22/07/2026
𝐓𝐡𝐮𝐚̣̂𝐭 𝐧𝐠𝐮̛̃ 𝐭𝐚̂𝐦 𝐥𝐲́ đ𝐚𝐧𝐠 𝐭𝐫𝐨̛̉ 𝐭𝐡𝐚̀𝐧𝐡 "𝐭𝐢𝐞̂́𝐧𝐠 𝐥𝐨́𝐧𝐠" 𝐜𝐮̉𝐚 𝐠𝐢𝐨̛́𝐢 𝐭𝐫𝐞̉ ❓
"Tôi bị OCD vì thích bàn làm việc gọn gàng."
"Hôm nay trầm cảm quá."
"Mối quan hệ đó toxic lắm."
"Anh ấy đang gaslight cô ấy."
"Sau chuyện này tôi bị trauma đi làm luôn."
* Những câu nói này giờ đây đang xuất hiện khắp nơi, chúng ta thường xuyên thấy trên trên mạng xã hội, đến mức người ta gần như quên mất chúng vốn không phải tiếng lóng. OCD, trầm cảm, toxic, gaslight, trauma đều là những thuật ngữ chuyên môn của tâm lý học và tâm thần học, được xây dựng để mô tả những rối loạn cần chẩn đoán lâm sàng, chứ không phải để than vãn cho vui. Vậy câu hỏi được đặt ra là: xã hội đang hiểu biết hơn về sức khỏe tinh thần, hay chúng ta chỉ đang mượn ngôn ngữ y khoa để nói về những cảm xúc rất đỗi bình thường?
* Điều đầu tiên cần được nhìn thấy đó là nhận thức cộng đồng về sức khỏe tâm thần đã dần tiến bộ hơn. Ngày xưa, buồn bã kéo dài, mất ngủ, lo âu hay kiệt sức thường bị gán cho là yếu đuối, thiếu ý chí. Hiện nay, phần lớn người ta đã biết đây có thể là dấu hiệu cần chuyên gia đánh giá. Người gặp khó khăn tìm đến hỗ trợ sớm hơn. Kỳ thị cũng giảm bớt phần nào.
* Nhưng song song đó là một hiện tượng mà nhà tâm lý học Nick Haslam gọi tên: "sự mở rộng khái niệm" (concept creep). Nhà tâm lý học Nick Haslam (2016) gọi hiện tượng này là sự mở rộng khái niệm. Theo ông, các khái niệm liên quan đến tổn hại, đau khổ và bệnh lý ngày càng bao quát nhiều tình huống hơn trước. Khái niệm áp dụng cho những trường hợp nhẹ hơn so với trước đây. Ví dụ như sang chấn tâm lý ngày trước được dùng để mô tả phản ứng sau những biến cố đặc biệt nghiêm trọng như chiến tranh, bạo lực và thiên tai; tuy nhiên, ngày nay, từ ngữ còn được dùng để miêu tả những trải nghiệm khó chịu trong cuộc sống hàng ngày như bị từ chối tình cảm. Theo Haslam và cộng sự (2021), sự mở rộng khái niệm này có liên hệ với một hiện tượng lớn hơn gọi là tâm thần hóa đời sống. Đây là quá trình mà ngày càng nhiều trải nghiệm, cảm xúc và hành vi vốn được xem là một phần bình thường của cuộc sống được diễn giải bằng ngôn ngữ của các rối loạn tâm thần. Cảm giác buồn sau khi chia tay có thể nhanh chóng được gọi là trầm cảm; sự lo lắng trước kỳ thi được mô tả là rối loạn lo âu; việc thích sắp xếp đồ đạc gọn gàng được gọi là rối loạn ám ảnh cưỡng chế. Điều cần lưu ý là những trải nghiệm này không phải lúc nào cũng phản ánh một rối loạn tâm thần theo tiêu chuẩn chuyên môn.
* Vấn đề là những trải nghiệm này không phải lúc nào cũng đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán thật sự. Khi ranh giới giữa "cảm xúc bình thường" và "bệnh lý" mờ dần, cả xã hội có nguy cơ bệnh lý hóa những thứ vốn dĩ là một phần tất yếu của sống.
* Mạng xã hội càng làm chuyện này rõ hơn. Foulkes và Andrews (2023) cảnh báo rằng việc tiếp xúc thường xuyên với các nội dung về sức khỏe tâm thần cũng có thể tạo ra một hệ quả không mong muốn. Khi các thuật ngữ chuyên môn được trình bày dưới dạng ngắn gọn, đơn giản và dễ đồng cảm, người xem có thể tự gán nhãn cho bản thân chỉ dựa trên một vài biểu hiện phổ biến, hoặc đồng nhất quá mức với các mô tả về rối loạn tâm thần. Haslam và Tse (2025) cũng nhấn mạnh một nghịch lý đáng chú ý: con người ngày càng giỏi hơn trong việc nhận biết các rối loạn tâm thần, nhưng đồng thời lại kém hơn trong việc nhận ra những đau khổ và cảm xúc vẫn nằm trong phạm vi bình thường của cuộc sống. Điều này cho thấy việc nâng cao hiểu biết về sức khỏe tâm thần là cần thiết, nhưng cần đi kèm với khả năng phân biệt giữa phản ứng tâm lý bình thường và rối loạn tâm thần cần được chẩn đoán và can thiệp chuyên môn.
* Đây là một số ngộ nhận mà chúng ta thường thấy xuất hiện trong đời sống:
- "𝐂𝐚̉𝐦 𝐱𝐮́𝐜 𝐦𝐚̣𝐧𝐡 𝐧𝐠𝐡𝐢̃𝐚 𝐥𝐚̀ 𝐜𝐨́ 𝐫𝐨̂́𝐢 𝐥𝐨𝐚̣𝐧.": Buồn nhiều là trầm cảm, lo nhiều là rối loạn lo âu, căng thẳng là sang chấn… nhiều người mặc định vậy. Nhưng tâm lý học luôn phân biệt rõ giữa cảm xúc, phản ứng bình thường trước nghịch cảnh, và rối loạn tâm thần cần chẩn đoán lâm sàng. Thi trượt, buồn vài ngày, không muốn nói chuyện với ai đều là những phản ứng và cảm xúc hoàn toàn bình thường. Chỉ khi triệu chứng kéo dài, đi kèm nhiều biểu hiện khác, và thực sự cản trở học tập, công việc, các mối quan hệ, người ta mới cân nhắc khả năng mắc rối loạn trầm cảm.
- "𝐆𝐢𝐨̂́𝐧𝐠 𝐯𝐚̀𝐢 𝐝𝐚̂́𝐮 𝐡𝐢𝐞̣̂𝐮 𝐥𝐚̀ 𝐜𝐡𝐚̆́𝐜 𝐦𝐚̆́𝐜 𝐫𝐨̂̀𝐢.": Đây là kiểu tự chẩn đoán rất phổ biến hiện nay. Nhưng triệu chứng có thể xuất hiện ở người hoàn toàn khỏe mạnh, có thể là biểu hiện của nhiều thứ khác nhau như thiếu ngủ, stress, thay đổi nội tiết. Chẩn đoán thật sự cần nhìn vào thời gian, tần suất, mức độ, ảnh hưởng chức năng, và loại trừ các nguyên nhân khác. Một bảng kiểm trên mạng không làm được việc đó.
- "𝐓𝐡𝐮𝐚̣̂𝐭 𝐧𝐠𝐮̛̃ 𝐭𝐚̂𝐦 𝐥𝐲́ 𝐜𝐡𝐢̉ 𝐥𝐚̀ 𝐜𝐚́𝐜𝐡 𝐧𝐨́𝐢 𝐜𝐡𝐨 𝐯𝐮𝐢 𝐭𝐡𝐨̂𝐢 𝐦𝐚̀.": Đây mới là ngộ nhận nguy hiểm nhất. Nếu mọi khó chịu vặt vãnh đều gọi là "sang chấn tâm lý", thì những người thật sự trải qua chiến tranh, bạo lực, lạm dụng bị đánh đồng trải nghiệm với một chuyện hoàn toàn khác về mức độ. Vô tình, ta làm loãng đi chính sự công nhận mà họ đáng được nhận.
* Tuy nhiên, việc sử dụng những thuật ngữ chuyên môn ngày càng phổ biến hơn, chúng ta cần suy xét trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực. Về mặt tích cực, điều này giúp họ dám tìm hỗ trợ hơn, kỳ thị giảm, khả năng nhận diện cảm xúc của mình lẫn người khác cũng tốt lên. Về mặt trái, sự thông dụng của các thuật ngữ chuyên môn khiến mọi thứ đều thành "bệnh", có thể dẫn tới nguy cơ chẩn đoán sai, can thiệp sai đi kèm. Và tệ hơn cả là việc tự dán nhãn bản thân mà không qua đánh giá chuyên môn nào, điều này có thể âm thầm định hình cách một người nhìn nhận chính mình, đôi khi theo hướng không hề tốt.
* 𝐕𝐚̣̂𝐲 𝐜𝐡𝐮́𝐧𝐠 𝐭𝐚 𝐜𝐨́ 𝐭𝐡𝐞̂̉ 𝐥𝐚̀𝐦 𝐠𝐢̀?
- Chọn lọc nguồn thông tin về sức khỏe tâm thần, ưu tiên thứ có cơ sở khoa học, thay vì nội dung ngắn trên mạng xã hội.
- Phân biệt rạch ròi cảm xúc bình thường với rối loạn cần chẩn đoán.
- Đừng vội đồng nhất bản thân với một nhãn chẩn đoán chỉ vì thấy vài điểm giống.
- Nếu khó khăn kéo dài, thực sự ảnh hưởng cuộc sống, hãy tìm đánh giá chuyên môn, đừng tự đoán.
*Nâng cao hiểu biết về sức khỏe tâm thần là một bước tiến quan trọng. Tuy nhiên, như Haslam và Tse (2024) lưu ý, hiểu biết này chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi kèm khả năng phân biệt giữa những phản ứng cảm xúc bình thường và những vấn đề cần được can thiệp chuyên môn. Nếu thiếu sự phân định đó, chúng ta có thể ngày càng thành thạo trong việc gọi tên các rối loạn, nhưng lại dần đánh mất khả năng đơn giản là chấp nhận cảm xúc như một phần tự nhiên của trải nghiệm con người.
Nguồn tham khảo:
1. Foulkes, L., & Andrews, J. L. (2023). Are mental health awareness efforts contributing to the rise in reported mental health problems? A call to test the prevalence inflation hypothesis. Perspectives on Psychological Science, 18(3), 573–581. https://doi.org/10.1177/17456916221114293
2. Haslam, N. (2016). Concept creep: Psychology's expanding concepts of harm and pathology. Psychological Inquiry, 27(1), 1–17. https://doi.org/10.1080/1047840X.2016.1082418
3. Haslam, N., & Tse, J. S. Y. (2025). Public awareness of mental illness: Mental health literacy or concept creep? Australasian Psychiatry, 33(1), 4–6. https://doi.org/10.1177/10398562241285876
4. Haslam, N., Tse, J. S. Y., & De Deyne, S. (2021). Concept creep and psychiatrization. Frontiers in Sociology, 6, Article 806147. https://doi.org/10.3389/fsoc.2021.806147
5. Jorm, A. F., Korten, A. E., Jacomb, P. A., Christensen, H., Rodgers, B., & Pollitt, P. (1997). Mental health literacy: A survey of the public's ability to recognise mental disorders and their beliefs about the effectiveness of treatment. Medical Journal of Australia, 166(4), 182–186. https://doi.org/10.5694/j.1326-5377.1997.tb140071.x