Hội Nghiên cứu và Ứng dụng Hán Nôm 會研究吧應用漢喃

Hội Nghiên cứu và Ứng dụng Hán Nôm 會研究吧應用漢喃

Share

Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Hội Nghiên cứu và Ứng dụng Hán Nôm 會研究吧應用漢喃, Education Website, Hanoi.

委班復生漢喃越南得成立𣈜25𣎃11𢆥2011、𱺵𠬠組織非利潤活動直線、專𧗱研究吧普遍𡨸漢喃。衆碎信哴𡨸漢喃空只𱺵遺產文化貴寶𥪝寶藏、𦓡𡀳𱺵橋綏關重𡧲過去、現在吧將來𧵑民族、吻𫼳仍價值切寔𥪝𠁀𤯩社會當代。𠬠𥪝仍任務重心𧵑委班𱺵工作準化𡨸漢喃。𢘾事㨂𢵰盡心𧵑各學者吧專家𥪝吧外委班、𢖖󠄁欣𠀧𢆥研究、衆碎㐌公布方案準化𡨸漢喃頭先𥪝歷史𠓨𣈜25𣎃5𢆥2022。

Nhận xét về tầm quan trọng của chữ Nôm Công giáo 03/12/2025

Tiếp theo đó cho đến giữa thế kỷ XX, thì nhiều sách đạo bằng chữ Nôm vẫn được viết và in ra cho người Công giáo dùng; và đặc biệt hơn cả là cuốn tự vị đầu tiên nôm - quốc-ngữ - la-tinh, gọi là Việt Nam Dương Hiệp Tự Vị, do giám mục Bá Đa Lộc (Pierre Pigneaux de Béhaine, 1741-1799) khởi công, đã được giám mục Jean-Louis Taberd (1794-1840, tên Việt là Từ), cho in năm 1838 tại Sérampore (Ấn-độ).

……

Trong mấy thế kỷ đó thì các linh mục và thầy giảng người Việt, phải học chữ Hán, chữ Nôm và chữ quốc ngữ. Sau này đa số các sách Nôm đó đã được chuyển sang chữ quốc ngữ, hay là được lấy lại trong một số sách mới soạn. Trước khi nhường chỗ cho chữ quốc ngữ thì chữ Nôm đã được giám mục Bá Đa Lộc đã khởi công san định, làm một cuốn tự vị Việt-Nam - La-tinh, vào cuối thế kỷ XVIII, nhưng sau khi ngài qua đời thì cuốn sách phải theo người chạy loạn sang Ấn độ và đã được giám mục Taberd cho in năm 1838. Nếu bỏ phần tiếng La-tinh ra, thì cuốn tự vị vẫn còn phần chữ quốc ngữ và chữ Nôm. Về sau này, các tự vị chữ Nôm đều theo cái mẫu đó, mà xếp chữ theo thứ tự chữ quốc ngữ A, B, C. Tuy cũng có ít nhiều phần thiếu sót, nhưng tự vị này vẫn có tính cách tiên phong. (Xem ghi chú số 4 trên đây).

……

Mãi đến cuối thế kỷ XIX, thì chính quyền thuộc địa mới bỏ chữ Hán mà dùng chữ Pháp. Bỏ chữ Hán đi thì chữ Nôm cũng mất nền tảng. Từ đó họ và lớp trí thức cổ võ dùng chữ quốc ngữ. Tuy vậy trong các giấy tờ hành chính thì vẫn dùng chữ Nôm và chữ quốc ngữ. Người Công giáo vẫn còn dùng sách vở chữ Nôm cho đến giữa thế kỷ XX, nhưng những sách Nôm cũng dần dần được chuyển sang chữ quốc ngữ.

Ngay trong thời đó ở thôn quê người ta cũng vẫn còn viết các thứ giấy tờ giao ước bằng chữ Hán, gọi là “văn tự”. Ngoài ra thì trong các đình chùa, và đôi khi trong một vài thánh đường Công giáo, người ta cũng còn dùng chữ Hán, nhất là để viết câu đối. Cho đến khi người Nhật bản sang chiếm đóng Đông Dương thì bấy giờ mới lại hồi phục chữ Hán, gọi là cổ ngữ trong chương trình trung học. Chữ Nôm cũng vì thế mà được để ý, nhưng dù sao cũng không ai nghĩ đến việc phế bỏ chữ quốc ngữ. Và như thế cũng là dịp tốt để ta ôn lại cái di sản văn hóa của dân tộc.

Bây giờ ta không dùng chữ Nôm nữa, nhưng nó vẫn là di sản văn hóa đánh dấu cái ý thức quốc gia của người mình không muốn để cho người Tàu đồng hóa. Và trong những cố gắng đó, các giáo sĩ Tây phương và người Công giáo cũng ra công hội nhập văn hóa và đóng góp được một phần không phải là nhỏ.

Nhận xét về tầm quan trọng của chữ Nôm Công giáo Để tưởng niệm các giáo sĩ ngoại quốc đã chịu khó dùng chữ Nôm trong ba trăm năm để đem Tin Mừng sang Việt-Nam. Nói đến tầm quan trọng của chữ Nôm, là nói về những cố gắng quan trọng trong quá khứ đã định hình cho văn hóa dân tộ...

Can Japanese People Read Chinese? (Mandarin, Simplified) 03/12/2025

Người Trung Quốc và người Nhật, cho dù không hề học ngôn ngữ của nhau, vẫn có thể hiểu được khoảng một nửa số chữ trong tiếng của đối phương; nếu là văn bản trang trọng hay bài viết học thuật thì mức độ hiểu lẫn nhau còn cao hơn nữa.
Học chữ Hán Nôm trước hết là để giữ gìn và tiếp nối văn hoá của chính chúng ta. Còn nếu muốn nói đến mặt “lợi ích thực dụng”, thì việc có thể đọc được phần lớn chữ nghĩa của hai nền kinh tế lớn thứ hai và thứ ba thế giới mà không cần phải học tiếng của họ rõ ràng cũng là một ưu thế không nhỏ trong giao lưu và trao đổi.
https://youtu.be/rzJqXd-1dEU?si=jEc-YL94VC24AdDH
https://youtu.be/v2jw85SS3p4?si=1mkwZ5NJ1ntpu-bw

Can Japanese People Read Chinese? (Mandarin, Simplified) Learn Japanese with Yuta: https://bit.ly/2MPfPMaSupport me on Patreon: https://goo.gl/aiWNd5Can Japanese People Read Chinese? This time, I tried simplified C...

29/11/2025

Không cần thiết phải phân biệt chữ Hán và chữ Nôm, cả hai đều là một phần của hệ thống chữ viết tiếng Việt. Hơn nữa, đôi lúc việc phân biệt là không thể, vì rất nhiều chữ Hán đã được mượn làm chữ Nôm, nghĩa là một chữ vừa là chữ Hán vừa là chữ Nôm, ta không thể xếp nó vào một loại nào cả.
Thực tế, tiếng Trung hiện đại (quan thoại Bắc Kinh) cũng gặp vấn đề tương tự. Một phần là những "chữ Hán thuần gốc" từ cổ văn, và một phần khác là những chữ phương ngôn mới được tạo ra để phù hợp với đặc điểm của tiếng Quan thoại, ví dụ như 吗 (ma), 呢 (ne), 会 (huì - với nghĩa 'sẽ', 'được', 'có thể', đây là một chữ vay mượn âm, khi nó là "chữ Hán thuần gốc" thì nghĩa là 'cuộc họp', 'buổi tụ tập'). Tính chất của những chữ phương ngôn này hoàn toàn giống với chữ Nôm trong tiếng Việt. Người Trung Quốc khi học tiếng Quan thoại căn bản không phân biệt đâu là chữ phương ngôn, đâu là chữ Hán thuần gốc, vì đơn giản là không cần thiết.

28/11/2025

Vì sao tồn tại định kiến “phải học Hán rồi mới học được Nôm”? — Chỉ có chuẩn hoá mới giúp chữ Nôm thoát khỏi thân phận những “ký hiệu tạm thời chắp ghép từ chữ Hán”

Việc thiếu chuẩn hoá khiến chữ Nôm trong lịch sử phụ thuộc quá nhiều vào chữ Hán. Người xưa phần lớn không sáng tạo chữ Nôm theo một hệ thống chặt chẽ, mà linh hoạt mượn chữ Hán làm “ký hiệu gợi ý”: khi thì gợi âm, lúc lại gợi nghĩa, hoặc kết hợp cả hai. Ngoại trừ một số chữ Nôm thông dụng có dạng viết khá ổn định, đa phần các chữ còn lại trông giống những ký hiệu tạm thời được chắp ghép từ Hán tự hơn là một hệ thống văn tự hoàn chỉnh. Chính thực tế này khiến nhiều người cho rằng “phải học Hán rồi mới học được Nôm” — bởi điều họ đang làm thực chất là giải mã những ký hiệu chữ Hán được dùng một cách linh hoạt nhưng thiếu nhất quán.

Chuẩn hoá là bước then chốt giúp chữ Nôm thoát khỏi tình trạng “ký hiệu tạm thời chắp ghép từ chữ Hán”, trở thành một hệ văn tự độc lập, có giá trị ngang hàng với chữ Hán, đồng thời mở đường cho việc dạy – học chữ Nôm được triển khai hiệu quả, phổ cập và bền vững.

Đó cũng là lý do chúng ta gọi hệ thống văn tự truyền thống của tiếng Việt (sau khi được chuẩn hoá) là “chữ Hán Nôm”: một mặt vì chữ Hán và chữ Nôm cùng tham gia ghi âm và ghi nghĩa tiếng Việt, gắn bó mật thiết không thể tách rời; mặt khác, chính tiến trình chuẩn hoá đã biến chữ Nôm thành một hệ thống văn tự khép kín, mạch lạc và có logic nội tại rõ ràng, thật sự đứng ngang hàng với chữ Hán và thoát hẳn khỏi vai trò “ký hiệu tạm thời” vốn có. Nhờ vậy, chữ Nôm mới có thể rũ bỏ định kiến “phải học Hán rồi mới học được Nôm” và trở lại đúng vị trí của một văn tự độc lập trong truyền thống văn hoá Việt Nam.

Send a message to learn more

Ưu thế của chữ Hán Nôm trong xã hội hiện đại - Hội Nghiên cứu và Ứng dụng Hán Nôm 會研究吧應用漢喃 27/11/2025

Trước hết, cần phân biệt rõ một số khái niệm. Bộ chữ Hán trong Khang Hi tự điển thường được xem là hệ thống chữ Hán truyền thống và nền tảng nhất. Hệ thống này chủ yếu dùng để viết Văn ngôn (Hán văn), và đã ảnh hưởng sâu rộng đến cách dùng chữ Hán ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Triều Tiên (trước thời cận đại) và cả Việt Nam (trước thời hiện đại). Ví dụ, hệ thống này bao gồm các chữ như A, B, C, D, E, F, G, H, I….

Còn khi bạn nói đến “chữ Hán phồn thể”, chúng tôi hiểu đó là bộ chữ Hán đang được dùng trong tiếng Trung hiện đại (lưu ý: tiếng Trung hiện đại, không phải Hán văn). Hiện nay, chữ phồn thể được dùng chủ yếu ở Đài Loan, còn giản thể dùng ở Trung Quốc đại lục. Cả hai hệ chữ đều dùng để ghi cùng một ngôn ngữ (tiếng Trung hiện đại), chỉ khác ở chỗ giản thể đã lược bớt nét của một số chữ. Bộ chữ Hán phồn thể hiện đại gồm những chữ thông dụng như B, C, D, E, F, G, H, I, J, K… Trong đó, một số chữ trong Khang Hi Tự Điển không còn được dùng nhiều trong tiếng Trung hiện đại (ví dụ chữ A), và để đáp ứng nhu cầu biểu đạt của tiếng Trung hiện đại, người ta bổ sung thêm một số chữ mới (như J, K…).

Riêng ở Việt Nam, hệ thống chữ Hán Nôm được dùng để ghi chép cả tiếng Việt cổ lẫn tiếng Việt hiện đại. Để phù hợp với đặc điểm ngôn ngữ Việt, không phải chữ Hán nào trong Khang Hi tự điển cũng được sử dụng (ví dụ chữ B có thể rất hiếm gặp trong văn bản Việt Nam), đồng thời người Việt xưa còn sáng tạo thêm nhiều chữ mới — chủ yếu là chữ Nôm — để ghi lại từ thuần Việt. Vì vậy, bộ chữ Hán Nôm thông dụng ở Việt Nam thường bao gồm các chữ như A, C, D, E, F, G, H, I, L, M… Trong đó, L, M… chính là những chữ Nôm do người Việt tự tạo ra. Do việc viết tiếng Việt xưa và nay đều cần kết hợp cả chữ Hán (A, C, D, E, F, G, H, I…) và chữ Nôm (L, M…), nên chúng ta gọi chung là “chữ Hán Nôm”.

Chữ Hán phồn thể (dùng trong tiếng Trung) và chữ Hán Nôm (dùng trong tiếng Việt) có rất nhiều chữ giống nhau về mặt hình thức và nghĩa gốc, chỉ khác ở cách đọc — dù cách đọc ấy cũng khá gần gũi do ảnh hưởng lịch sử lâu dài.

Về việc tự học: tự học chữ Hán Nôm không quá khó. Chỉ cần nắm vững khoảng 500 chữ thông dụng là đã có thể đọc – viết được hơn 60% nội dung của các văn bản tiếng Việt viết bằng Hán Nôm rồi.

Những quan niệm sai lầm phổ biến về chữ Hán Nôm
https://www.hannom-rcv.org/what-is-han-nom/misunderstandings.php?uiLang=vi

Ưu thế của chữ Hán Nôm trong xã hội hiện đại
https://www.hannom-rcv.org/what-is-han-nom/advantages.php?uiLang=vi

Ưu thế của chữ Hán Nôm trong xã hội hiện đại - Hội Nghiên cứu và Ứng dụng Hán Nôm 會研究吧應用漢喃

26/11/2025

CHỮ HÁN NÔM – CÔNG CỤ HIỆU QUẢ ĐỂ GIỮ GÌN THỐNG NHẤT VĂN HÓA VÀ CHÍNH TRỊ QUA CÁC PHƯƠNG NGỮ VÀ THỜI ĐẠI

Khác với chữ cái Latin – hệ thống phụ thuộc chặt chẽ vào âm đọc – chữ Hán Nôm là chữ biểu ý, nên dù cách phát âm thay đổi theo vùng miền hay theo thời gian, ý nghĩa của mặt chữ vẫn giữ nguyên.
Khi ngôn ngữ phát triển theo hướng thuần âm (như Latin chuyển sang các ngôn ngữ Romance), khả năng hiểu lẫn nhau giữa các vùng dần mất đi, điều này thường dẫn đến sự phân hóa chính trị và văn hóa. Ngược lại, chữ Hán Nôm giữ nguyên nghĩa hình thức dù phát âm địa phương thay đổi, từ đó tạo điều kiện giao tiếp xuyên phương ngữ và góp phần củng cố sự thống nhất văn hóa, chính trị.

Ví dụ điển hình là câu “空固之”, có thể đọc là “không có chi” hoặc “không có gì”. Hai cách nói này hoàn toàn đồng nghĩa, chỉ khác biệt theo vùng miền. Trường hợp này cho thấy ưu điểm lớn của chữ Hán Nôm: cùng một mặt chữ có thể ghi lại các biến thể phương ngữ khác nhau, giúp kết nối các vùng nói khác nhau, thay vì để từng vùng tự phát triển biến âm và từ đó hình thành các cách viết riêng, giống như hệ chữ Latin ở châu Âu. Quá trình lệch pha giữa âm đọc và chữ viết ở phương Tây chính là nguyên nhân khiến một ngôn ngữ chung phân hóa thành nhiều ngôn ngữ độc lập, dẫn đến chia rẽ văn hóa – điều mà lịch sử châu Âu đã chứng kiến rõ ràng.

NHƯ VẬY, CHỮ HÁN NÔM KHÔNG CHỈ LÀ CÔNG CỤ GHI ÂM VÀ GHI NGHĨA, MÀ CÒN LÀ MỘT CÔNG CỤ CHIẾN LƯỢC ĐỂ DUY TRÌ SỰ THỐNG NHẤT VĂN HÓA VÀ CHÍNH TRỊ TRÊN PHẠM VI RỘNG, XUYÊN SUỐT NHIỀU THẾ KỶ VÀ NHIỀU PHƯƠNG NGỮ KHÁC NHAU.

Send a message to learn more

25/11/2025
25/11/2025

Thời xưa, ngay cả trong nội bộ người Hán cũng chưa từng thống nhất được việc dùng chung quan thoại, chứ đừng nói đến chuyện ép người Việt phải bỏ tiếng mẹ đẻ để nói quan thoại. Trung Quốc mãi đến đầu thế kỷ 21 mới cơ bản phổ cập được quan thoại (Phổ thông thoại/Quốc ngữ) ở cấp độ khẩu ngữ trên phạm vi cả nước. Thậm chí đến nay, nhiều người già ở vùng nông thôn Trung Quốc vẫn không hiểu hoặc không nói được quan thoại. Thực ra, thời cổ đại, Trung Quốc chủ yếu dựa vào văn ngôn (Hán Văn) để thống nhất ngôn ngữ viết, chứ không phải thống nhất tiếng nói.

Send a message to learn more

17/11/2025

Chữ Hán Nôm và chữ Quốc ngữ đều là các hệ chữ viết dùng để ghi lại tiếng Việt. Không phải sau khi người Pháp đến Việt Nam thì người Việt bỗng nhiên đổi sang nói một ngôn ngữ khác. Chúng ta trước sau vẫn nói tiếng Việt; chỉ là từ khi người Pháp đến, chúng ta dần chuyển sang dùng chữ Quốc ngữ để viết tiếng Việt. Tiếng Việt ở “giai đoạn sử dụng chữ Nôm” mà bạn nói hoàn toàn có thể được ghi lại bằng chữ Quốc ngữ; và tiếng Việt hiện đại cũng hoàn toàn có thể được viết bằng chữ Hán Nôm.

𡨸漢喃吧𡨸國語調𱺵各系𡨸曰用底𥱬吏㗂越。空沛𲗏欺𠊛法𦤾越南時𠊛越唪然𢷮𨖅吶𠬠言語恪。衆些𠓀𲗏吻吶㗂越;只𱺵自欺𠊛法𦤾、衆些寅轉𨖅用𡨸國語底曰㗂越。㗂越於「階段使用𡨸喃」麻伴吶完全固体得𥱬吏憑𡨸國語;吧㗂越現代拱完全固体得曰憑𡨸漢喃。

17/11/2025

Thật ra chuyện này không hề mơ hồ đâu. Ở Đông Á ngày xưa — Việt, Trung, Nhật, Hàn — hầu hết văn thư, chiếu chỉ, ngoại giao, sách vở… đều được viết bằng Hán văn, nhưng không ai dùng Hán văn để nói chuyện hằng ngày cả. Hán văn là một ngôn ngữ thuần túy viết, giống như “ngôn ngữ văn chương” chung của khu vực, hoàn toàn không phải tiếng nói đời sống.

Ngay cả người Trung Quốc thời xưa khi nói chuyện cũng không nói bằng Hán văn, mà nói bạch thoại hoặc các phương ngữ địa phương. Vì vậy, chuyện vua chúa hay quan lại ở Việt Nam nói “tiếng Hán” trong sinh hoạt hằng ngày là không đúng; họ vẫn nói tiếng Việt như dân thường. Chỉ khi viết văn bản hành chính, ngoại giao hay trước tác thì mới dùng Hán văn.

Chính sự khác biệt này tạo nên một thực tế rất đặc thù của cổ đại Đông Á: ngôn ngữ viết dùng trong triều đình và học thuật khác hoàn toàn với ngôn ngữ nói trong đời sống, kể cả đối với hoàng tộc và quan lại.

11/11/2025

Thực tế hiện nay, chúng ta chưa có đủ điều kiện để triển khai việc giảng dạy Hán Nôm một cách toàn diện trong hệ thống giáo dục phổ thông. Lý do quan trọng nhất là thiếu đội ngũ giáo viên có chuyên môn, đồng thời bộ chuẩn chữ Hán Nôm mà chúng tôi đã công bố vẫn chưa được Nhà nước chính thức công nhận hay ban hành..

Muốn đưa Hán Nôm vào trường học, điều kiện tiên quyết là phải có sự chuẩn hoá thống nhất. Không thể dạy cho học sinh một ký tự mà lại có đến hàng chục dị thể khác nhau. Nếu Nhà nước chưa xây dựng hoặc chấp nhận một bộ chuẩn chính thức (chẳng hạn như áp dụng bộ “Bảng chữ Hán Nôm Chuẩn Thường Dùng” mà chúng tôi đã soạn), thì việc tổ chức giảng dạy đại trà sẽ rất khó đạt hiệu quả.

Ngoài ra, nguồn nhân lực giảng dạy hiện nay vô cùng hạn chế. Hán Nôm là lĩnh vực đòi hỏi năng lực ngôn ngữ, Hán tự học, ngữ âm – văn tự học, trong khi số người trẻ có khả năng đảm nhiệm công việc này hiện chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Vì vậy, trong giai đoạn hiện tại, giải pháp khả thi hơn là:
- Kêu gọi Nhà nước khuyến khích người dân tự học chữ Hán Nôm, bắt đầu từ trong mỗi gia đình;
- Phổ biến hệ thống chữ cơ bản, khoảng 500 chữ thông dụng nhất, giúp bao phủ phần lớn vốn từ trong giao tiếp hàng ngày;
- Tổ chức các lớp đào tạo giáo viên và lớp ngoại khoá tự chọn về Hán Nôm cho học sinh, sinh viên, người quan tâm;
- Thúc đẩy quá trình chuẩn hoá quốc gia về chữ Hán Nôm, hoặc chính thức áp dụng bộ chuẩn hiện có của chúng tôi làm cơ sở lâu dài cho việc giảng dạy.

Có như vậy, việc phục hồi và truyền bá chữ Hán Nôm mới có thể tiến hành một cách bền vững, khoa học và thực tế, thay vì chỉ mang tính hình thức hay phong trào.

Want your school to be the top-listed School/college in Hanoi?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Address


Hanoi