30/07/2025
BÀI VIẾT NÀY DÀNH CHO NHỮNG NGƯỜI MUỐN ĐI TÌM CHÂN LÝ, TÌM SỰ THẬT TỐI HẬU.
----------
THƯ TRẢ LỜI CÔ CHINH
(Thiền Sư Nguyên Tuệ)
Con kính chào Thầy!
Hôm trước con nhờ Thầy như sau,
mong thầy hoan hỷ giảng giải thêm cho con.
Tiện đây con xin phép thầy được hỏi một vị Alahan khi nhập diệt là không còn thị hiện ở đâu. Vậy Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Tôn kính của chúng ta cũng vậy sao?
Theo Thầy, Thầy Thích Thông Lạc có chứng quả Alahan không? Con thấy thầy ấy cũng giảng bước đầu tu theo Phật phải tránh 10 điều ác và làm 10 điều lành, tức là ly dục ly ác pháp, sanh thiện tăng thiện pháp. Thầy nghĩ sao?
Con thiết nghĩ hàng năm các Thầy có ba tháng an cư kiết hạ. Trong thời gian đó không biết các tăng ni các thầy có thảo luận về kinh nghiệm tu tập không mà sao có nhiều chiều hướng giảng pháp trái ngược nhau vậy? Thế thì hàng phật tử chúng con biết đâu mà theo. Nếu như thầy nói không có ý đả phá phật giáo đại thừa, đặc biệt là tông tịnh độ, mà cảm thấy có trách nhiệm cần phải nói ra sự thật, thì tại sao các thầy không trình bày trước trong tăng đoàn đi mà lại nói trước công chúng thế này thì sẽ gây hoang mang cho các phật tử, nhất là cư sĩ tại gia chúng con? Con nói riêng với thầy như vậy với tấm lòng thành, mong thầy thông cảm và có thể giải thích rõ cho con biết được không?
Con biết thầy bận nhiều việc nhưng con vẫn mong thầy bố trí thời gian giảng giải cho con thông suốt những chỗ nghi vấn ạ. Con xin đa tạ thầy trước.
TRẢ LỜI :
1 - Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng là một bậc A La Hán, sự giác ngộ và giải thoát của Ngài cũng giống như bất kỳ một vị A La Hán nào, nhưng Ngài là vị A La Hán Chánh Đẳng Giác ( hay Chánh Biến Tri ) nghĩa là Ngài thành bậc A La Hán là DO TỰ MÌNH TÌM RA, KHÔNG THẦY CHỈ DẠY và sau khi chứng ngộ còn thuyết giảng điều mình đã chứng ngộ. Các vị A La Hán độc giác cũng chứng ngộ do tự mình tìm ra, không thầy chỉ dạy nhưng không thuyết giảng được điều mình chứng ngộ, các vị A La Hán thanh văn giác ngộ là do được bậc A La Hán Chánh Đẳng Giác giảng dạy, không tự mình tìm ra con đường giác ngộ. Với pháp Niệm Phật mà các tông phái Phật giáo đều chấp nhận mà Hán dịch là : Ngài là bậc ỨNG CÚNG, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian giải, Vô Thượng sĩ, Điệu Ngự Trượng phu, Thiên Nhân sư, Phật, Thế Tôn. Hán dịch ỨNG CÚNG chính là A La Hán thì đương nhiên đã công nhận Phật Thích Ca Mâu Ni là vị A La Hán. Vậy thì Đức Phật là vị A La Hán cũng như bất kỳ một vị A La Hán nào khi Nhập diệt hay gọi là Niết bàn vô dư là KHÔNG CÒN HIỆN HỮU ở bất kỳ một chỗ nào, dưới bất kỳ một hình thức nào. Nếu còn hiện hữu có thân xác hay không có thân xác, còn hiện hữu hình thức này hay hình thức kia, còn hiện hữu chỗ này hay chỗ kia thì vẫn còn LUÂN HỒI. Đây là điều sâu kín, khó thấy, khó chứng vượt ngoài tư duy lý luận suông chỉ người trí mới có khả năng giác hiểu, còn nhân loại này thì đam mê ái dục, bị ái dục chi phối nên Lý Duyên Khởi và Niết Bàn ( Sự Chấm Dứt Khổ gồm Niết bàn hữu dư và Niết bàn vô dư ) là một điều RẤT KHÓ LÃNH HỘI. Những người học Phật vì bị BA ÁI là Dục ái, Hữu ái và Phi Hữu ái chi phối, tư duy về lời Phật dạy theo tư tưởng Ba ái, nên không thể nào hiểu, không thể nào chấp nhập Vô dư Niết bàn là không còn hiện hữu bất cứ đâu, bất cứ nơi nào. Chỉ những ai THẤY BIẾT NHƯ THẬT Khổ, Nguyên Nhân Khổ là Dục ái, Hữu ái và Phi Hữu ái mới hiểu và chấp nhận sự thật này ( Hãy đọc bài Đoạn Trừ Ba Ái trên trang FB của tôi để hiểu điều này ). Đức Phật có dùng đại từ nhân xưng là Như Lai, nhưng Như Lai còn được dùng là nghĩa như như của các pháp. Nghĩa như như hay bản chất của các pháp là : Sinh không từ đâu tới, diệt ( tử ) không đi về đâu. Ví như ánh sáng đèn điện là do hai nhân là bóng đèn ( dây tóc ) và dòng điện tiếp xúc nhau mà phát sinh. Ánh sáng đèn điện trước khi sinh ra không có trong dây tóc, không có trong dòng diện, không có ở đâu cả vì nó chưa sinh, vì vậy, Sinh ra không từ đâu đến. Khi dòng điện tắt hay dây tóc đứt hay không có tiếp xúc thì ánh sáng đèn điện diệt, nó chấm dứt, không còn nữa ở đâu cả, không đi về đâu cả, vì vậy, Diệt không đi về đâu. Đức Phật đã ví Nhập diệt hay Niết bàn vô dư như: Khi còn bấc và dầu thì biết rõ ngọn đèn đang cháy sáng, hết bấc hoặc hết dầu thì biết rõ ngọn đèn tắt. Vậy ngòn đèn tắt sẽ đi về đâu ? Đức Phật đã khẳng định, đấy là câu hỏi không hợp lý của những người ngu.
2 - Về thầy Thông Lạc đã chứng quả A La Hán chưa ? Trả lời rằng chưa. Vì sao vậy ? Vì những hiểu biết của thầy Thông Lạc thể hiện qua 10 cuốn Đường về xứ Phật có một số đúng nhưng những điểm căn bản nếu so sánh với kinh điển Nikaya và so sánh với SỰ THẬT thì có một sự nhầm lẫn, mâu thuẫn rất lớn. Không cần phân tích nhiều, chỉ cần phân tích lời tuyên bố là thầy đã tu chứng và đã LÀM CHỦ SINH GIÀ BỆNH CHẾT là sẽ thấy. Trong Nikaya có một bản kinh quan trọng, cốt lõi của toàn bộ giáo lý là Kinh Vô Ngã, một phát hiện đặc biệt, độc nhất vô nhị từ cổ chí kim của Phật Thích Ca. Kinh khẳng định Sắc Thọ Tưởng Hành Thức là Vô ngã. Nghĩa là không có TA LÀM CHỦ, KHÔNG CÓ TA là chủ nhân, chủ sở hữu, điều khiển Sắc Thọ Tưởng Hành Thức và đó là nghĩa VÔ NGÃ. Kinh đã nói : Nếu có TA LÀM CHỦ, Sắc thân này là CỦA TA, thì TA có thể sai khiến, điều khiển để thân này phải như thế này, không phải như thế kia, thân này sẽ không nóng bức, lạnh cóng, nhức mỏi, ốm đau bệnh hoạn, sẽ không già, không bệnh, không chết ... do TA làm chủ, do Ta điều khiển. Thực tế không xảy ra như vậy, thân này vẫn cứ ốm đau, bệnh hoạn, vẫn già, vẫn bệnh, vẫn chết không phụ thuộc vào Ý muốn điều khiển CỦA TA. CÁI TA LÀM CHỦ mà nhân loại đang từng giây phút sống với nó, đang nâng niu, quý trọng, bảo vệ, nuôi dưỡng là KHÔNG CÓ THẬT mà là TƯ TƯỞNG CHẤP THỦ, là Vô minh, là ảo tưởng. Nếu thầy Thông Lạc đã làm chủ được sinh già bệnh chết tức làm chủ được thân này thì thầy sẽ làm chủ được đại tiện, tiểu tiện. Nếu vậy thầy sẽ làm chủ tiểu tiện, chấm dứt không còn tiểu tiện nữa, bởi ai cũng biết rõ ràng kể cả thầy Thông Lạc, là còn tiểu tiện là còn phiền toái nhất là đi đường tàu xe, không còn tiểu tiện thì sẽ không còn phiền toái, không còn khổ nữa, cái khổ còn dư sót ( Hữu dư Niết bàn ) của một vị A La Hán như vậy cũng chấm dứt hoàn toàn. Nếu thầy Thông Lạc không chấm dứt được tiểu tiện cả quãng đời còn lại hay tối thiểu là không nín tiểu được nửa tháng thì lời tuyên bố thầy đã làm chủ sinh già bệnh chết là hoang tưởng. Thầy Thông Lạc đã không hiểu gì về vô ngã mà bị tư tưởng vô minh chấp ngã chi phối, tu để đạt được TA LÀM CHỦ nên gần đây có đệ tử của thầy Thông Lạc đã vu khống Đức Phật bằng một tư tưởng ngu si bởi vị ấy nói rằng : PHẬT DẠY VÔ NGÃ LÀ ÁC PHÁP, NGÃ LÀ THIỆN PHÁP.
3 - Tại sao các thầy không trình bày trước tăng đoàn đi mà lại nói trước công chúng thế này thì sẽ GÂY HOANG MANG cho phật tử, nhất là cư sĩ tại gia ? Đây là lời trách móc "dễ thương" xuất phát TỪ ĐỨC TIN, TỪ TÌNH CẢM TÔN GIÁO nhưng lại rất ngây thơ và ấu trĩ trước sự thật vô ngã, vô chủ, vô sở hữu của cuộc đời. Hiểu biết của nhân loại, chính là các TƯ TƯỞNG phát sinh và phát triển có bản chất là Vô ngã hay Vô chủ, nghĩa là không ai có thể làm chủ, điều khiển được nó, kể cả Đức Phật, nó phát sinh và phát triển trên quy luật Duyên Khởi. Hãy nhìn vào sự thật các tôn giáo lớn đều chia ra nhiều tông phái với các tư tưởng khác nhau, là cách hiểu, cách giải thích khác nhau, thậm chí đối lập nhau về lời dạy của các Giáo chủ thành lập nên các tôn giáo ấy. Hồi giáo chia ra hai dòng Xi ai và Su ni, Thiên chúa chia thành Công giáo và Tin lành, Phật giáo chia thành Bắc tông và Nam tông ... Tuy Thiên chúa giáo là một tôn giáo với giáo quyền rất lớn, với giáo luật khắt khe, có những hình phạt rất tàn khốc với một tổ chức rất chặt chẽ có Giáo hoàng trên cao đại diện cho Đức Chúa Trời, muốn cho các con chiên phải phục tùng mọi tư tưởng thiên khải của Thiên chúa, đã trải qua thời kỳ Trung cổ với vô vàn hình phạt hà khắc nhưng không thể ngăn chặn được các tư tưởng chống đối, các tư tưởng khoa học và duy vật, các tư tưởng ly khai nên mới phân chia thành hai dòng chống đối nhau là Công giáo và Tin lành. Vì sao ? Vì các pháp là vô ngã hay vô chủ, không có ai có thể làm chủ, điều khiển được. Đối với đa phần tín đồ Phật giáo có đức tin mãnh liệt vào uy tín tuyệt đối của Đức Phật được truyền bá qua kinh điển, nên tin rằng, tất cả nhân loại ai cũng tin lời Phật, ai cũng cung kính đảnh lễ cúi đầu, hễ có phước mà gặp Phật trong quá khứ hay đời nay thì ai cũng sẽ giác ngộ, đắc đạo. Nhưng sự thật không phải như vậy. Trong các bộ Nikaya đã tường thuật rất nhiều trường hợp coi thường và phỉ báng Phật. Ngày nay, người Phật tử không thể nào tin, không thể nào tưởng tượng nổi, Đức Phật đang thuyết pháp mà Cinca lại hoá trang bụng chữa và vu cáo Đức Phật đã làm mình có chửa, một người dám chửi rủa và thuê người ném đá vào Ngài suốt trong một tuần. Ngay đệ tử đã xuất gia với Ngài như Đề bà đạt đa, là anh của công chúa Da du đa la nguyên là vợ Thái tử đã công khai tranh giành Tăng đoàn, đã hãm hại Ngài. Khi Đề bà đạt đa đề ra 5 điều khổ hạnh suốt đời cho các Tỷ kheo mà Đức Phật không chấp thuận thì Đề bà đạt đa đã công bố là Sa môn Gôtama sai lầm, không tu theo khổ hạnh thì 500 Tỷ kheo đã mù quáng nghe theo và đi theo Đề bà đạt đa, chia rẽ Tăng đoàn. Rồi trong một hạ, có hai nhóm Tỷ kheo tranh cãi nhau về một vấn đề rất nhỏ nhặt ( hình như là cái gáo múc nước úp ngược hay úp xuôi mới đúng, tôi không nhớ rõ chi tiết này ) mà Đức Phật đã can ngăn nhưng họ không nghe và Đức Phật đã đi khỏi tịnh xá vào rừng sống ba tháng hạ trong rừng ... Thời Phật tại thế còn như vậy, còn sau khi Phật diệt độ thì muôn vàn tư tưởng mạo danh Phật nở rộ. Phải đọc lịch sử Phật giáo, phải tham khảo các tông phái, phải tham khảo các bộ luận để thấy ra toàn cảnh sự xuất hiện các TƯ TƯỞNG trong các thời kỳ lịch sử của Phật giáo nguyên thuỷ, Phật giáo tiểu thừa, Phật giáo đại thừa. Thật là trăm hoa đua nở và trong đại dương tư tưởng trùng điệp phát sinh và phát triển đó, đâu là lời dạy THẬT SỰ NGUYÊN THUỶ CỦA PHẬT THÍCH CA là nan giải khó tìm. Đa phần các tín đồ Phật giáo Nam tông đang chấp thủ các kinh Nikaya là của Phật giáo nguyên thuỷ, là lời dạy NGUYÊN THUỶ của Phật nhưng sự thực các bộ kinh Nikaya là của Phật giáo Theravada là Phật giáo Thượng Toạ Bô, một trong hai tông phái khi Phật giáo chia rẽ phân phái đầu tiên là Thượng Toạ Bộ và Đại Chúng Bộ. Tuy nhiên phải khẳng định các bộ kinh Nikaya GẦN VỚI PHẬT GIÁO NGUYÊN THUỶ NHẤT. Thực tế là có bao nhiêu người học Phật thì có bấy nhiêu kiến giải, bấy nhiêu thứ đạo Phật. Cho dù là Bắc tông hay Nam tông, là xuất gia hay tại gia thì ĐA PHẦN mỗi người đã có Phật và giáo pháp do tư kiến, tư dục của mình vẽ ra nên cho dù có gặp Đức Phật thật thuyết giảng thì họ cũng không chấp nhận vì nó khác với Phật và giáo pháp mà họ vẽ ra và chấp thủ cứng chắc. Vậy có ai nói sự thật mà họ có thể nghe được nữa không?
Trách nhiệm của tôi là nói ra sự thật này khi có người hỏi, và khi cô và một số người hỏi thì trách nhiệm của tôi phải trả lời nhưng tôi không nghĩ mình có trách nhiệm phải nói ra sự thật này cho giáo hội, cho tất cả mọi người. Vì vậy, tôi không tìm mọi cách để nói sự thật này với tất cả mọi người, không mời gọi, không thuyết phục, không lôi kéo dụ dỗ, không đe doạ, mua chuộc người khác phải nghe sự thật này, chỉ nói khi có nhân duyên, khi có người hỏi và chỉ trả lời cho những người muốn nghe, muốn học hỏi, không trả lời cho những người muốn nghe để tranh luân, với tinh thần giống như Đức Bổn Sư đã tuyên bố trước khi chuyển Pháp Luân : CỬA BẤT TỬ ĐÃ MỞ, HỠI NHỮNG AI CÓ TAI MUỐN NGHE, THÌ HÃY NGHE VÀ TỪ BỎ TÀ KIẾN.
Bài viết của tôi đã làm cô HOANG MANG là điều tốt cho cô nếu cô tha thiết muốn học hỏi. Vì sao vậy ? Vì khi Đức Phật ra đời ở Ấn độ, Ngài thuyết pháp về sự thật mà Ngài đã chứng ngộ thì người Ấn độ đã có một nền tảng Bà la môn giáo vững chắc, với hệ thống kinh điển Vệ Đà đồ sộ, với đức tin khổ hạnh nên đa số chấp cứng vào hiểu biết của mình nên không quan tâm, không hoang mang bởi thuyết giảng của Đức Phật. Chỉ có một số ít người, không quá chấp thủ tri kiến của kinh điển Vệ Đà, những người có ít bụi trong mắt mới HOANG MANG khi nghe Đức Phật thuyết pháp. Họ HOANG MANG vì giáo thuyết của Đức Phật trái với kinh điển Vệ Đà, trái với hiểu biết từ trước tới nay của họ và chính sự hoang mang đó thúc đẩy họ đi đến nghe giảng và tìm hiểu sự thật. Và nhờ vậy mà họ tu tập và chứng ngộ những điều mà Đức Thế tôn thuyết giảng, trở thành những vị A La Hán. Ví như, khi nghe một người nói, ngọt không nằm trong đường, mặn không nằm trong muối thì hầu như toàn thể nhân loại cho rằng người nói bị điên. Vì sao vậy ? Vì họ chấp thủ vào hiểu biết của nhân loại từ vô thuỷ đã MẶC ĐỊNH: mặn ngọt là vật chất, sẵn có, thường xuyên có, thường hằng, thường trú trong đường, trong muối. Họ sẽ không hoang mang vì lời nói của "kẻ điên" kia. Chỉ có rất ít người biết người này không điên, không bại não nên tuyên bố của người đó làm họ hoang mang và chính sự hoang mang đó làm họ đến gần người đó để tìm hiểu. Do vậy họ biết được sự thật, mặn ngọt là Cảm giác do Lưỡi tiếp xúc với Muối ( hay Đường ) mà phát sinh. Xúc sinh thì Cảm giác mặn, ngọt sinh, Xúc diệt thì Cảm giác mặn, ngọt diệt nên Cảm giác mặn, ngọt không phải là vật chất, nó Vô thường, không sẵn có, không thường hằng, không thường trú nơi muối, nơi đường. Chính nhờ Hoang Mang mà người trí mới đi tìm kiếm, khám phá sự thật, có được hiểu biết đúng như thật và nhờ hiểu biết đúng như thật gọi là Trí tuệ do Văn, do Tư, do Tu đạt được mới xoá bỏ những hiểu biết sai lạc gọi là Vô minh từ vô thuỷ, mới giải thoát khỏi khổ đau của sinh tử luân hồi.
Nhưng hoang mang vẫn chưa đủ mà phải quyết tâm, tinh tấn để giải quyết cái hoang mang đó. Mong rằng cô cố gắng thu xếp để tham dự một khoá tu mười ngày mà tôi hướng dẫn để nghe giảng pháp học về Duyên khởi về Tứ thánh đế, để được hướng dẫn thực hành về Tứ niệm xứ, để trải nghiệm về Tâm giải thoát, Tuệ giải thoát.