Trên đỉnh Phù Vân

Trên đỉnh Phù Vân

Share

Trần Thái Tông Hoàng đế
Khóa Hư Lục

Photos from Trên đỉnh Phù Vân 's post 17/01/2026

TƯ LIỆU DÙNG ĐỂ BIÊN SOẠN TẬP SÁCH
Đầu tiên, chúng ta xác định tác giả biên soạn bộ sách. Đó là hai vị: Thiền sư Tính Quảng Thích Điều Điều và sa di Hải Lượng trụ trì Bổ Đà[8]. Theo bài tựa, Sa di Hải Lượng vốn môn nhân của chùa Hoa Yên núi Yên Tử nên có dịp tham đọc các tư liệu có liên quan đến sự tích ba tổ thuộc thiền phái Trúc Lâm đời Trần. Sư đến núi Tử Trầm, Sơn Tây thỉnh thiền sư Tính Quảng chứng minh, nhờ Quảng đính chính lại và soạn cho bài tựa trong dịp khắc ván bộ sách.

Trong tay chúng ta có mấy bản in Tam tổ thực lục nên biết được nguồn gốc hay cơ sở để biên giả dùng sử liệu gì để soạn nên tập sách. Trong bài tựa in trước sách, thiền sư Tính Quảng cho biết: “Trước có ba tổ đời Trần thứ lớp truyền đăng, ngữ lục thành sách, liệt vào “đồ tịch” để làm gương cho trời người noi theo, khắc in lưu truyền đã lâu vậy.
Than ôi! Vận có lúc hưng lúc giảm, pháp thường thịnh suy.
Lúc ấy, chính bản bị hỏng nát, lâu thành thất truyền.
May còn bản cũ Thánh đăng lục trích ra cùng lược sao bia cổ chùa Hương Hải, phía sau in phụ Thiền đạo yếu học để tiện quan lãm, cho đến Trúc Lâm Tự Tổ Bản Hạnh biên tập thành một sách, đầu cuối ngôn ngữ chu toàn”[9]. Soạn giả cho biết rõ tư liệu mà ngài đã sử dụng để soạn sách, tức hiểu rằng xưa đời Trần có sách ghi chép về truyện Tam tổ nhưng bị thất lạc. Đến đời Hậu Lê, soạn giả Tính Quảng đã dựa vào các tư liệu còn sót lại ra công biên tập. Bộ Tam Tổ thực lục được ra đời vào năm Cảnh Hưng thứ 26, năm mà soạn giả viết bài tựa. Để biết nguồn gốc tư liệu, chúng tôi xin tạm phân tích từng truyện một trong tập sách.

Truyện thứ nhất tức truyện viết về Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Câu đầu truyện chép “Án Thánh đăng thực lục”, tức dựa vào sách Thánh đăng thực lục. Ở đây phải được hiểu là sách Thánh đăng lục như bài tựa soạn giả Tính Quảng đề cập[10]. Thiền sư Tính Quảng sử dụng bản Thánh đăng lục do thiền sư Chân Nghiêm đời Mạc trùng san để đưa vào phần đầu của tập Tam tổ thực lục. Điều đó nhận ra qua bài thơ của vua Trần Nhân Tông cảm tác khi đi qua chùa làng Cổ Châu mà bản in đời Mạc có câu “Thế số nhất tố mạc”. Bản Thánh đăng ngữ lục do Tuệ Đăng trùng san đã bỏ hai từ “Tố mạc” thay bằng hai từ “tức mặc”[11].

Truyện thứ hai viết về thiền sư Pháp Loa. Tư liệu mà sách sử dụng là tấm bia chùa Hương Hải. Ngôi chùa nằm về quê của thiền sư Pháp Loa ở Nam Sách (Hải Dương). Theo tư liệu điều tra về chùa Hương Hải thì hiện nay chùa không còn, nhưng bia đá và tháp được di dời qua chùa Phúc Thắng (thôn Văn Xá, xã Ái Quốc, huyện Nam Sách). Tấm bia “Đệ nhị đại tổ bi” được khắc lại tháng 7 năm Bính Thìn Tự Đức thứ 9 (1856), dựa vào tấm bia cũ khắc năm Chính Hòa 5 (1685)[12]. Thiền sư Tính Quảng sao chép bia Chính Hòa tại chùa Hương Hải để đưa vào Tam tổ thực lục. Đối chiếu hai tư liệu nhận thấy có vài sai dị, nội dung giống nhau. Tấm bia khắc dưới thời Tự Đức tuân thủ phạm húy triều Nguyễn như chữ “Thời” đổi thành chữ “Thần”, chữ “Tông” đổi thành chữ “Tôn”…

May mắn cho chúng ta tại chùa Thanh Mai huyện Chí Linh (Hải Dương) có tấm bia “Thanh Mai Viên Thông tháp bi” cùng nội dung như bia chùa Hương Hải[13]. Tiếc rằng bia bị bào mòn mặt trước, mặt sau còn khá rõ. Bia Thanh Mai được khắc tháng 11 năm Nhâm Dần Đại Trị 5 (1362) do những đệ tử của thiền sư Pháp Loa thực hiện. Tính nguyên vẹn cao hơn bia chùa Hương Hải. Nói thế để biết rằng, truyện Thiền sư Pháp Loa trong Tam tổ thực lục cũng chưa chính xác hoàn toàn. Nhờ bia Thanh Mai mà chúng ta đối chiếu và phát hiện khá nhiều chữ khắc sai hoặc thiếu. Nhân đây, chúng tôi đưa ra mấy lỗi có ảnh hưởng đến nội dung trong Tam Tổ thực lục.

Lỗi thứ nhất, sách nhầm chữ “Thập” thành chữ “Thiên” làm cho con số tăng lên gấp nhiều lần. Sự nhầm lẫn này xuất hiện hai lần. Bia Thanh Mai đề “đắc pháp đệ tử tam thập dư nhân” tức đệ tử đắc pháp có hơn 30 người. Tam Tổ thực lục ghi “đắc pháp đệ tử tam thiên dư nhân”[14] tức đệ tử đắc pháp hơn ba nghìn người, tức số lượng đệ tử đắc pháp quá đông. Trên bia ghi đệ tử đắc pháp trong hai sơ đồ nhưng sách thì ghi gọp theo thứ tự.

Bia Thanh Mai chép đủ đoạn đối thoại giữa thiền sư Pháp Loa với ngài Huyền Quang nói về việc ngủ và tỉnh. Trong đó, Đệ nhị đại tổ bi và Tam tổ thực lục lại bị thiếu mất. Chúng tôi trưng dẫn dưới đây:

Thanh Mai Viên Thông tháp bi

"Chí thập nhất nhật dạ gian, Huyền Quang lai tỉnh bệnh. Sư ư thụy thời hống hống nhất thanh. Huyền Quang viết: Tôn giả mị ngữ da? Sư viết: Thụy tắc mị ngữ, bất thụy tắc bất mị ngữ. Huyền Quang viết: an đắc thụy dữ giác nhất. sư viết: Thụy dữ giác nhất…"

Tam Tổ thực lục
Chí thập nhất nhật dạ gian, Huyền Quang tỉnh bệnh. Sư ư thụy thời hống hống nhất thanh. Huyền Quang viết: an đắc thụy dữ giác nhất. sư viết: Thụy dữ giác nhất…

Cuối truyện thiền sư Pháp Loa có thêm Thiền đạo yếu học.
Soạn giả chỉ nói thêm vào mà không ghi rõ tác giả các bài ấy do ai sáng tác. Hầu như các nhà nghiên cứu đều thống nhất phần này do thiền sư Pháp Loa soạn[15].

Truyện thứ ba viết về thiền sư Huyền Quang. Soạn giả sử dụng Tổ gia thực lục nhưng không ghi rõ xuất xứ của tư liệu. Hiện vẫn chưa biết ai là tác giả cũng như sách xuất hiện vào thời nào. Các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều quan điểm khác nhau. Nguyễn Huệ Chi tin vào lời cuối sách để biết quá trình lưu truyền của văn bản. Đó là giai đoạn cuối nhà Hồ, Hoàng Phúc mang sách về Trung Quốc, mãi khi Tô Xuyên hầu Nguyễn Quang Bí đi sứ mới mang sách về lại nước ta. Nguyễn Bỉnh Khiêm nhân đọc đã viết bài “Giải trào” mà ta chưa tìm thấy. Cuối phần khảo sát, ông đưa ra nhận định “Không có lí do gì để nói đây không phải là một tác phẩm đời Trần”[16].

Nguyễn Lang trong chương viết về thiền sư Huyền Quang có bàn luận về tập Tổ gia thực lục. Lời dẫn ra dựa theo đoạn cuối truyện để nói về quá trình lưu truyền văn bản. Ông dựa vào truyền thừa phái Trúc Lâm Yên Tử để cho rằng “có thể An Tâm đã chép truyện Huyền Quang chăng?”[17]. Hai nhà nghiên cứu trên đều cho Tổ gia thực lục xuất hiện cuối đời Trần. Ta biết thiền sư Huyền Quang viên tịch năm 1334, sau thiền sư Pháp Loa 4 năm. Theo Thánh đăng ngữ lục, truyện vua Trần Minh Tông thì sau khi Pháp Loa viên tịch, nhà vua sai Trung sứ đến bảo ngài Huyền Quang soạn Phổ Tuệ ngữ lục và hành trạng. Vua Minh Tông có quan hệ thân thiết với đức Tam tổ, ngài là đệ tử đắc pháp của Tam tổ, người phát tâm hộ trì Tam Bảo, xây dựng mở rộng chùa Côn Sơn. Thế nhưng đoạn sau không đá động gì đến sự viên tịch cũng như cho người soạn Ngữ Lục, hành trạng của ngài Huyền Quang. Chúng ta chưa rõ sau khi ngài Huyền Quang viên tịch, ai soạn hành trạng cho ngài.

Tổ gia thực lục chép rõ gia thế và chú trọng câu truyện giữa thiền sư Huyền Quang và nàng Điểm Bích. Hình thức như một tập tiểu thuyết, nên sách có giá trị văn học hơn là sử học. Thâu tóm hết những đoạn có ghi niên đại, đem đối chiếu với các tư liệu đương thời thấy Tổ gia thực lục chép nhầm và sai một số việc. Nói thế để biết người viết Tổ gia thực lục phải sống cách xa ngài Huyền Quang nên trong tay không có sử liệu về cuộc đời hành đạo của Tam tổ Huyền Quang.

Giả thuyết của chúng tôi cho rằng, lời sau truyện là do thế hệ sau muốn làm cho câu truyện mang tính chất thực nên đã ghi quá trình Tổ gia thực lục được mang qua Trung Quốc, rồi lưu truyền trở lại nước ta. Theo thiểu ý, truyện có thể xuất hiện khoảng thời Lê sơ, hoặc vương triều nhà Mạc. Giai đoạn Phật Giáo không còn ảnh hưởng đến Triều đình mà đã đi vào dân gian, phát triển mạnh theo chiều hướng tín ngưỡng.

Một số nhà sưu tầm thơ văn thời Lý Trần như Phan Phu Tiên với công trình Việt Âm thi tập, Hoàng Đức Lương với Trích diễm thi tập, Lê Quí Đôn với Kiến văn tiểu lục… đều cho rằng “thiền sư Huyền Quang 9 tuổi đã biết làm thơ văn, học tập về nghề nghiệp thi cử, 19 tuổi vào chùa học đạo, tức là đệ tam tổ trong môn phái Trúc Lâm”[18]. Lê Quí Đôn còn bác chuyện thiền sư đỗ Trạng nguyên, sau từ quan về làm thầy chùa là không đúng. Đây là thuyết thứ hai có liên quan đến hành trạng thiền tổ Huyền Quang. Chúng tôi sẽ có dịp bàn rộng trong chuyên đề khác.

Tóm lại, Tam tổ thực lục được biên soạn năm 1765 do hai đại sư Tính Quảng và Hải Lương. Hai vị đã sưu tầm các thư tịch và bi ký đời Trần còn sót lại để tiến hành biên soạn. Trong sách thiếu sự nhất quán, tức nội dung ba truyện viết theo ba kiểu khác nhau. Truyện tổ Điều Ngự Giác Hoàng mang tính ngữ lục, truyện thiền sư Pháp Loa dựa vào niên biểu nên có tính chất sử học cao. Truyện thiền sư Huyền Quang có giá trị văn học, nhưng kém phần sử liệu. Thực tế cho thấy các soạn giả có dụng ý tốt đẹp nhưng do tính cóp nhặt nên không thể sách trở nên hoàn mỹ. Có lẽ lúc này tình hình đất nước đầy biến loạn, tư liệu thất tán, thời gian có hạn nên họ không thể tự viết lên được truyện ba tổ Trúc Lâm mà phải mượn lại các tư liệu có trước để làm nên bộ sách Tam Tổ thực lục

📚📚📚📚📚📚📚📚

Trích trong : Các truyền bản của "Tam Tổ Thực Lực "
Hoài cổ lâu cuối thu năm Mậu Tuất 2018
Thích Đồng Dưỡng
Nguồn :Thuvienhuequang.vn

17/01/2026

BẢN PHÁP VŨ
Bản sách được in từ bộ ván khắc của chùa Pháp Vũ thôn Quảng Nội, xã Đồng Lại, tổng Đông Cao, huyện Vĩnh Lại, phủ Ninh Giang, tỉnh Hải Dương (tạm gọi là bản Pháp Vũ) nay thuộc xã Quyết Thắng, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. Ván khắc thực hiện cuối thu năm Đinh Dậu Thành Thái 9 (1897) do tỳ kheo Diệu Trạm hưng công và viết bài dẫn trước sách. Sách do hai sa môn Thanh Cừ, Thanh Vân giúp việc khắc bản. Trong thực tế, chúng tôi tìm được ba bản sách có cùng ván in chùa Pháp Vũ.
Bản in đợt đầu chỉ có Tam tổ thực lục, y như hình thức ván khắc thế nào thì in ra thế đó, đóng thành tập. Sách có tất cả 68 tờ, tờ bìa, 5 tờ bài duyên khởi, 60 tờ nội dung. Bản in đợt này có phụ thêm 2 tờ “Huyền Quang hành giải” được trích từ tập Ngô gia văn phái. Mỗi tờ 2 trang, mỗi trang 8 dòng, mỗi dòng 15 chữ, khắc chữ khải thư, rõ đẹp[2]. Tờ đầu tiên đề bốn chữ Hán lớn “Tam tổ thực lục”, mặt sau khắc tranh ba vị tổ Trúc Lâm, dưới dạng hình một Phật, nhị thanh văn. Hai bên có câu đối:

Thiệu long Phật Tổ chi tâm tông

Hoằng phát thánh hiền chi pháp chỉ.

Tạm dịch:

Phát huy tâm tông của Phật Tổ

Mở rộng pháp chỉ của thánh hiền.

Trên mỗi chân dung tổ Trúc Lâm có đề chữ Hán
“Trúc Lâm đệ nhất tổ Điều Ngự Giác Hoàng”,
dòng bên trái ghi “Trúc Lâm đệ nhị tổ Pháp Loa tôn giả” và
“Trúc Lâm đệ tam tổ Huyền Quang tôn giả”.

Ngài Điều Ngự Giác Hoàng vẽ mượn hình thức tượng ngồi trên tòa sen, tay cầm hoa sen đưa lên, tay kia để xuống dọc theo đầu gối, mượn kiểu tượng đức Phật Thích Ca niêm hoa vi tiếu.
Ngài Pháp Loa, Huyền Quang vẽ theo kiểu người đứng hầu, chắp tay, mặc y phục như hai vị A Nan, Ca Diếp.

Sau đó là bài Trùng san hiệu chính Tam tổ ngữ lục duyên khởi do tì kheo Diệu Trạm chùa Pháp Vũ viết cuối thu năm Đinh Dậu Thành Thái thứ 9 (1897). Phía sau bài dẫn có hơn một tờ chú giải một số thuật ngữ được dùng trong bài dẫn đó. Phần nội dung được đánh số tờ riêng. Giống như bản chùa Lân, sách chia làm ba phần:

Đệ nhất tổ thực lục từ tờ 1 đến tờ 15.

Đệ nhị tổ niên phổ thực lục từ tờ 16 đến tờ 33. Phần phụ Thiền đạo yếu học được tách riêng ra chiếm từ tờ 34 đến tờ 48. Phía tờ 48b có ghi: “Thanh Lục xã viên Phạm Văn Vũ phụng san” tức xã viên xã Thanh Lục là Phạm Văn Vũ vâng khắc.

Bản hạnh ngữ lục chiếm từ tờ 49 đến tờ 60. Có thêm mục “Huyền Quang hành trạng” lấy từ Ngô Gia văn phái chiếm từ tờ 61 đến tờ 62.

Bản in chùa Pháp Vũ không khắc bài tựa của thiền sư Tính Quảng. Bài trùng san hiệu chính Tam tổ ngữ lục duyên khởi do Diệu Trạm viết có nói về lai lịch như sau: “Nhân qua chùa Vĩnh Nghiêm, yết kiến thầy viện chủ Thanh Tuyên, tôi bèn bộc bạch nỗi lòng của mình. Ngài bảo: “tôi có quyển sách hay, xin đưa ông xem thử.”. Tôi đón lấy sách, hồi hộp xem qua một lượt, thực không cầm nỗi hân hoan phấn khởi, liền bái thỉnh đem về xam kỹ”[3]. Bản mà Diệu Trạm sử dụng để khắc ván lấy từ tập sách Tam tổ thực lục của ngài Thanh Tuyên chùa Vĩnh Nghiêm. Bản này chắc là bản Lân Động in thời hậu Lê và có thể đã bị mất bài tựa ở đầu sách nên Diệu Trạm không rõ về niên đại của tập sách. Ngài viết: “Sách này trải qua nhiều đời, từ triều Trần cho tới Hậu Lê, mà nay còn sót lại, dạng chữ phần nhiều sai lầm, tôi không ngại vụng về kém cỏi, miễn cưỡng chấm câu, để tiện khi đọc”[4]. Bản trùng san đã được Diệu Trạm hiệu kiểm và cú đậu, tăng bổ nhiều cước chú, bổ ích cho người đọc.

Bản thứ hai chúng tôi muốn giới thiệu là tập sách lưu trữ tại Thư viện Huệ Quang (Sài Gòn). Tập này gồm hai văn bản:
Thượng sĩ ngữ lục và Tam tổ thực lục đóng gọp vào nhau[5]. Theo bài tiểu dẫn Thượng sĩ ngữ lục, Tỳ kheo Thanh Hanh cho biết: “Cuối thu năm Đinh Dậu (1897) trước đây, thầy Diệu Trạm, cố trụ trì chùa Pháp Vũ, có khắc in lại bộ Trúc Lâm tam tổ lục để lưu hành. Năm Quí Mão này (1903), người kế thừa trụ trì chùa Pháp Vũ là tỳ kheo Thanh Cừ, duyên may nhận được từ trưởng lão Thanh Lân bản cũ bộ Thượng sĩ ngữ lục, coi như của báu, bèn nguyện cho khắc in tiếp, ghép ở đầu bộ Trúc Lâm tam tổ lục, gom thành một bộ để khi xem đến sẽ thấy rõ được mối truyền nối trong thiền phổ, theo thứ lớp từng đời”[6].

Năm 1903, tỳ kheo Thanh Cừ kế nghiệp trụ trì chùa Pháp Vũ và tìm được bản cũ sách Thượng sĩ ngữ lục và tiến hành khắc ván trùng san. Sau khi bộ ván hoàn thành, Ngài muốn đưa Thượng sĩ ngữ lục đặt trước sách Tam tổ thực lục cho người đọc dễ nghiên cứu. Qua đó, ván khắc Tam tổ thực lục vẫn là ván năm Đinh Dậu, chỉ khi in ra đóng hai sách thành một tập. Bản in lần này có thêm 2 tờ cuối sách, bài ký do Thanh Cừ soạn đề tháng 8 năm Ất Tỵ Thành Thái 17 (1905) và phương danh cúng dường. Điều đó cho thấy năm 1905 mới chính là năm in giấy hai bộ Thượng sĩ ngữ lục/ Tam tổ thực lục. Trước đó hai năm, chùa Pháp Vũ thuê thợ khắc ván bộ Thượng sĩ ngữ lục.

Năm 1943, tổng Hội Phật Giáo Bắc Kỳ nhờ trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội cho phát hành bộ Việt Nam Phật điển tùng san. Hội đã chọn bộ Thượng sĩ ngữ lục/Tam tổ thực lục ván khắc chùa Pháp Vũ đưa vào làm tập thứ 6 của bộ tùng san. Bản in này có thêm mấy tờ đầu và cuối khác với bản in năm 1903.
Tờ đầu, mặt trước khắc dòng chữ lớn “Việt Nam Phật điển tùng san”, hàng bên trái đề “Hà Nội Viễn Đông bác cổ học viện hộ san” hàng bên phải ghi “Hà Nội Bắc Kì Phật Giáo tổng hội phát hành”. Mặt sau ghi danh sách các vị chứng minh đạo sư khi cho in ấn bộ tùng san.
Tờ thứ hai, mặt trước có hai hàng chữ Hán. Hàng giữa chữ lớn đề “Trần triều dật tồn Phật điển lục”, hàng chữ nhỏ ở bên phải ghi “Việt Nam Phật Điển Tùng San chi lục” tức tập thứ 6 của bộ Việt Nam Phật Điển tùng san. Mặt sau ghi mục lục gồm có: “Thượng sĩ ngữ lục, Tam tổ thực lục, thiền đạo yếu học, Bản hạnh ngữ lục”, ba mục sau chính là nội dung sách Tam tổ thực lục mà ta đã mô tả trong bản in chùa Pháp Vũ.

Tờ thứ ba khắc bốn chữ Hán “Thượng sĩ ngữ lục” đó chính là nội dung của quyển Thượng sĩ ngữ lục. Dựa theo mục lục thì đến trước phần nội dung của các mục đều có tờ đầu khắc tên sách như bản mục lục kê ra. Tờ cuối ghi toàn bằng Pháp văn, nội dung dịch từ tờ đầu tiên của bộ Tùng san bằng Hán văn[7].

Do vậy, bộ ván Tam tổ thực lục trong vòng hơn 40 năm đã in ra được ba lần nên số lượng sách xuất bản khá nhiều và hiện nay có nhiều chùa trong nước còn lưu trữ được tập sách.

Trích trong : Các truyền bản của "Tam Tổ Thực Lực "
Hoài cổ lâu cuối thu năm Mậu Tuất 2018
Thích Đồng Dưỡng
Nguồn :Thuvienhuequang.vn

Photos from Trên đỉnh Phù Vân 's post 17/01/2026

BẢN LÂN ĐỘNG
Bản in đầu tiên được thực hiện vào năm Cảnh Hưng thứ 26 (1765) do sa di Hải Lượng trụ trì Bổ Đà mộ duyên khắc in.
Ván in được trân tàng tại chùa Lân Động, núi Yên Tử (còn gọi là Bản chùa Lân).
Đợt in này hiện tìm được hai bản, một bản lưu tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu A 786 và bản thứ hai nằm trong tủ sách của Đại Đức Thích Giác Thành, chùa Linh Ứng (chùa Hói), Gia Lộc, Hải Dương.

Cả hai bản đều ở tình trạng xấu, bị hư hại nặng do mối xông, b**g một số chỗ, nhất là phía dưới trang và mép gần gáy sách.

Bản chùa Hói bị hư một số tờ đầu, làm mất một số chữ ở gần gáy sách, từ tờ thứ 6 trở đi tình trạng sách còn khá tốt.

Bản này được đóng sau tập Thiền uyển tập anh, bản in năm Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715).

Sách không có tờ bìa, 2 tờ đầu là bài tựa, mỗi tờ hai trang, mỗi trang 8 dòng, mỗi dòng 15 chữ, khắc chữ khải thư rõ đẹp. Phía sau bài tựa cho biết soạn giả là Hối Tích sa môn Tính Quảng Điều Điều ở viện Thời Vũ. Sư Tính Quảng soạn tựa năm Cảnh Hưng thứ 26 (1765) và lấy năm này làm niên đại cho văn bản[1]. Nội dung chia làm ba phần:

Phần nhất, tiêu đề: Yên Tử sơn đệ nhất tổ Trúc Lâm đại sĩ thực lục, trên gáy đề “Đệ nhất tổ thực lục” tức truyện vua Trần Nhân Tông chiếm 13 tờ. Mỗi trang kẻ 8 khung dọc, giữa mỗi khung là dòng chữ Hán, mỗi dòng có 16 chữ, khắc thể khải thư, đẹp. Phần này do tì kheo Hải Luật Thích Cục Cục viết chữ.

Phần hai: Trúc Lâm đệ nhị đại tổ sư đặc phong Phổ Tuệ Minh Giác Tịnh Trí đại tôn giả niên phả y đoạn sách lục, gáy đề Nhị tổ niên phả thực lục tức truyện thiền sư Pháp Loa Phổ Tuệ, tổ thứ hai thiền phái Trúc Lâm. Phần này do “Thị giả Trung Minh tập nhập, Truyền pháp chân tử Huyền Quang khảo đính”. Mỗi trang 8 dòng, mỗi dòng 17 chữ, khắc chữ khải thư, chữ viết không đẹp, chiếm 16 tờ. Phần này có in phụ Thiền đạo yếu lược gồm 15 tờ, do tì kheo Hải Diễn Thích Dương Dương chùa Linh Sơn chép.

Khuyến xuất gia tiến đạo ngôn: tờ 1 đến 3a1.
Thăng đường: Tờ 3a2 đến tờ 6b6.
Thượng thừa tam học khuyến chúng phổ thuyết tờ 6b7 đến tờ 10a7.
Đại thừa yếu thuyết tờ 10b8 đến tờ 11a5.
Yếu minh học thuật tờ 11a6 đến tờ 15, tức hết phần phụ Thiền học yếu đạo.

Phần ba là Tổ gia thực lục, gáy đề Bản hạnh ngữ lục.
Tờ đầu phía dưới gáy đề số tờ đã đến vị trí số 7, tức tờ 7, không rõ khắc nhầm số tờ chăng? Mỗi trang 7 dòng, mỗi dòng 14 chữ. Mấy tờ đầu viết chữ khá đẹp, tờ 12 cho đến cuối thì chép xấu.

Tờ 21b4 tức chép hết truyện tổ Huyền Quang có ghi: “Trúc Lâm Lâm Tế tông phái nguyên lưu:
Như Chúc, Như Liên, Như Hạo, Như Nguyện, Như Tọa, Như Hạ, Như Tu, Như Triển, Như Đẳng, Như Xiển, Như Nhuận,
cập Tính Trừng, Tính Thước đẳng.
Hộ lục công đức: Hạ Hồng phủ Gia Phúc huyện Lam Cầu xã tại gia thiện nam Trần Đức Vọng tự Như Tuất,
thê Đỗ Thị Dặn hiệu Diệu Trung,
thân mẫu Phạm Thị Liễn hiệu Diệu Đức.
Nguyện trượng thử phúc duyên đồng sinh cực lạc quốc.
Hồng Lục xã Tuấn tài san bản”.

Tức ghi lại danh sách một số thiền tăng đệ tử của thiền sư Chân Nguyên, chùa Long Động núi Yên Tử. Trong đó, có ghi gia đình của Trần Đức Vọng người Hải Dương có công trong việc ủng hộ khắc ván in sách.

📖📖📖📖📖📖📖
Trích trong : Các truyền bản của "Tam Tổ Thực Lực "
Hoài cổ lâu cuối thu năm Mậu Tuất 2018
Thích Đồng Dưỡng
Nguồn :Thuvienhuequang.vn

17/01/2026

TAM TỔ THỰC LỰC
Tam tổ thực lục là tập sách chép tiểu sử ba vị tổ sư thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đời Trần. Đó là truyện về đức Điều Ngự Phật Hoàng Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang.
Sách do thiền sư Tính Quảng và sa di Hải Lượng dựa vào các tư liệu có từ đời Trần đến giai đoạn sau soạn thành và được khắc bản vào năm Cảnh Hưng thứ 26 (1765), ván in lưu tại chùa Lân núi Yên Tử. Hơn 100 năm sau sách được chùa Pháp Vũ ở tỉnh Hải Dương trùng san. Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu về các ấn bản của sách Tam tổ thực lục.
1. Bản lân động
2.Bản Pháp Vũ

Trích trong bài : Các truyền bản của Tam Tổ Thực Lực
Nguồn : Thuvienhuequang.vn

17/01/2026

THƯỢNG THƯ NHÀ MINH TRỘM PHÁP NGƯỜI VIÊT VÀ LINH ỨNG CỦA ĐỨC TỔ SƯ
Phần ghi chép về thiền sư Huyền Quang, vị tổ thứ ba của Giáo hội Trúc Lâm, không mang tên tác giả và người hiệu khảo. Phần này mang nhan đề là Tổ Gia Thực Lục. Theo lời dẫn in ở cuối thì vào khoảng những năm Tuyên Ðức nhà Minh (tức là vào cuối đời Hồ), một bản Tổ Gia Thực Lục đã được thượng thư Hoàng Phúc người Minh lượm lấy đem về Trung Hoa. (Hồi Minh thuộc, tướng Trương Phụ thu gom hết tất cả sách vở tại Ðại Việt chở về Kim Lăng, ít sách còn có thể giữ lại).

Hoàng Phúc thường nằm mộng thấy Huyền Quang bảo phải gửi trả tập sách này về Ðại Việt, nhưng chưa có dịp làm như thế.

Thấy Huyền Quang linh ứng, ông mới lập chùa thờ, đặt tên chùa là “An Nam Thiền Sư Huyền Quang Tự”.

Ðến khoảng năm Gia Tĩnh nhà Minh, Tô Xuyên Hầu nhà Hậu Lê đi sứ sang Trung Hoa gặp được cháu bốn đời của Hoàng Phúc là Hoàng Thừa, mới nhận được tập sách mang về nước. (Tô Xuyên Hầu tức là Lê Quang Bí, làm quan đến chức Binh bộ thị lang, đậu hoàng giáp năm 1526).

Khi về nước ông đã đưa tập truyện Huyền Quang cho ông Nguyễn Bỉnh Khiêm xem, từ đó sách lại được phổ biến. Lời dẫn nói rằng Hoàng Thừa, cháu của Hoàng Phúc, cũng nằm mộng thấy Huyền Quang nhiều lần nhắn gửi tập sách về Ðại Việt, cho nên khi Tô Xuyên Hầu qua, ông ta đã tìm gặp để gửi sách

Photos from Trên đỉnh Phù Vân 's post 17/01/2026

ĐỆ TAM TỔ TRÚC LÂM -HUYỀN QUANG - NGANG HÀNG VỚI 6 VỊ TỔ TRUNG QUỐC VÀ 28 VỊ TỔ ẤN ĐỘ
Huyền Quang (玄光), 1254-1334, tên thật là Lý Tái Đạo (李載道) là một thiền sư, nhà lãnh đạo Phật giáo Đại thừa ở Đại Việt thời Trần. Ông là người hương Vạn Tải, châu Nam Sách, lộ Lạng Giang (nay thuộc xã Thái Bảo, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh). Học giỏi, đỗ cả thi hương, thi hội.
Ông đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ (trạng nguyên) khoa thi năm 1272?[1] hay 1274?[2] và được bổ làm việc trong Viện Nội Hàn của triều đình, tiếp sư Bắc triều, nổi tiếng văn thơ. Sau này từ chức đi tu, theo Trần Nhân Tông lên Trúc Lâm. Là một Thiền sư Việt Nam, tổ thứ ba dòng Trúc Lâm Yên Tử.
Ông là một nhà thơ lớn với nhiều bài thơ còn được lưu lại.

Cùng với Trúc Lâm Đầu Đà Trần Nhân Tông và Pháp Loa, ông được xem là một Đại thiền sư của Việt Nam và người ta xem ông và hai vị nêu trên ngang hàng với sáu vị tổ của Thiền tông Trung Quốc hoặc 28 vị tổ của Thiền Ấn Độ.

TRUYỀN THUYẾT VÀ SỰ NGHIỆP
Theo truyền thuyết ghi lại trong Tam tổ thực lục (三祖實錄), mẹ của Huyền Quang là Lê Thị hay đến chùa Ngọc Hoàng cầu nguyện vì tuổi đã 30 mà chưa có con.

Đầu năm Giáp Dần 1254, vị trụ trì chùa Ngọc Hoàng là Huệ Nghĩa mơ thấy "các toà trong chùa đèn chong sáng rực, chư Phật tôn nghiêm, Kim Cương Long Thần la liệt đông đúc.

Đức Phật chỉ Tôn giả A-nan-đà bảo: 'Ngươi hãy tái sinh làm pháp khí Đông Độ và phải nhớ lại duyên xưa.'" Năm ấy Lê Thị sinh Huyền Quang. Lớn lên ông dung mạo dị thường, làm quan đến chức Hàn Lâm.

Tam Tổ thực lục, phần Tổ Gia thực lục chép tiểu sử Huyền Quang có nói: ông cùng vua Trần Anh Tông đến chùa Vĩnh Nghiêm huyện Phượng Nhãn, nghe Thiền sư Pháp Loa giảng kinh, liền nhớ lại "duyên xưa", xin xuất gia thụ giáo. Tuy nhiên, cũng trong sách này mà phần tiểu sử Pháp Loa lại nói Huyền Quang thụ giáo với Bảo Phác ở chùa Vũ Ninh (Bắc Ninh). Ông được cử làm thị giả của Trúc Lâm Đầu Đà và được ban pháp hiệu là Huyền Quang.

Sau, ông theo lời phó chúc của Trúc Lâm trụ trì chùa Vân Yên (nay là chùa Hoa Yên) trên núi Yên Tử. Vì đa văn bác học, tinh thông đạo lý nên tăng chúng đua nhau đến học.

Niên hiệu Đại Khánh thứ 4 (1317), ông được Pháp Loa truyền y của Trúc Lâm và tâm kệ. Sau khi Pháp Loa tịch (1330), ông kế thừa làm Tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm nhưng vì tuổi đã cao nên ông giao phó trách nhiệm lại cho Quốc sư An Tâm.

Ông đến trụ trì Thanh Mai Sơn sáu năm, sau dời sang Côn Sơn giáo hoá. Ngày 23 tháng 1 năm Giáp Tuất (1334) thời vua Trần Hiến Tông, ông viên tịch, thọ 80 tuổi. Thượng hoàng Trần Minh Tông sắc thuỵ là Trúc Lâm Thiền Sư Đệ Tam Đại, đặc phong Từ Pháp Huyền Quang Tôn Giả.

TÁC PHẨM
Sau đây là một vài bài thơ tiêu biểu của thiền sư Huyền Quang:

菊花
忘身忘世已都忘。
坐久簫然一榻涼
歲晚山中無歷日。
菊花開處即重陽

Cúc hoa
Vong thân vong thế dĩ đô vong
Toạ cửu tiêu nhiên nhất tháp lương
Tuế vãn sơn trung vô lịch nhật
Cúc hoa khai xứ tức trùng dương

Hoa cúc
Quên mình quên hết cuộc tang thương
Ngồi lặng đìu hiu mát cả giường
Năm cuối trong rừng không có lịch
Thấy hoa cúc nở biết trùng dương
(theo Thơ văn Lý-Trần)
花在中庭人在樓。
焚香獨坐自忘憂
主人與物渾無競。
花向群芳出一頭

Hoa tại trung đình, nhân tại lâu
Phần hương độc toạ tự vong ưu
Chủ nhân dữ vật hồn vô cạnh
Hoa hướng quần phương xuất nhất đầu.

Người ở trên lầu hoa dưới sân
Vô ưu ngồi ngắm khói trầm xông
Hồn nhiên người với hoa vô biệt
Một đoá hoa vừa mới nở tung.
(Bản dịch của Nguyễn Lang)
地爐即事
煨餘榾柮獨焚香。
口答山童問短章
手把吹商和木鐸。
從來人笑老僧忙

Địa lô tức sự
Ổi dư cốt đốt độc phần hương
Khẩu đáp sơn đồng vấn đoản chương
Thủ bả xuy thương hoà mộc đạc
Tòng lai nhân tiếu lão tăng mang

Lò sưởi tức cảnh
Củi hết lò còn vương khói nhẹ
Sơn đồng hỏi nghĩa một chương kinh
Tay cầm dùi mõ, tay nâng sáo
Thiên hạ cười ta cứ mặc tình
(Bản dịch của Nguyễn Lang)
Sơn Vũ
Thu phong ngọ dạ phất thiền nha
Sơn vũ tiêu nhiên chẩm lục la
Dĩ lữ thành thiền tâm nhất phiến
Cùng thanh tức tức vị thùy đa
Mưa núi
Gió thu ban tối thổi hiên tây
Nhà núi đìu hiu tựa đám cây
Tấc dạ tu hành từ những thuở
Dế kêu rầu rĩ bởi ai đây?
(Bản dịch của Phan Võ)

Tác phẩm của Sư:

Ngọc tiên tập
Chư phẩm kinh
Công văn tập
Phổ huệ ngữ lục

Nguồn : https://vi.wikipedia.org/wiki/Huy%E1%BB%81n_Quang

28/12/2025

QUỐC VƯƠNG TÁN THÁN !
Sinh thời, năm 1322 Pháp Loa có nhận lời khen ngợi của vua Trần Minh Tông:[11]

“ Sư phong thái siêu thoát, chí khí hiên ngang, đáng gọi là người không lường. Nay xem đến bài "Tham Thiền Chỉ Yếu" do Sư dâng lên, thật là ra vào có phép tắc, bước đi có quy cũ, nếu không phải tâm cơ bậc tài ba, kế sách vị tướng giỏi, đâu hay được như thế ư? Tông phong của giòng Trúc Lâm chính thế mà chẳng suy sụp, đáng ban khen thêm hai chữ "Minh Giác". ”
— Trần Minh Tông

Tác phẩm của Pháp Loa ngày nay chỉ có một phần sách Thiền Đạo Yếu Học, được in trong sách Tam Tổ Thực Lục, ngay sau phần tiểu sử Pháp Loa. Sách này có ghi lại lời ghi chú của một người khắc bản sách ở ngay sau phần Thiền Đạo Yếu Học:[12]

“ Sư tịch năm 47 tuổi, được nối dòng sau 23 tuổi theo tông môn của Dương Kỳ, nắm chỉ ý của Viên Ngộ, ngày ngày đàm thiền thuyết pháp trong tinh thần "vô nhất pháp nhi khả đắc", nơi nơi tiếp xúc độ sinh, theo tinh thần "phi chúng sinh nhi bất lợi".

Khi đi thì thấy trâu đã rống mặt trăng,
khi đứng thì nghe ngựa gỗ hí gió;
ngôi thì dựa vào gốc cây không bóng,
nằm thì nghỉ lưng nơi không giường chiếu,
nào ai có thể biết được sự tuyệt với của đời ngài.

Kinh Chư Sơn Lâm nói: "Thiền tông chợ sáng" tức là nếu gặp ý chỉ ngoài ngôn ngữ ngữ thì không nên dính vào kiến văn, chớ kẹt vào nghĩa huyền diệu trong văn cú.

Hãy khai mở tư duy một cách thong thả, nhiên hậu mới có thể hướng về tông môn, đạt tới chuyển ngộ, mới có thể nắm tay tổ cùng đi...

Nếu không thì cũng chỉ làm một cuốn sách mọt gặm mà thôi vậy... ”
— Tam Tổ Thực Lục

Nguồn : Vi.wikipedia.org

Chú thích :

11) Hòa thượng Thích Thanh Từ (phiên dịch) (1999). Thánh Đăng Lục Giảng Giải (PDF). Nhà xuất bản TP. Hồ Chí Minh. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2016. các trang 93-94.

( 12) Nguyễn Lang 1979, chương XIII: "Thiền sư Pháp Loa (1284-1330)"

28/12/2025

DI SẢN TRUYỀN ĐĂNG .
Các tác phẩm của Nhị Tổ Pháp Loa được ghi nhận trong sách Tam Tổ Thực Lục:

Đoạn sách lục;
Tham thiền chỉ yếu (còn dịch là Thiền đạo yếu học)
Kim cương đạo trường đà-la-ni kinh khoa chú;
Tán Pháp hoa kinh khoa sớ;
Bát-nhã tâm kinh khoa;
Nhân vương hộ quốc nghi quỹ,
và một vài bài kệ trước lúc tịch.

Nguồn : Vi.wikipedia.org

28/12/2025

THI TỊCH - KHÔNG DUYÊN KHÔNG PHÁP
Đầu năm 1330, Pháp Loa được một số quý tộc mời thăm An Lạc tàng viện, giảng lại hội thứ nhất và thứ hai trong kinh Hoa Nghiêm. Không lâu sau, ông lên Thăng Long chúc mừng thượng hoàng Trần Minh Tông dẹp được quân Ngưu Hống. Ngày 3 tháng 2 âm lịch, Pháp Loa trở về viện An Lạc, 2 ngày sau ông bị bệnh. Trong vòng 7-8 ngày tới bệnh tình trầm trọng hơn. Khi Huyền Quang đến thăm Pháp Loa đã có một cuộc hội thoại về Thiền được sử sách lưu lại:

"Đến ngày mười một vào lúc ban đêm Huyền Quang vào thăm bệnh, trong lúc ngủ, Sư [Pháp Loa] kêu "hồng hồng" một tiếng, Huyền Quang hỏi: "Ngủ với thức đã là một chưa?"
Sư đáp: "Ngủ với thức là một, là khi y không bệnh".
Huyền Quang hỏi: "Bệnh với không bệnh đã là một chưa?"
Sư đáp: "Bệnh cũng chẳng can gì đến y, chẳng bệnh cũng chẳng can gì đến y".
Huyền Quang hỏi: "Thế thì tại sao có tiếng nói thốt ra?"
Sư đáp: " Tiếng gió thổi qua cây mà quan tâm làm gì".
Huyền Quang nói: "Tiếng gió thổi qua cây thì người ta không lầm, nhưng khi ngủ nói mớ thì có thể làm người ta lầm".
Sư nói: "Kẻ si mê cũng có thể bị tiếng gió thổi qua cây làm mê lầm lắm".
Huyền Quang nói: " Chỉ có một bệnh đó mà đến chết cũng chưa khỏi".
Sư bèn đạp Huyền Quang, Huyền Quang bỏ ra."

Sau cuộc đối thoại này, thiền sư Pháp Loa có phần bình phục.

Ngày 13 tháng 2 âm lịch, ông trở về phương trượng viện Quỳnh Lâm, 6 ngày sau bệnh lại trở nặng. Ông bèn phó chúc áo cà sa và tâm kệ của Điều Ngự cho Huyền Quang. Các đệ tử khác như Cảnh Ngung, Cảnh Huy, Vô Tế,... và nhiều người khác cũng vào phương trượng xin kệ và hỏi han, Pháp Loa cho kệ và "trả lời những câu hỏi của họ không biết mỏi mệt" (dẫn theo sách Tam Tổ Thực Lục).

Ngày 1 tháng 3 âm lịch năm 1330, thượng hoàng Minh Tông đến thăm bệnh, nhưng không thấy thiền sư có triệu chứng sắp mất.

Sau đó, thượng hoàng hai lần cho thái y đến chữa trị nhưng cũng đều rút ra kết luận tương tự.

Đến đêm ngày 3 tháng 3 âm lịch (22 tháng 3 dương lịch), bệnh tình nguy kịch, Pháp Loa có cuộc đối thoại với Huyền Quang. Sách Tam Tổ Thực Lục kể lại:[1]


Huyền Quang vào thăm hỏi: "Xưa nay những người sắp lâm chung thì buông đi tốt hay giữ lại tốt?"

Sư đáp: "Đi hay ở đều chẳng liên can gì cả".

Huyền Quang hỏi: " Chẳng liên can gì cả là thế nào?'

Sư đáp: "Tùy xứ Tát-bà-ha".


— Tam Tổ Thực Lục
Các đệ tử vào phương trượng, hỏi vì sao các tổ đều làm kệ lâm chung mà thầy không có, Pháp Loa viết:

萬緣裁斷一身閒。
四十餘年夢幻間
珍重諸人休借問。
那邊風月更邇寬

Vạn duyên tài đoạn nhất thân nhàn
Tứ thập dư niên mộng huyễn gian
Trân trọng chư nhân hưu tá vấn
Na biên phong nguyệt cánh nhĩ khoan.

Muôn duyên cắt đứt, tấm thân nhàn,
Hơn bốn mươi năm cõi mộng tàn.
Giã biệt! Xin đừng theo hỏi nữa,
Bên kia trăng gió mặc thênh thang.

Viết xong, ông ném bút, an nhiên viên tịch vào đúng giờ Tý, thọ 47 tuổi.

Các đệ tử khâm liệm thiền sư vào quan tài, đến giờ Sửu rước lên chôn cất ở chùa Thanh Mai (núi Thanh Mai).

Thượng hoàng Minh Tông sai trung sứ đến núi Thanh Mai để nghe thuật lại bài kệ thị tịch cùng những cuộc đối đáp của Pháp Loa lúc sắp mắt. Đến ngày 11 tháng 3 âm lịch, thượng hoàng truy tặng Pháp Loa danh hiệu Tịnh Trí Tôn giả (淨智尊者), cúng dường 10 lượng vàng cho việc xây tháp thờ Pháp Loa.

Tháp này được đặt tên là Viên Thông.

Thượng hoàng còn viết bài thơ viếng thiền sư, tựa là Đề chùa Thanh Mai viếng Pháp Loa tôn giả (Vãn Pháp Loa tôn giả đề Thanh Mai tự).

Sách Thơ văn Lý Trần (tập 2, quyển thượng) do Nguyễn Huệ Chi, Trần Thị Băng Thanh, Đỗ Văn Hỷ và Trần Tú Châu biên soạn đã chép lại rằng:[10]

挽法螺尊者題青梅寺
唾手塵寰以了緣,
覺皇金縷得人傳.
青山蔓草棺藏履,
碧樹深霜殼脫蟬.
夜掩講堂今古月,
晚迷丈室有無煙.
相投針芥嗟非昔,
琢就哀章淚泫然.

Vãn Pháp Loa tôn giả đề Thanh Mai tự
Thoá thủ trần hoàn dĩ liễu duyên,
Giác Hoàng kim lũ đắc nhân truyền.
Thanh sơn mạn thảo quan tàng lý,
Bích thụ thâm sương xác thoát thiền.

Dạ yểm giảng đường kim cổ nguyệt,
Hiểu mê trượng thất hữu vô yên.
Tương đầu châm giới ta phi tích,
Trác tựu ai chương lệ huyễn nhiên.

Dịch :

Đề chùa Thanh Mai viếng Pháp Loa tôn giả
Trắng tay chẳng chút nợ trần mang,
Đã có người truyền phép Giác vương.
Giầy xếp trong quan, nghìn núi cỏ,
Ve ra ngoài xác, một cây sương.

Trăng đêm nương náu trong tăng viện,
Mù sớm ngăn che trước pháp đường.
Kim cổ cùng nhau nay vắng vẻ,
Viếng ai một khúc lệ đôi hàng.

( Bản dịch của Đinh Văn Chấp, đăng trên Tạp chí Nam Phong )

Nguồn : Vi.wikipedia.org

Want your school to be the top-listed School/college in Hanoi?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Website

Address


109/Trần Hưng Đạo
Hanoi
084