17/01/2026
TƯ LIỆU DÙNG ĐỂ BIÊN SOẠN TẬP SÁCH
Đầu tiên, chúng ta xác định tác giả biên soạn bộ sách. Đó là hai vị: Thiền sư Tính Quảng Thích Điều Điều và sa di Hải Lượng trụ trì Bổ Đà[8]. Theo bài tựa, Sa di Hải Lượng vốn môn nhân của chùa Hoa Yên núi Yên Tử nên có dịp tham đọc các tư liệu có liên quan đến sự tích ba tổ thuộc thiền phái Trúc Lâm đời Trần. Sư đến núi Tử Trầm, Sơn Tây thỉnh thiền sư Tính Quảng chứng minh, nhờ Quảng đính chính lại và soạn cho bài tựa trong dịp khắc ván bộ sách.
Trong tay chúng ta có mấy bản in Tam tổ thực lục nên biết được nguồn gốc hay cơ sở để biên giả dùng sử liệu gì để soạn nên tập sách. Trong bài tựa in trước sách, thiền sư Tính Quảng cho biết: “Trước có ba tổ đời Trần thứ lớp truyền đăng, ngữ lục thành sách, liệt vào “đồ tịch” để làm gương cho trời người noi theo, khắc in lưu truyền đã lâu vậy.
Than ôi! Vận có lúc hưng lúc giảm, pháp thường thịnh suy.
Lúc ấy, chính bản bị hỏng nát, lâu thành thất truyền.
May còn bản cũ Thánh đăng lục trích ra cùng lược sao bia cổ chùa Hương Hải, phía sau in phụ Thiền đạo yếu học để tiện quan lãm, cho đến Trúc Lâm Tự Tổ Bản Hạnh biên tập thành một sách, đầu cuối ngôn ngữ chu toàn”[9]. Soạn giả cho biết rõ tư liệu mà ngài đã sử dụng để soạn sách, tức hiểu rằng xưa đời Trần có sách ghi chép về truyện Tam tổ nhưng bị thất lạc. Đến đời Hậu Lê, soạn giả Tính Quảng đã dựa vào các tư liệu còn sót lại ra công biên tập. Bộ Tam Tổ thực lục được ra đời vào năm Cảnh Hưng thứ 26, năm mà soạn giả viết bài tựa. Để biết nguồn gốc tư liệu, chúng tôi xin tạm phân tích từng truyện một trong tập sách.
Truyện thứ nhất tức truyện viết về Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Câu đầu truyện chép “Án Thánh đăng thực lục”, tức dựa vào sách Thánh đăng thực lục. Ở đây phải được hiểu là sách Thánh đăng lục như bài tựa soạn giả Tính Quảng đề cập[10]. Thiền sư Tính Quảng sử dụng bản Thánh đăng lục do thiền sư Chân Nghiêm đời Mạc trùng san để đưa vào phần đầu của tập Tam tổ thực lục. Điều đó nhận ra qua bài thơ của vua Trần Nhân Tông cảm tác khi đi qua chùa làng Cổ Châu mà bản in đời Mạc có câu “Thế số nhất tố mạc”. Bản Thánh đăng ngữ lục do Tuệ Đăng trùng san đã bỏ hai từ “Tố mạc” thay bằng hai từ “tức mặc”[11].
Truyện thứ hai viết về thiền sư Pháp Loa. Tư liệu mà sách sử dụng là tấm bia chùa Hương Hải. Ngôi chùa nằm về quê của thiền sư Pháp Loa ở Nam Sách (Hải Dương). Theo tư liệu điều tra về chùa Hương Hải thì hiện nay chùa không còn, nhưng bia đá và tháp được di dời qua chùa Phúc Thắng (thôn Văn Xá, xã Ái Quốc, huyện Nam Sách). Tấm bia “Đệ nhị đại tổ bi” được khắc lại tháng 7 năm Bính Thìn Tự Đức thứ 9 (1856), dựa vào tấm bia cũ khắc năm Chính Hòa 5 (1685)[12]. Thiền sư Tính Quảng sao chép bia Chính Hòa tại chùa Hương Hải để đưa vào Tam tổ thực lục. Đối chiếu hai tư liệu nhận thấy có vài sai dị, nội dung giống nhau. Tấm bia khắc dưới thời Tự Đức tuân thủ phạm húy triều Nguyễn như chữ “Thời” đổi thành chữ “Thần”, chữ “Tông” đổi thành chữ “Tôn”…
May mắn cho chúng ta tại chùa Thanh Mai huyện Chí Linh (Hải Dương) có tấm bia “Thanh Mai Viên Thông tháp bi” cùng nội dung như bia chùa Hương Hải[13]. Tiếc rằng bia bị bào mòn mặt trước, mặt sau còn khá rõ. Bia Thanh Mai được khắc tháng 11 năm Nhâm Dần Đại Trị 5 (1362) do những đệ tử của thiền sư Pháp Loa thực hiện. Tính nguyên vẹn cao hơn bia chùa Hương Hải. Nói thế để biết rằng, truyện Thiền sư Pháp Loa trong Tam tổ thực lục cũng chưa chính xác hoàn toàn. Nhờ bia Thanh Mai mà chúng ta đối chiếu và phát hiện khá nhiều chữ khắc sai hoặc thiếu. Nhân đây, chúng tôi đưa ra mấy lỗi có ảnh hưởng đến nội dung trong Tam Tổ thực lục.
Lỗi thứ nhất, sách nhầm chữ “Thập” thành chữ “Thiên” làm cho con số tăng lên gấp nhiều lần. Sự nhầm lẫn này xuất hiện hai lần. Bia Thanh Mai đề “đắc pháp đệ tử tam thập dư nhân” tức đệ tử đắc pháp có hơn 30 người. Tam Tổ thực lục ghi “đắc pháp đệ tử tam thiên dư nhân”[14] tức đệ tử đắc pháp hơn ba nghìn người, tức số lượng đệ tử đắc pháp quá đông. Trên bia ghi đệ tử đắc pháp trong hai sơ đồ nhưng sách thì ghi gọp theo thứ tự.
Bia Thanh Mai chép đủ đoạn đối thoại giữa thiền sư Pháp Loa với ngài Huyền Quang nói về việc ngủ và tỉnh. Trong đó, Đệ nhị đại tổ bi và Tam tổ thực lục lại bị thiếu mất. Chúng tôi trưng dẫn dưới đây:
Thanh Mai Viên Thông tháp bi
"Chí thập nhất nhật dạ gian, Huyền Quang lai tỉnh bệnh. Sư ư thụy thời hống hống nhất thanh. Huyền Quang viết: Tôn giả mị ngữ da? Sư viết: Thụy tắc mị ngữ, bất thụy tắc bất mị ngữ. Huyền Quang viết: an đắc thụy dữ giác nhất. sư viết: Thụy dữ giác nhất…"
Tam Tổ thực lục
Chí thập nhất nhật dạ gian, Huyền Quang tỉnh bệnh. Sư ư thụy thời hống hống nhất thanh. Huyền Quang viết: an đắc thụy dữ giác nhất. sư viết: Thụy dữ giác nhất…
Cuối truyện thiền sư Pháp Loa có thêm Thiền đạo yếu học.
Soạn giả chỉ nói thêm vào mà không ghi rõ tác giả các bài ấy do ai sáng tác. Hầu như các nhà nghiên cứu đều thống nhất phần này do thiền sư Pháp Loa soạn[15].
Truyện thứ ba viết về thiền sư Huyền Quang. Soạn giả sử dụng Tổ gia thực lục nhưng không ghi rõ xuất xứ của tư liệu. Hiện vẫn chưa biết ai là tác giả cũng như sách xuất hiện vào thời nào. Các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều quan điểm khác nhau. Nguyễn Huệ Chi tin vào lời cuối sách để biết quá trình lưu truyền của văn bản. Đó là giai đoạn cuối nhà Hồ, Hoàng Phúc mang sách về Trung Quốc, mãi khi Tô Xuyên hầu Nguyễn Quang Bí đi sứ mới mang sách về lại nước ta. Nguyễn Bỉnh Khiêm nhân đọc đã viết bài “Giải trào” mà ta chưa tìm thấy. Cuối phần khảo sát, ông đưa ra nhận định “Không có lí do gì để nói đây không phải là một tác phẩm đời Trần”[16].
Nguyễn Lang trong chương viết về thiền sư Huyền Quang có bàn luận về tập Tổ gia thực lục. Lời dẫn ra dựa theo đoạn cuối truyện để nói về quá trình lưu truyền văn bản. Ông dựa vào truyền thừa phái Trúc Lâm Yên Tử để cho rằng “có thể An Tâm đã chép truyện Huyền Quang chăng?”[17]. Hai nhà nghiên cứu trên đều cho Tổ gia thực lục xuất hiện cuối đời Trần. Ta biết thiền sư Huyền Quang viên tịch năm 1334, sau thiền sư Pháp Loa 4 năm. Theo Thánh đăng ngữ lục, truyện vua Trần Minh Tông thì sau khi Pháp Loa viên tịch, nhà vua sai Trung sứ đến bảo ngài Huyền Quang soạn Phổ Tuệ ngữ lục và hành trạng. Vua Minh Tông có quan hệ thân thiết với đức Tam tổ, ngài là đệ tử đắc pháp của Tam tổ, người phát tâm hộ trì Tam Bảo, xây dựng mở rộng chùa Côn Sơn. Thế nhưng đoạn sau không đá động gì đến sự viên tịch cũng như cho người soạn Ngữ Lục, hành trạng của ngài Huyền Quang. Chúng ta chưa rõ sau khi ngài Huyền Quang viên tịch, ai soạn hành trạng cho ngài.
Tổ gia thực lục chép rõ gia thế và chú trọng câu truyện giữa thiền sư Huyền Quang và nàng Điểm Bích. Hình thức như một tập tiểu thuyết, nên sách có giá trị văn học hơn là sử học. Thâu tóm hết những đoạn có ghi niên đại, đem đối chiếu với các tư liệu đương thời thấy Tổ gia thực lục chép nhầm và sai một số việc. Nói thế để biết người viết Tổ gia thực lục phải sống cách xa ngài Huyền Quang nên trong tay không có sử liệu về cuộc đời hành đạo của Tam tổ Huyền Quang.
Giả thuyết của chúng tôi cho rằng, lời sau truyện là do thế hệ sau muốn làm cho câu truyện mang tính chất thực nên đã ghi quá trình Tổ gia thực lục được mang qua Trung Quốc, rồi lưu truyền trở lại nước ta. Theo thiểu ý, truyện có thể xuất hiện khoảng thời Lê sơ, hoặc vương triều nhà Mạc. Giai đoạn Phật Giáo không còn ảnh hưởng đến Triều đình mà đã đi vào dân gian, phát triển mạnh theo chiều hướng tín ngưỡng.
Một số nhà sưu tầm thơ văn thời Lý Trần như Phan Phu Tiên với công trình Việt Âm thi tập, Hoàng Đức Lương với Trích diễm thi tập, Lê Quí Đôn với Kiến văn tiểu lục… đều cho rằng “thiền sư Huyền Quang 9 tuổi đã biết làm thơ văn, học tập về nghề nghiệp thi cử, 19 tuổi vào chùa học đạo, tức là đệ tam tổ trong môn phái Trúc Lâm”[18]. Lê Quí Đôn còn bác chuyện thiền sư đỗ Trạng nguyên, sau từ quan về làm thầy chùa là không đúng. Đây là thuyết thứ hai có liên quan đến hành trạng thiền tổ Huyền Quang. Chúng tôi sẽ có dịp bàn rộng trong chuyên đề khác.
Tóm lại, Tam tổ thực lục được biên soạn năm 1765 do hai đại sư Tính Quảng và Hải Lương. Hai vị đã sưu tầm các thư tịch và bi ký đời Trần còn sót lại để tiến hành biên soạn. Trong sách thiếu sự nhất quán, tức nội dung ba truyện viết theo ba kiểu khác nhau. Truyện tổ Điều Ngự Giác Hoàng mang tính ngữ lục, truyện thiền sư Pháp Loa dựa vào niên biểu nên có tính chất sử học cao. Truyện thiền sư Huyền Quang có giá trị văn học, nhưng kém phần sử liệu. Thực tế cho thấy các soạn giả có dụng ý tốt đẹp nhưng do tính cóp nhặt nên không thể sách trở nên hoàn mỹ. Có lẽ lúc này tình hình đất nước đầy biến loạn, tư liệu thất tán, thời gian có hạn nên họ không thể tự viết lên được truyện ba tổ Trúc Lâm mà phải mượn lại các tư liệu có trước để làm nên bộ sách Tam Tổ thực lục
📚📚📚📚📚📚📚📚
Trích trong : Các truyền bản của "Tam Tổ Thực Lực "
Hoài cổ lâu cuối thu năm Mậu Tuất 2018
Thích Đồng Dưỡng
Nguồn :Thuvienhuequang.vn
17/01/2026
17/01/2026
17/01/2026
17/01/2026
17/01/2026
28/12/2025
28/12/2025
28/12/2025