女らが求める仕事/待遇と企業側が求める人材像とのミスマッチです。
Cá nhân tôi cho rằng một trong những nguyên nhân là năng lực của những người từng đi làm việc ở nước ngoài còn ở trạng thái “nửa vời”, dẫn đến sự không tương thích giữa công việc/chế độ đãi ngộ mà họ mong muốn với hình mẫu nhân lực mà doanh nghiệp yêu cầu.

【元技能実習生 Cựu thực tập sinh kỹ năng】
学歴 Trình độ học vấn:圧倒的に高卒者多数 Phần lớn áp đảo là tốt nghiệp THPT

職歴 Kinh nghiệm làm việc:ブルーワーカー系 Chủ yếu là các công việc lao động phổ thông, lao động trực tiếp

資格 Bằng cấp/chứng chỉ:ベトナムとは互換性のないもの Nhiều loại không có tính tương thích với Việt Nam

語学力 Năng lực ngôn ngữ:N3あるかないか。JLPT未合格者も多数。自称N3相当。 Có N3 hay không cũng khó nói. Nhiều người chưa từng đỗ JLPT. Không ít người tự nhận mình có trình độ tương đương N3.

望む仕事 Công việc mong muốn:マネージャー等の管理者。一ワーカーは拒否。 Muốn làm quản lý, quản đốc hoặc các vị trí quản lý khác. Không muốn làm công nhân trực tiếp.

望む待遇 Mức đãi ngộ mong muốn:日本時代と同等 Tương đương với thời gian làm việc tại Nhật Bản.

【企業側が望む人材像 Hình mẫu nhân lực mà doanh nghiệp mong muốn】
学歴 Trình độ học vấn:四大卒 Tốt nghiệp đại học 4 năm

職歴 Kinh nghiệm làm việc:マネージメントスキル有り Có kỹ năng quản lý

語学力 Năng lực ngôn ngữ:N2以上 N2 trở lên

ご覧の通り、マッチするわけもなく…。
Như các bạn có thể thấy, hai bên gần như không thể nào phù hợp với nhau...

結果、特定技能1号なり2号なりで日本に戻るという選択する人も少なからずいます。
Kết quả là không ít người lựa chọn quay trở lại Nhật Bản theo diện kỹ năng đặc định số.1 hoặc kỹ năng đặc định số.2.

育成就労制度が施行されると、3年しかない為、特定技能1号に移行する率が今より高くなる可能性が高いですし、特定技能1号は現状で既に枠が埋まった・埋まりつつある職種も多い為、本人の意向に加え、企業側の意向も絡み、特定技能2号に移行する人材も更に増えることになるでしょう。
Khi chương trình việc làm để phát triển kỹ năng được triển khai, do thời gian chỉ có 3 năm nên khả năng tỷ lệ chuyển sang kỹ năng đặc định số.1 sẽ cao hơn hiện nay là rất lớn.
Hơn nữa, hiện nay đã có nhiều ngành nghề mà hạn ngạch kỹ năng đặc định số.1 đã được lấp đầy hoặc đang dần được lấp đầy. Vì vậy, ngoài nguyện vọng của bản thân người lao động, còn có cả ý định của doanh nghiệp, và có khả năng số người chuyển sang kỹ năng đặc định số.2 sẽ tiếp tục tăng lên.

母国で望む仕事に就けず、望む待遇を得られないのであれば、海外でもっと長く働く、或いは、もう母国に帰らないという判断をする人材もそれなり生まれる可能性はあるかと思います。
Nếu không thể tìm được công việc mình mong muốn và không thể nhận được mức đãi ngộ mình kỳ vọng tại quê nhà, thì cũng có khả năng một số người sẽ lựa chọn tiếp tục làm việc ở nước ngoài trong thời gian dài hơn, hoặc thậm chí quyết định không trở về quê hương nữa.

記事でも触れられていますが、Như bài báo cũng đề cập:
“海外就労から帰国したベトナム人労働者のスキルと専門資格の評価と認定です。この制度を法制化し、この規定を法律として明文化し、具体的な実施方法や各関係機関・組織の責任を明確にすれば、労働者が自身の技能や専門的能力について公的な認定を受けることができるようになり、本人の能力に適した仕事への配置・就労を円滑にすることにつながります。”
(原文)
“Một vấn đề đang được đặt ra là việc đánh giá, ghi nhận kỹ năng, trình độ chuyên môn của lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài khi trở về nước. Nếu được luật hóa quy định này, nêu rõ cơ chế thực hiện, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, sẽ giúp người lao động có điều kiện được công nhận chính thức về kỹ năng, trình độ, tạo thuận lợi cho việc bố trí, sử dụng lao động theo công việc phù hợp.”

日本で得た資格がベトナムでも評価・認定されるようになれば、高度人材・即戦力として今よりもいい仕事に就ける可能性が高くなりますので、ベトナム国内の労働市場の空洞化が少し軽減されるかもしれません。
Nếu những bằng cấp, chứng chỉ mà người lao động có được tại Nhật Bản cũng được đánh giá và công nhận tại Việt Nam, thì khả năng họ có thể tìm được những công việc tốt hơn với tư cách là nguồn nhân lực có trình độ cao, có thể đáp ứng công việc ngay sẽ tăng lên.

《現在、日本で働くベトナム人の皆々様へ Gửi tất cả những người Việt Nam hiện đang làm việc tại Nhật Bản》
皆さんの内の多くは、いつかベトナムへ帰ることになると思います。
Tôi nghĩ rằng phần lớn trong số các bạn, rồi một ngày nào đó sẽ trở về Việt Nam.

当然、帰国後の人生のほうが長く、ベトナムでも仕事をし、それなりに稼ぐ必要があります。
Đương nhiên, quãng đời sau khi trở về quê hương sẽ còn dài hơn rất nhiều, và các bạn cũng sẽ cần phải làm việc, kiếm sống và có một mức thu nhập nhất định tại Việt Nam.

高卒で語学力もなく、技術系の資格もない人材がベトナムでいい仕事・厚遇を受けられる可能性は極めて低く、0と言っても過言ではありません。
Một người chỉ tốt nghiệp THPT, không có năng lực ngoại ngữ và cũng không có bằng cấp, chứng chỉ kỹ thuật thì khả năng tìm được một công việc tốt và được hưởng chế độ đãi ngộ cao tại Việt Nam là cực kỳ thấp, thậm chí có thể nói là gần như bằng 0.

帰ってからの人生、どうやって食っていくのかをきちんと考え、日本での時間を有意義に使ってください。
Hãy suy nghĩ thật nghiêm túc về việc sau khi trở về, các bạn sẽ sống và kiếm sống bằng cách nào.
Và hãy sử dụng

Trọng dụng nguồn nhân lực xuất khẩu lao động sau khi về nước
【帰国後の海外就労人材を有効活用】
https://www.vietnam.vn/trong-dung-nguon-nhan-luc-xuat-khau-lao-dong-sau-khi-ve-nuoc

2026.8.17「特定技能2号の業務内容」~"Nội dung công việc của lao động diện Kỹ năng đặc định số 2"~しっかりと釘を刺しにきている印象です。Có cảm giác như l...
16/08/2026

2026.8.17

「特定技能2号の業務内容」
~"Nội dung công việc của lao động diện Kỹ năng đặc định số 2"~

しっかりと釘を刺しにきている印象です。
Có cảm giác như lần này Cục Quản lý Xuất nhập cảnh Nhật Bản đang muốn nhấn mạnh và cảnh báo rất rõ ràng.

恐らく、入管庁は特定技能2号で技能実習生や特定技能1号と同じように現場仕事ばかりで、特に指導や管理といった業務に就いていない事例を複数把握しているのだと思われます。
Có lẽ họ đã nắm được không ít trường hợp người lao động diện Kỹ năng đặc định số 2 trên thực tế chỉ làm công việc tại hiện trường giống như thực tập sinh kỹ năng hoặc lao động diện Kỹ năng đặc định số 1, mà không đảm nhận các công việc như hướng dẫn hay quản lý.

リーフレット内でも赤字になっていますが、以下のように書かれています。
Ngay trong tờ rơi cũng có đoạn được in màu đỏ như sau:

【2号特定技能外国人については、各特定産業分野の分野別運用方針において、「複数の作業員を指導」や「工程を管理する業務」等が従事する業務として定められており、技能実習生や1号特定技能外国人の方と従事する業務が異なります。】
"Đối với người lao động diện Kỹ năng đặc định số 2, phương châm vận hành của từng lĩnh vực ngành nghề quy định rằng họ phải đảm nhận các công việc như 'hướng dẫn nhiều công nhân' hoặc 'quản lý quy trình sản xuất'... Vì vậy, nội dung công việc của họ khác với thực tập sinh kỹ năng và người lao động diện Kỹ năng đặc định số 1."

【8月20日(木)以降については、(中略) 「2号特定技能外国人の業務内容に関する誓約書(参考様式)」をご提出いただくこととなります。】
"Từ ngày 20/8 (thứ 5) trở đi, ... doanh nghiệp tiếp nhận sẽ phải nộp 'Bản cam kết về nội dung công việc của người lao động diện Kỹ năng đặc định số 2 (mẫu tham khảo)'."

【記載内容と実際の内容に相違がある場合、在留資格が取り消される可能性があるほか、虚偽の内容を記載した場合、特定技能所属機関としての欠格事由に該当】
"Nếu nội dung kê khai không đúng với thực tế, người lao động có thể bị hủy tư cách lưu trú. Ngoài ra, nếu khai báo sai sự thật, doanh nghiệp tiếp nhận có thể bị xem là thuộc diện không đủ điều kiện tiếp nhận lao động diện Kỹ năng đặc định."

特定技能所属機関さんはくれぐれもお気をつけください。
Các doanh nghiệp tiếp nhận cần đặc biệt lưu ý.

特定技能2号の皆さんも、自分がちゃんと特定技能2号としての業務に従事しているのか確認はしておくことをおすすめします。
Đối với những người đang làm việc theo diện Kỹ năng đặc định số 2, tôi cũng khuyến nghị nên kiểm tra xem mình có thực sự đang đảm nhận đúng các công việc dành cho diện này hay không.

何かのタイミングで在留資格が取り消されてしまうかもしれませんので。
Vì rất có thể đến một lúc nào đó, tư cách lưu trú của bạn sẽ bị hủy.

出入国在留管理庁 Cục Quản lý Xuất nhập cảnh Nhật Bản
2号特定技能外国人の業務内容について
“Về nội dung công việc của người lao động diện Kỹ năng đặc định số 2”
https://www.moj.go.jp/isa/content/001467866.pdf?fbclid=IwZnRzaAThWu1wZG9mAWZkaWQWUL8FmleblMeZeQjyDrQZYU0XJaxBg2V4dG4DYWVtAjExAHNydGMGYXBwX2lkCjY2Mjg1NjgzNzkAAR7pz7CpAyVCF6TOHV3P-jqdFx8sGLboL2an8aJKkYECIJzH-Eiqd0_ITdVqiQ_aem_1ma-kyXHrr9xzTMYH3x-Kw

参考様式【2号特定技能外国人の業務内容に関する誓約書】
“Mẫu tham khảo: "Bản cam kết về nội dung công việc của người lao động diện Kỹ năng đặc định số 2”
https://www.moj.go.jp/isa/content/001468039.docx

Address

Hanoi

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when ベトナム人技能実習生・特定技能・育成就労の理想&現実 posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The School

Send a message to ベトナム人技能実習生・特定技能・育成就労の理想&現実:

Shortcuts

Share