A Mi Đà Phật Pho Do Chung Sinh

A Mi Đà Phật Pho Do Chung Sinh

Share

Pho Do Chung Sinh

28/12/2024

TRẺ NHỎ VỪA MỚI BIẾT NÓI LIỀN DẠY NIỆM “ NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT “ VÀ DANH HIỆU “ NAM MÔ QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT “
ĐỂ NHỜ VÀO NGUYỆN LỰC NÀY ẮT CÓ THỂ TIÊU ĐƯỢC HOẠ NGAY KHI CHƯA CHỚM, PHƯỚC ĐƯA ĐẾN MÀ KHÔNG BIẾT,
CÓ THỂ KHÔNG CÒN PHẢI LO GÌ ĐẾN NHỮNG CHUYỆN BỆNH TẬT, TAI ƯƠNG, HIỂM NẠN.

Bậc Cha mẹ yêu thương con cái không gì chẳng lo lắng, chỉ có bệnh tật hoạn nạn mới đành cam chịu.

Con vừa mới hiểu biết, liền dạy cho con Niệm Phật , Niệm Pháp , Niệm Tăng , giữ gìn 5 giới , học thuộc lòng Chú Đại Bi ...
Dạy cho con “trung hậu, khoan thứ, nhân từ, kiêng giết, phóng sanh và những sự tích nhân quả ba đời rõ ràng, ngõ hầu con tập thành tánh”.

Con người chẳng có ai không yêu thương con cái, nếu dạy con cái niệm Phật, niệm Quán Âm từ nhỏ, sẽ tiêu trừ được nghiệp chướng, tăng trưởng thiện căn mà chẳng hay chẳng biết. Huống chi kẻ tự mình thường niệm Phật, lúc lâm chung ắt càng chẳng nên khuấy rối, càng phải dùng niệm Phật để giúp đỡ ngõ hầu người ấy quyết định vãng sanh Cực Lạc Tây Phương.
Trong hiện thời, niệm Phật, niệm Quán Âm, gặp dữ hóa lành là điều chắc chắn.
- Trích: Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tục Biên.


Đại Tạng Kinh nói: Người chẳng sát sanh, yêu thương, bảo vệ sanh mạng muôn vật, và phóng sanh, thí thực, sẽ được quả báo sống lâu.
�Người hiện thời, đối với chuyện trẻ con trong nhà chơi đùa, hãy đều nên ngăn cấm, đừng để cho chúng nó tổn hại các loài ruồi, muỗi, bướm, trùng, kiến, chim chóc v.v…

�Nếu để mặc, không răn đe không chỉ là thương tổn các sinh vật, mà còn khiến cho ý niệm giết chóc của chúng lừng lẫy; lớn lên, chúng nó sẽ chẳng biết nhân từ, khoan dung! hễ đổ, hắt nước nóng, và đốt củi, quét đất, sẽ khiến cho các loài như đỉa, kiến v.v… phần nhiều bị tổn thương, cũng nên răn nhắc.

�Hễ ai trông thấy hết thảy chúng sanh gieo mình vào tử địa, như thiêu thân đâm đầu vào đèn, trùng vướng vào lưới nhện, chim chóc bị thương, dế, kiến bị đạp, tôm, cá, những loài có vảy nhỏ bé bị mắc lưới v.v… hãy nên tạo phương tiện cứu giúp, che chở khiến cho chúng nó được toàn mạng!
�Đấy là hành vi của bậc phước thọ lâu dài vậy!
-Trích: Cảm Ứng Thiên Vựng Biên

29/09/2024

NGƯỜI MẸ ĐIÊN

Đọc xong truyện này, bạn sẽ quý trọng hơn những gì mình đang có…

Hai mươi ba năm trước, có một người con gái trẻ lang thang qua làng Sình, đầu bù tóc rối, gặp ai cũng cười cười, cũng chả ngại ngần ngồi tè ngay trước mặt mọi người. Vì vậy, đàn bà trong làng đi ngang qua cô gái thường nhổ nước bọt, có bà còn chạy lên trước dậm chân, đuổi “cút cho xa!”. Thế nhưng cô gái vẫn không bỏ đi, cứ cười ngây dại và đi quanh quẩn trong làng.

Hồi đó, cha tôi đã 35 tuổi, làm việc ở bãi khai thác đá và bị máy chém cụt tay trái. Do nhà quá nghèo, nên cha mãi không cưới được vợ. Bà nội thấy cô gái điên có sắc vóc thì động lòng, mang cô ta về nhà cho cha tôi làm vợ, định bụng chờ bao giờ cô ta đẻ cho nhà tôi “đứa con nối dõi” thì sẽ đuổi đi. Cha tôi dù trong lòng bất nhẫn, nhưng nhìn cảnh nhà đành cắn răng chấp nhận.

Khi mẹ sinh ra tôi, bà nội ẵm cháu, hóp cái miệng chẳng còn mấy cái răng vui sướng nói: “Cái con mẹ điên này mà lại sinh được cho bà thằng cháu chống gậy rồi!”. Tuy nhiên, sau khi sinh, bà nội không bao giờ cho mẹ đến gần con. Nhiều khi mẹ chỉ muốn ôm tôi, đứng trước mặt bà nội, mẹ đã bao lần dùng hết sức gào lên: “Đưa cho tôi, đưa tôi…”, nhưng bà nội mặc kệ. Tôi còn trứng nước như thế, như khối thịt non, biết đâu mẹ lỡ tay vứt tôi đi đâu thì sao? Dù sao, mẹ cũng chỉ là người đàn bà điên. Cứ mỗi khi mẹ khẩn cầu được bế tôi, bà nội lại trợn mắt lên chửi: “Mày đừng có hòng bế cháu tao, còn lâu tao mới đưa cho mày. Tao mà phát hiện mày bế nó, tao đánh mày chết. Có đánh chưa chết thì tao cũng sẽ đuổi mày cút!”. Bà nội nói với vẻ kiên quyết và chắc chắn. Mẹ hiểu ra, mặt mẹ sợ hãi khủng khiếp, mỗi lần chỉ dám đứng ở xa xa ngó tôi. Cho dù vú mẹ sữa căng đầy, nhưng tôi không được một ngụm sữa mẹ nào, bà nội đút từng thìa, từng thìa nước cháo nuôi cho tôi lớn. Bà nói, trong sữa mẹ có “bệnh thần kinh”, nếu lây sang tôi thì phiền lắm.

Hồi đó, nhà tôi vẫn đang giãy giụa giữa vũng bùn lầy của nghèo đói. Đặc biệt là sau khi có thêm mẹ và tôi, nhà vẫn thường phải treo niêu. Bà nội quyết định đuổi mẹ, vì mẹ không những chỉ ngồi nhà ăn hại cơm nhà, còn thỉnh thoảng làm thành tiếng thị phi. Một ngày, bà nội nấu một nồi cơm to, tự tay xúc đầy một bát cơm đưa cho mẹ và bảo: “Con dâu, nhà ta bây giờ nghèo lắm rồi, mẹ có lỗi với con. Con hãy ăn hết bát cơm này đi, rồi tìm nhà nào giàu có hơn một tí mà nương thân, sau này cấm không được quay lại đây nữa, nghe chưa?”. Mẹ tôi vừa đưa một miếng cơm to vào mồm, nghe bà nội tôi hạ lệnh “tiễn khách” liền tỏ ra kinh ngạc, miếng cơm đờ ra lã tã trong miệng. Mẹ nhìn tôi đang nằm trong lòng bà nội và lắp bắp kêu ai oán: “Đừng… đừng…”. Bà nội sắt mặt lại, lấy tác phong uy nghiêm của bậc gia trưởng nghiêm giọng hét: “Con dâu điên! Mày ngang bướng cái gì, bướng thì chả có kết quả tốt lành gì đâu. Mày vốn lang thang khắp nơi, tao bao dung mày hai năm rồi, mày còn đòi cái gì nữa? Ăn hết bát cơm rồi đi đi, nghe thấy chưa hả?”. Nói đoạn bà nội lôi sau cửa ra cái xẻng, đập thật mạnh xuống nền đất “phầm” một tiếng, giống như Dư Thái Quân đập gậy đầu rồng. Mẹ sợ chết giấc, khiếp nhược lén nhìn bà nội, lại chậm rãi cúi đầu nhìn xuống bát cơm trước mặt, có nước mắt rưới trên những hạt cơm trắng nhệch. Dưới cái nhìn giám sát, mẹ chợt có một cử động kỳ quặc, mẹ chia phần lớn cơm trong bát của mình sang một cái bát khác, rồi nhìn bà nội một cách đáng thương hại. Bà nội ngồi thẫn thờ, hóa ra, mẹ muốn nói với bà rằng, mỗi bữa mẹ sẽ chỉ ăn nửa bát, mong rằng bà đừng đuổi mẹ đi. Bà nội trong lòng như bị ai vò cho mấy nắm, bà nội cũng là đàn bà, sự cứng rắn của bà cũng chỉ là vỏ ngoài. Bà nội quay đầu đi, nuốt những giọt nước mắt nóng, rồi quay lại sắt mặt nói: “Ăn mau ăn mau, ăn xong còn đi. Ở nhà này rồi cô cũng chết đói thôi!”.

Mẹ tôi dường như tuyệt vọng, đến ngay cả nửa bát cơm con cũng không ăn, thập thễnh bước ra khỏi cửa, nhưng mẹ đứng ở bậc cửa rất lâu không bước ra. Bà nội dằn lòng đuổi: “Cô đi, cô đi, đừng có quay đầu lại. Dưới gầm trời này còn nhiều nhà giàu có!”. Mẹ tôi quay lại, đưa một tay ra phía lòng bà, thì ra, mẹ muốn được ôm tôi một tí. Bà nội lưỡng lự một lúc, rồi đưa tôi trong bọc tã lót cho mẹ. Lần đầu tiên mẹ được ẵm tôi vào lòng, môi nhắp nhắp cười, cười hạnh phúc rạng rỡ. Còn bà nội như gặp quân thù, hai tay đỡ sẵn dưới thân tôi, chỉ sợ mẹ lên cơn điên, quăng tôi đi như quăng rác. Mẹ ôm tôi chưa được ba phút, bà nội không đợi được giằng tôi trở lại, rồi vào nhà cài chặt then cửa lại.

Khi tôi bắt đầu lờ mờ hiểu biết một chút, tôi mới phát hiện, ngoài tôi ra, bọn trẻ chơi cùng tôi đều có mẹ. Tôi tìm cha hỏi, tìm bà nội để hỏi, nhưng họ đều nói, mẹ tôi chết rồi. Nhưng bọn bạn cùng làng đều bảo tôi: “Mẹ mày là một con điên, bị bà nội mày đuổi đi rồi.” Tôi tìm bà nội vòi vĩnh, đòi bà phải trả mẹ lại cho tôi, còn gọi bà là “bà lang sói”, thậm chí hất tung khay cơm rau bà bưng cho tôi. Ngày đó, tôi làm gì biết “điên” nghĩa là cái gì đâu, tôi chỉ cảm thấy nhớ mẹ tôi vô cùng, mẹ trông như thế nào nhỉ? Mẹ còn sống không?

Không ngờ, năm tôi sáu tuổi, mẹ tôi trở về sau năm năm lang thang. Hôm đó, mấy đứa nhóc bạn tôi chạy như bay tới báo: “Thụ, mau đi xem, mẹ mày về rồi kìa, bà mẹ điên của mày về rồi!”. Tôi mừng quá đít nhổng nhổng, co giò chạy vội ra ngoài, bà nội và cha cũng chạy theo tôi. Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy mẹ, kể từ khi biết nhớ. Người đàn bà đó vẫn áo quần rách nát, tóc tai còn những vụn cỏ khô vàng khè, có trời mới biết là do ngủ đêm trong đống cỏ nào. Mẹ không dám bước vào cửa, nhưng mặt hướng về phía nhà tôi, ngồi trên một hòn đá cạnh ruộng lúa trước làng, trong tay còn cầm một quả bóng bay bẩn thỉu.

Khi tôi và lũ trẻ đứng trước mặt mẹ, mẹ cuống cuồng nhìn trong cả đám như để tìm kiếm con trai mình. Cuối cùng mẹ dán chặt mắt vào tôi, nhìn tôi chòng chọc, nhếch mép bảo: “Thụ… bóng… bóng…”. Mẹ đứng lên, liên tục giơ lên quả bóng bay trong tay, dúi vào lòng tôi với vẻ nịnh nọt. Tôi thì liên tục lùi lại. Tôi thất vọng ghê gớm, không ngờ người mẹ ngày đêm tôi nhớ thương lại là cái hình hài này. Một thằng cu đứng cạnh tôi kêu to: “Thụ, bây giờ mày biết con điên là như thế nào chưa? Là mẹ mày đấy…”. Tôi tức tối đáp lại nó: “Nó là mẹ mày ấy! Mẹ mày mới là con điên ấy, mẹ mày mới thế này!”. Tôi quay đầu chạy trốn. Người mẹ bị điên này tôi không thèm. Bà nội và bố thì lại đưa mẹ về nhà. Năm đó, bà nội đuổi mẹ đi rồi, lương tâm bà bị cắn rứt, dày vò, bà càng ngày càng già, trái tim bà cũng không còn sắt thép được nữa, nên bà chủ động đưa mẹ về, còn tôi lại bực bội, bởi mẹ đã làm tôi mất thể diện. Tôi không bao giờ tươi tỉnh với mẹ, chưa bao giờ chủ động nói với mẹ, càng không bao giờ gọi “Mẹ!”, khi phải trao đổi với mẹ, tôi gào là chủ yếu, mẹ không bao giờ dám hé miệng. Nhà không thể nuôi không mẹ mãi, bà nội quyết định huấn luyện cho mẹ làm việc vặt. Khi đi làm đồng, bà nội dắt mẹ đi “quan sát học hỏi”, bà bảo mẹ không nghe lời sẽ bị đánh đòn. Sau một thời gian, bà nội nghĩ mẹ đã được dạy dỗ tương đối rồi, liền để mẹ tự đi cắt cỏ lợn. Ai ngờ, mẹ chỉ cắt nửa tiếng đã xong cả hai bồ “cỏ lợn”. Bà nội vừa nhìn đã tá hỏa vì sợ hãi, cỏ mẹ cắt là lúa vừa trỗ bông trong ruộng nhà người ta. Bà nội vừa sợ, vừa giận phát cuồng chửi rủa: “Con mẹ điên này, đến lúa và cỏ mà không phân biệt được…”. Bà nội còn đang chưa biết nên xoay xở ra sao, thì nhà có ruộng lúa bị cắt tìm tới. Họ mắng bà cố ý dạy con dâu làm càn. Bà nội tôi lửa giận bốc phừng phừng, trước mặt người ta lấy gậy đánh vào eo lưng con dâu, chửi: “Đánh chết con điên này, mày cút ngay đi cho bà…”. Mẹ tuy điên, nhưng vẫn biết đau, mẹ nhảy nhỏm lên chạy trốn đầu gậy, miệng phát ra những tiếng lắp bắp sợ hãi: “Đừng… đừng…”. Sau rồi, nhà người ta cũng cảm thấy ái ngại, chủ động bảo: “Thôi, chúng tôi cũng chẳng bắt đền nữa. Sau này giữ chặt cô ta là được…”. Sau khi cơn sóng gió qua, mẹ oại người dưới đất thút thít khóc. Tôi thì khinh bỉ bảo: “Cỏ với lúa mà cũng chả phân biệt được, bà đúng là ngu như lợn!”. Lời vừa dứt, tôi bị một cái tát lật gáy, thì ra là bà nội đánh. Bà nội trừng mắt bảo tôi: “Thằng ngu kia, mày nói cái gì đấy? Mày còn thế này nữa, bà đánh chết mày. Đây là mẹ mày đấy!”. Tôi vùng vằng bĩu môi: “Cháu không có loại mẹ điên khùng thế này!”. “A, mày càng lớn, càng bố láo. Để xem bà có đánh được mày không!”. Bà nội lại giơ tay lên, lúc này chỉ thấy mẹ như cái lò xo bật từ dưới đất lên, che giữa bà nội và tôi, mẹ chỉ tay vào đầu mẹ, kêu thảng thốt: “Đánh tôi, đánh tôi!”. Tôi hiểu rồi, mẹ bảo bà nội đánh mẹ chứ đừng đánh tôi. Cánh tay bà nội trên không trung thõng xuống, miệng lẩm bẩm: “Con mẹ điên này, trong lòng nó cũng biết thương con đây!”.

Rồi tôi vào lớp một, cha tôi được một hộ chuyên nuôi cá làng bên mời đi canh hồ cá, mỗi tháng lương được 200 nghìn đồng. Mẹ tôi vẫn đi làm ruộng dưới sự chỉ bảo của bà nội, chủ yếu là đi cắt cỏ lợn, mẹ cũng không còn gây ra vụ rầy rà nào lớn nữa. Nhớ một ngày mùa đông đói rét năm tôi học lớp ba, trời đột ngột đổ mưa, bà nội sai mẹ tôi mang ô cho tôi.

Có lẽ trên đường đến trường tôi mẹ đã ngã ì oạch mấy lần, toàn thân trông như con khỉ lấm bùn, mẹ đứng ở ngoài cửa sổ lớp học nhìn tôi cười ngớ ngẩn, miệng còn gọi tôi: “Thụ ơi… Thụ ơi...” rất ngây ngô. Có mấy đứa bạn tôi cười khúc khích, tôi như ngồi trên bàn chông, oán hận mẹ khủng khiếp, hận mẹ không biết điều, hận mẹ làm tôi xấu hổ, càng hận thằng Hỷ cầm đầu trêu chọc tôi. Trong lúc nó còn đang khoa trương bắt chước mẹ, tôi chộp cái hộp bút trước mặt, đập thật mạnh cho nó một phát, nhưng thằng Hỷ đã tránh được. Nó xông tới bóp cổ tôi, chúng tôi giằng co đánh nhau. Tôi nhỏ con, vốn không phải là đối thủ của nó, bị nó dễ dàng đè xuống đất. Lúc này, chỉ nghe một tiếng “vút” kéo dài từ bên ngoài lớp học, mẹ tôi giống như một đại hiệp “bay” ào vào, một tay tóm cổ thằng Hỷ, đẩy ra tận ngoài cửa lớp. Ai cũng bảo người điên rất khỏe, thật sự đúng là như vậy. Mẹ tôi dùng hai tay nhấc bổng thằng Hỷ lên không trung, nó kinh sợ kêu khóc gọi bố mẹ, hai chân khua khoắng đạp loạn xạ trên trời. Mẹ không thèm để ý, rồi vứt nó xuống một cái vũng nước cạnh cổng trường, vẻ mặt rất thản nhiên và bỏ đi.

Mẹ đã vì tôi mà gây ra đại họa, mẹ lại làm như không có việc gì xảy ra. Trước mặt tôi, mẹ lại có vẻ khiếp nhược, nhìn tôi vẻ muốn lấy lòng. Tôi hiểu ra đây là tình yêu của mẹ, dù đầu óc mẹ không tỉnh táo, thì tình yêu của mẹ vẫn tỉnh táo, vì con trai của mẹ bị người ta bắt nạt. Lúc đó tôi không kìm được kêu lên: “Mẹ!”, đây là tiếng gọi mẹ đầu tiên kể từ khi tôi biết nói. Mẹ sững sờ cả người, nhìn tôi rất lâu, rồi y hệt như một đứa trẻ con, mặt mẹ đỏ hồng lên, cười ngớ ngẩn. Hôm đó, lần đầu tiên hai mẹ con tôi cùng che một cái ô về nhà. Tôi kể sự tình cho bà nội nghe, bà nội sợ rụng rời ngã ngồi lên ghế, vội vã nhờ người đi gọi cha về. Cha vừa bước vào nhà, một đám người tráng niên vạm vỡ tay dao, tay thước xông vào nhà tôi, không cần hỏi han trắng đen gì, trước tiên đập phá mọi thứ trong nhà nát như tương, nhà tôi sau đó như vừa có động đất cấp chín. Đây là những người do nhà thằng Hỷ nhờ tới, bố nó còn hung hãn chỉ vào cha tôi mà nói: “Con trai tao sợ quá đã phát điên rồi, hiện đang nằm nhà thương. Nhà mày mà không mang 5 triệu đồng đến để trả tiền thuốc thang, tao sẽ cho một mồi lửa đốt cháy cái nhà này”.

Năm triệu đồng? Cha tôi đi làm một tháng chỉ được 200 nghìn đồng! Nhìn những người sát khí đằng đằng phía nhà thằng Hỷ, cha tôi mắt đỏ lên dần, cha nhìn mẹ tôi với ánh mắt cực kỳ khủng khiếp, một tay nhanh như cắt dỡ thắt lưng da, đánh tới tấp khắp đầu và mặt mẹ. Lại một trận đòn khủng khiếp, mẹ lúc đó chỉ như một con chuột khiếp hãi run rẩy, như một con thú săn đã bị dồn vào đường chết, nhảy lên hãi hùng, chạy trốn. Cả đời tôi không thể quên tiếng thắt lưng da vụt lạnh lùng lên thân mẹ và những tiếng kêu la thảm thiết của mẹ. Chỉ sau khi có sự can thiệp, ngăn cản của ông Trưởng Công an xã, bàn tay bạo lực của cha tôi mới dừng lại. Theo kết quả hòa giải của Công an xã, cả hai bên gia đình đều có tổn thất, vì vậy không phải đền bù, nợ nần gì nhau nữa. Ai còn gây sự sẽ bắt luôn người đó. Đám người đi rồi, cha tôi nhìn khắp nhà mảnh vỡ nồi niêu bát đũa tan tành, lại nhìn mẹ tôi vết roi đầy mình, cha tôi bất ngờ ôm mẹ tôi vào lòng khóc thảm thiết: “Mẹ điên ơi, không phải là tôi muốn đánh em đâu, mà nếu như tôi không đánh thì việc này không thể dàn xếp nổi, nhà mình làm gì có tiền mà đền cho người ta. Cũng bởi vì nghèo khổ quá mà thành họa đấy thôi!”. Cha lại nhìn tôi và nói: “Thụ, con phải cố mà học lên đại học. Không thì nhà ta cứ bị người khác bắt nạt suốt đời đấy!”. Tôi gật đầu và tôi hiểu nỗi lòng cũng như ước vọng của cha tôi.

Mùa hè năm 2000, tôi thi đỗ vào trung học với kết quả xuất sắc. Bà nội tôi vì làm việc cực nhọc cả đời nên đã sinh bệnh và mất trước đó, gia cảnh ngày càng khó khăn hơn. Nhà tôi thuộc diện đặc biệt nghèo đói, mỗi tháng Nhà nước phải trợ cấp, trường tôi học cũng miễn giảm học phí, nhờ thế tôi mới có thể học tiếp. Vì học nội trú, bài vở nhiều, tôi rất ít khi về nhà. Cha tôi vẫn đi làm thuê, việc tiếp tế cho tôi đặt lên vai mẹ, không ai thay thế được. Mỗi lần bà thím nhà bên giúp nấu xong thức ăn, đưa cho mẹ tôi mang đi. Hai mươi cây số đường núi ngoằn ngoèo làm khổ mẹ phải tốn sức ghi nhớ đường đi, gió bão cũng vẫn đi. Và thật là kỳ tích, hễ làm bất cứ việc gì cho con trai, mẹ đều không điên tí nào. Ngoài tình mẫu tử ra, tôi không còn cách giải thích nào khác. Y học cũng nên giải thích khám phá hiện tượng này.

Lại một ngày chủ nhật đã tới, mẹ đến và không chỉ mang đồ ăn cho tôi, mẹ còn mang đến hơn chục quả đào dại. Tôi cầm một quả, cắn một miếng, cười hỏi mẹ: “Ngọt quá, ở đâu ra?”, mẹ nói: “Tôi… tôi hái…”. Không ngờ mẹ tôi cũng biết hái cả đào dại, tôi khen mẹ chân thành: “Mẹ, mẹ càng ngày càng tài giỏi!”. Mẹ cười hì hì. Trước lúc mẹ về, tôi theo thói quen dặn dò mẹ phải cẩn thận an toàn, mẹ ờ ờ trả lời. Tiễn mẹ xong, tôi lại bận rộn ôn tập trước kỳ thi cuối cùng của thời phổ thông. Ngày hôm sau, khi đang ở trên lớp, bà thím vội vã chạy đến trường, nhờ thầy giáo gọi tôi ra ngoài cửa. Thím hỏi tôi, mẹ tôi có đến đưa tiếp tế đồ ăn không? Tôi nói đưa rồi, hôm qua mẹ về rồi. Thím nói: “Không, mẹ mày đến giờ vẫn chưa về nhà!”. Tim tôi thót lên một cái, mẹ tôi chắc không đi lạc đường? Chặng đường này mẹ đã đi ba năm rồi, có lẽ không thể lạc được. Thím hỏi: “Mẹ mày có nói gì không?”. Tôi bảo không, mẹ chỉ cho cháu chục quả đào tươi. Thím đập hai tay:” Thôi chết rồi, hỏng rồi, có lẽ vì mấy quả đào dại rồi!”. Thím kêu tôi xin nghỉ học, chúng tôi đi men theo đường núi về tìm. Đường về quả thực có mấy cây đào dại, trên cây chỉ lơ thơ vài quả cọc, bởi nếu mọc ở vách đá mới còn giữ được quả. Chúng tôi cùng lúc nhìn thấy trên thân cây đào có một vết gãy cành, dưới cây là vực sâu trăm thước. Thím nhìn tôi rồi nói: “Chúng ta đi xuống khe vách đá tìm!”. Tôi nói: “Thím, thím đừng doạ cháu…”. Thím không nói năng gì mà kéo tôi đi xuống vách núi…

Mẹ nằm yên tĩnh dưới khe núi, những trái đào dại vương vãi xung quanh, trong tay mẹ còn nắm chặt một quả, máu trên người mẹ đã cứng lại thành đám màu đen nặng nề. Tôi đau đớn tới mức ngũ tạng như vỡ ra, ôm chặt cứng lấy mẹ, gọi: “Mẹ ơi, Mẹ đau khổ của con ơi! Con hối hận đã nói rằng những quả đào này ngọt! Chính là con đã lấy mạng của mẹ… Mẹ ơi, mẹ sống chẳng được hưởng sung sướng ngày nào…”. Tôi sát đầu tôi vào khuôn mặt lạnh cứng của mẹ, khóc tới mức những hòn đá dại trên đỉnh núi cũng rớt nước mắt theo tôi.

Một trăm ngày sau khi chôn cất mẹ, thư gọi nhập học dát vàng, dát bạc của một trường đại học danh tiếng ở thủ đô đi xuyên qua những ngả đường mẹ tôi đã đi, chạy qua những cây đào dại, xuyên qua ruộng lúa đầu làng, “bay” thẳng vào cửa nhà tôi. Tôi gài lá thư đến muộn ấy vào đầu ngôi mộ cô tịch của mẹ: “Mẹ, con đã có ngày được mở mày, mở mặt rồi. Mẹ có nghe thấy con nói không? Mẹ đã có thể an lòng và ngậm cười nơi chín suối!”.
Tác giả: Vương Hằng Tích

P/s Những ai còn mẹ thì hạnh phúc biết bao nhiêu hãy trân trọng phút giây bên mẹ nhé. Khi bà mất rồi thì còn ai kề vai kề má thỏ thẻ. Còn ai nấu những món ăn khi con đi làm về muộn.

16/09/2024

" PHẢN QUAN TỰ KỶ BỔN PHẬN SỰ,
BẤT TÙNG THA ĐẮC".

Hòa Thượng, Thiền Sư Thích Thanh Từ.

Hôm nay tôi sẽ giảng về đề tài Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc.
🙏 Đây là một đề tài chuyên về tu thiền, nhất là Thiền tông Việt Nam.
Đời nhà Trần, Tuệ Trung Thượng Sĩ là một cư sĩ được ngộ đạo.
Cho nên vua Trần Thánh Tông gởi Thái tử Trần Khâm cho Tuệ Trung Thượng Sĩ dạy đạo lý.
Khi học hỏi gần xong sắp trở về triều, trước lúc từ giã Thái tử hỏi Tuệ Trung Thượng Sĩ:
"Bạch Thượng Sĩ, pháp yếu của Thiền tông là gì? ".

Thượng Sĩ trả lời:

🙏"Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc".

🍁"Phản quan" là soi sáng hay xem xét, "tự kỷ" là chính mình.

❤️ "Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc" có nghĩa xem xét lại chính mình là việc bổn phận, không phải từ nơi khác mà được.
Đó là câu châm ngôn trong nhà Thiền.
Chúng ta nghiên cứu Phật pháp sẽ thấy câu này hệ trọng như thế nào.

🍁 Trong pháp tu Tứ niệm xứ gồm có quán thân bất tịnh, quán thọ thị khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã.

Cả bốn thứ quán này đều quay lại mình, chớ không đi hướng nào khác.
🍀 Quán thân bất tịnh là quay lại mình để xem xét thân này nhớp nhúa không sạch.
🍀 Quán thọ thị khổ là quay lại mình xem xét những cảm giác thọ nhận đối với sáu trần bên ngoài đều là đau khổ.
🍀 Quán tâm vô thường là quay lại mình để xem xét tâm niệm luôn luôn sinh diệt không dừng.
🍀 Quán pháp vô ngã là quay lại mình xem xét những tâm sở pháp không có chủ thể cố định.

🌺 Đến pháp quán hơi thở là Anapanna cũng nhìn lại hơi thở của mình từ thô đến tế.
Nên pháp quán này còn được gọi là "Lục diệu pháp môn".

Đó là sáu môn quán chiếu xoay lại mình: sổ tức, tùy tức, chỉ, quán, hoàn, tịnh.
🍁Sổ tức, tức là đếm hơi thở.
Hít vô cùng, thở ra sạch đếm một, như vậy đếm tới mười thì bỏ, bắt đầu đếm lại từ một.
🍁 Sổ tức đã thuần thục bước sang Tùy tức, nghĩa là theo dõi hơi thở. Quan sát hơi thở vô, hơi thở ra một cách rõ ràng gọi là Tùy tức.

🍁 Chỉ là dừng tâm để nhìn hơi thở.
🍁 Quán là xem xét hơi thở vô ra, nên hơi thở là mạng sống vô thường không bền lâu.
🍁Hoàn là xoay trở lại tìm xem cái quán hơi thở vô thường đó là gì. 🍁Cuối cùng dừng hết tâm, không chạy ra ngoài nữa gọi là Tịnh.

🧡 Như vậy pháp tu Tứ niệm xứ hay Lục diệu pháp môn v. v… đều là phản quan, chớ không có gì khác.

🙏 Người tu Phật muốn đi tới chỗ an định, trí tuệ sáng suốt thì phải quay lại quán chiếu nơi mình.

Thấy rõ được mình như vậy gọi là phản quan.
Phản quan ở đâu?
❤️ Phản quan nơi chính mình.

Đêm nào chúng ta cũng tụng kinh Bát-nhã hết.
Vậy tụng kinh Bát-nhã để làm gì?
Để bổ khuyết tâm kinh phải không?
Không phải.
Lâu nay có một ít người lầm, cho rằng kinh Bát-nhã là bổ khuyết tâm kinh.
Sao gọi là bổ khuyết?
Bởi khi tụng kinh, người đánh mõ nhanh quá nên có khi tụng sót, vì vậy phần sau phải bổ khuyết lại bằng bài kinh Bát-nhã.

Hiểu như vậy là một lầm lẫn lớn lao.

🙏 Bát-nhã là trí tuệ.

Trí tuệ đó là trí tuệ chiếu soi thấu suốt được bản thân con người và tất cả ngoại cảnh bên ngoài, cho nên gọi đó là trí tuệ Bát-nhã.

Mở đầu kinh Bát-nhã là câu:

🙏"Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách. "
Nghĩa là Bồ-tát Quán Tự Tại khi hành sâu trí tuệ Bát-nhã, Ngài chiếu soi thấy năm uẩn đều không, liền qua hết tất cả khổ nạn.

🩷 Tinh thần Bát-nhã là phản quan lại, chiếu soi năm uẩn không thật thì qua hết tất cả khổ nạn.
Pháp tu nào của nhà Phật cuối cùng cũng phải tụng kinh Bát-nhã.

Tu Tịnh độ, tu Mật tông, tu Thiền v. v… đều như vậy.
Nghĩa là tất cả pháp tu của Phật dạy, cuối cùng đều qui hướng về trí tuệ.

🩷 Có trí tuệ mới giải thoát đau khổ, có trí tuệ mới thấy được chân lý.
💛 Có trí tuệ mới ngộ đạo.

Đó là điểm then chốt, là căn bản trên con đường tu tập để được giác ngộ giải thoát.
Như kinh Kim Cang, Phật trả lời hai câu hỏi của ngài Tu Bồ Đề:

"Vân hà an trụ, vân hà hàng phục kỳ tâm? "
Nghĩa là làm sao an trụ, làm sao hàng phục được tâm kia?

Đức Phật trả lời:

🙏 Phải độ tất cả chúng sanh nào thai sanh, thấp sanh, hóa sanh cho tới những loài hữu sắc vô sắc, hữu tưởng vô tưởng v. v… đều vào vô dư Niết-bàn, đó là hàng phục tâm.

🙏 Nếu thấy sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà không dính mắc không trụ trước, đó là an trụ tâm.

🙏 Phật dạy chúng ta hàng phục tâm là đưa những niệm nghĩ tưởng về hữu sắc, vô sắc v. v… vào vô dư Niết-bàn, tức vào chỗ không sanh không diệt, đó là hàng phục tâm.

🍁 Nếu muốn an trụ tâm thì đối với sáu trần không cho dính mắc.

🌺Không trụ nơi sắc sanh tâm, không trụ nơi thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, đó là an trụ tâm.

Như vậy trọng tâm kinh Kim Cang dạy hàng phục tâm, là bất cứ niệm tưởng nào cũng đều đưa nó vào chỗ vô sanh.

🌹 Đối với sáu trần không dính, không kẹt, đó là an trụ tâm.

Chúng ta học kinh, hiểu rõ ý nghĩa kinh thì sự tu hành mới dễ.

🌷 Trọng tâm tu là phải hàng phục vọng tưởng bên trong, đừng dính mắc sáu trần bên ngoài.

🍁 Muốn hàng phục tâm vọng tưởng bên trong, phải phản quan nhìn lại chính mình.
Muốn không dính mắc sáu trần thì phải khéo quán sát.
🍁 Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần liền thấy, liền biết không cho dính kẹt.
🙏 Đó là gốc của đạo Phật.

Chúng ta tu muốn đi tới giác ngộ, tâm hoàn toàn an định thì không có cách nào khác hơn là phải ứng dụng như vậy.

❤️ Cho nên tất cả người tu đều phải giữ gìn đừng để sáu căn dính với sáu trần.
Được thế là tự do tự tại.
🙏 Tự do tự tại chính là giải thoát vậy.

Trong kinh A Hàm, có câu chuyện:

Một hôm đức Phật vào rừng ngồi thiền. Sau khi xả thiền, Ngài nhìn chung quanh thấy có con rùa lớn bò qua.
Một con rái cá thấy được định chụp ăn, nhưng mai con rùa cứng và trơn quá, nó chụp không được.
Nó chờ con rùa ló đầu ra liền chụp.
Con rùa lại rút đầu vào, rái cá chờ chụp chân nhưng rùa cũng rút chân luôn.
Còn cái đuôi, rái cá vừa định chụp thì rùa vội rút đuôi vô mai.
Sáu bộ phận rùa đều rút kín vô mai hết, con rái cá đi tới đi lui cạp không được, cuối cùng nó bỏ đi.

🙏Phật nói người tu phải khéo giữ sáu căn như con rùa khéo giữ các bộ phận của nó vậy.
Nếu các bộ phận rút vô mai hết thì rái cá không ăn được.
Cũng vậy, chúng ta nếu khéo phản quan sáu căn của mình quay lại, không cho dính với sáu trần, đó là kế sách an toàn nhất.

🩷 Người không dính với sáu trần thì người đó sẽ được giải thoát sanh tử.

Cho nên Lục Tổ Huệ Năng khi nghe Ngũ Tổ giảng kinh Kim Cang đến câu :
🙏 "Bất ưng trụ sắc sanh tâm,
Bất ưng trụ thanh hương vị xúc pháp sanh tâm,
Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm",

Ngài liền đại ngộ và thốt lên :

🙏"Đâu ngờ tánh mình xưa nay thanh tịnh,
Đâu ngờ tánh mình vốn không sanh diệt v. v…".

Ngay đó Ngũ Tổ biết Ngài đã ngộ đạo.

Vậy Ngài ngộ đạo qua pháp gì?
Qua lời dạy an tâm.
Tâm không dính sáu trần thì được tự tại.
Bởi vì khi tâm không dính với sáu trần thì không khởi niệm nghĩ điều gì cả.

Tất cả các nghĩ tưởng của chúng ta đều duyên theo sáu trần sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà có.

Thí dụ ngồi niệm Phật hoặc ngồi thiền, không tiếp xúc với sắc thanh hương vị xúc nhưng còn thấy pháp trần.
Những bóng dáng cũ hôm qua hôm kia còn lưu lại trong tâm, bây giờ nó sống dậy.
🍁 Thấy các bóng dáng đó thì phải bỏ đi, không chạy theo nó, đó là chúng ta tu.
🍂 Đi ra nhìn thấy sắc thanh hương vị xúc, mình không dính.

🍂 Ngồi lại pháp trần dấy hiện lăng xăng, mình buông đi, không dính.

Tu như vậy là gỡ các thứ dính mắc, không cho sáu căn kẹt nơi sáu trần.
Do đó mà tâm được định.

🙏 Tu là cốt để được định, từ định phát sinh trí tuệ.

Đến đây tôi sẽ nói về các Thiền sư. Thiền sư đầu tiên ở Trung Quốc là Tổ Huệ Khả.
Khi Tổ Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn Độ sang, Ngài đến chùa Thiếu Lâm chín năm ngồi xây mặt vào vách.
Bấy giờ Tổ Huệ Khả tên là Thần Quang, nghe danh của Ngài.
Khi đến thấy Tổ ngồi xây mặt vào vách, ngài Thần Quang không biết làm sao thưa hỏi.
Lúc đó núi Thiếu Thất ở miền bắc Trung Quốc, nhằm mùa đông giá rét, vậy mà Ngài đứng suốt đêm ngoài sân, tuyết ngập tới đầu gối.

Sáng, Tổ xoay lại thấy liền hỏi:
"Ông cầu việc gì mà khổ hạnh như vậy? ".
Ngài Thần Quang thưa:
"Con muốn cầu pháp thoát ly sanh tử, xin Ngài dạy cho".
Tổ quở:
"Ngày xưa chư Bồ-tát muốn cầu pháp thoát ly sanh tử, các Ngài hy sinh cả thân mạng, ông chỉ dùng chút ít khổ hạnh thôi mà cầu pháp thoát sanh tử được sao? ".

Nghe vậy Ngài ra sau nhà bếp mượn dao chặt một cánh tay dâng lên để tỏ lòng thiết tha cầu pháp.
Tổ gật đầu khen khá, liền đặt tên là Huệ Khả.

Đây là chỗ tất cả chúng ta lưu ý.
Người tu thì phải xả thân cầu đạo, còn chúng ta tu lại quí thân.

Như vậy có trái với đạo lý không?

Thế nên người tu dù tại gia hay xuất gia phải có gan, dám chịu cảnh túng quẩn nghèo thiếu, dám quên thân mạng thì nhất định sẽ đạt đạo.
Còn nếu không dám như thế thì khó đạt đạo.
🙏Vì vậy sự việc Tổ Huệ Khả chặt tay cúng dường là một hình ảnh tượng trưng cho lòng quyết tâm cầu đạo.

Khi đã được Tổ nhận, một hôm ngài Huệ Khả thưa:
"Bạch Hòa Thượng, tâm con không an xin Hòa Thượng dạy con pháp an tâm".
Lúc đó Tổ Bồ Đề Đạt Ma nhìn thẳng vào mặt ngài Huệ Khả bảo: "Đem tâm ra ta an cho".
Ngài Huệ Khả sửng sốt không biết tâm ở đâu mà đem.
Ngài xoay lại tìm tâm nhưng không thấy bóng hình nó ở đâu, Ngài thưa:
"Bạch Hoà Thượng con tìm tâm không được".
Tổ bảo:
🙏"Ta đã an tâm cho ngươi rồi".

🙏Ngay đó ngài Huệ Khả liền biết lối vào.

Chỗ này tôi đã kể nhiều lần, nhưng mỗi lần kể là mỗi lần mới, vì vậy ít nhứt cũng năm ba người biết được lối vào.

🍂 Tâm không an là tâm nào?

💜 Đó là tâm vọng tưởng, nó nghĩ cái này nghĩ cái kia lăng xăng nên gọi là tâm không an.
Tổ bảo:
"Đem tâm ra ta an cho", thì làm sao mà đem?

Quí vị có ai đem được không?
Không được.
Tại sao?
🩷 Vì nó không thật, tìm lại là nó mất tăm mất dạng.

Vậy tâm lăng xăng đó thật hay giả?

💜 Giả nên gọi là vọng tưởng, vọng tưởng là hư dối không thật.....

Hòa Thượng, Thiền Sư Thích Thanh Từ.
(Giảng tại Trường hạ Phổ Đà TP. HCM
ngày 23.7.2000 - Canh Thìn)
🌹🌹🌹🌹🌹🌹🌹🌹🌹

Chú thích :
Thủ bút của Hòa Thượng Thích Thanh Từ viết năm 2510 Phật Lịch tức năm 1966, cách nay 58 năm.

04/08/2024

QUÁN CHIẾU BÁT NHÃ
(Thầy Nguyễn Thế Đăng)

🪷🪷🪷🎋🙏🎋🪷🪷🪷
Hệ thống kinh điển trí huệ (bát nhã) tánh Không thường được xếp thành ba phạm trù: Văn tự Bát nhã, Quán chiếu Bát nhã, và Thật tướng Bát nhã. Văn tự Bát nhã là các kinh luận, giảng về tánh Không. Quán chiếu Bát nhã là sự thực hành quán chiếu để thấy biết tánh Không. Và Thật tướng Bát nhã là Thật tướng của tánh Không, cũng tức là Thật tướng của tất cả mọi sự.

Trong bài này chỉ nói đến quán chiếu Bát nhã, và chỉ nói đến hai đề mục quán chiếu, trong rất nhiều đề mục quán chiếu của hệ thống Bát nhã, vì chỉ riêng quán chiếu cái Không thì đã có mười tám cái Không. Hai đề mục ấy cái thứ nhất nghiêng về Không tông của ngài Long Thọ và cái thứ hai nghiêng về Duy thức tông của ngài Thế Thân.

Những câu kinh được trích dẫn là từ Ma ha Bát nhã Ba la mật đa bản dịch của Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập.

1/ Quán chiếu vô tự tánh.

“Lại Này, ngài Xá Lợi Phất! Vì các pháp do hòa hiệp mà sanh nên không có tự tánh.

Những gì do hòa hiệp mà sanh nên không có tự tánh?

Sắc hòa hiệp sanh nên không có tự tánh. Thọ, tưởng, hành, thức hòa hiệp sanh nên không có tự tánh. Nhãn cho đến ý xúc làm nhân duyên sanh thọ là hòa hiệp sanh nên không có tự tánh.

Bố thí ba la mật cho đến Bát nhã ba la mật hòa hiệp sanh nên không có tự tánh. Bốn niệm xứ cho đến mười tám pháp Bất cọng hòa hiệp sanh nên không có tự tánh”.

(Phẩm Thập Vô, thứ 25)

Năm ấm sắc thọ tưởng hành thức tạo thành mỗi cá nhân cho đến tất cả những người khác, và tất cả những kinh nghiệm của con người tạo thành thế giới như nó thấy biết, đều không có tự tánh.

Vì sao không có tự tánh? “Vì tất cả các pháp do hòa hiệp mà sanh nên không có tự tánh”. Hòa hiệp mà sanh nghĩa là do nhiều nhân duyên hòa hiệp một cách tạm thời mà có hiện hữu. Một nguyên nhân (nhân), một điều kiện (duyên) mà thiếu thì hiện hữu ấy biến đổi thành cái khác hoặc sụp đổ, tan rã.

Mọi sự vật, mọi con người, mọi hiện tượng đều do nhiều nhân duyên tạm thời hợp lại mà thành nên không có lõi cứng, rỗng không. Khi quán chiếu kỹ lưỡng, sẽ thấy chúng là không có lõi cứng, rỗng không, không có hiện hữu nội tại, không có tự tánh. Đây là một nghĩa của tánh Không.

Quán chiếu vô tự tánh của các hiện hữu giúp chúng ta buông bỏ sự bám nắm vào chúng. Càng bỏ bớt sự bám nắm vào các sự vật, càng bớt các phiền não, các độc tham, sân, si, mạn, nghi…, con người chúng ta càng không bị trói buộc, càng tự do, tức là càng giải thoát. Chính sự bám nắm, dính chặt này của tâm thức đã tạo ra thế giới hạn hẹp và trói buộc mà chúng ta gọi là sanh tử.

Những sự vật sở dĩ che chướng chúng ta để tạo thành phiền não chướng và sở tri chướng của riêng chúng ta là bởi vì sự bám nắm chặt chẽ của chúng ta vào chúng. Sự bám nắm chặt chẽ này là do chúng ta tin vào sự có tự tánh của chúng. Thế nên khi quán chiếu vô tự tánh, những che chướng, những bám nắm sẽ dần dần rơi rụng, để thật tướng tánh Không hiển lộ.

Những câu đầu tiên của phẩm Thập Vô trích ở trên nói rằng:

“Ngài Tu Bồ Đề thưa với Phật: Bạch Thế Tôn! Đại Bồ tát biên tế trước chẳng thể đắc, biên tế sau chẳng thể đắc, biên tế giữa chẳng thể đắc.

Vì sắc, thọ, tưởng, hành, thức vô biên nên đại Bồ tát cũng vô biên.

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là đại Bồ tát, đều chẳng thể đắc”.

Khi tánh Không hiển lộ, đó là thật tướng bát nhã, đó là trí huệ thấy biết trực tiếp tánh Không. Trí huệ thấy tánh Không là trí huệ thấy “sắc, thọ, tưởng, hành, thức vô biên, chẳng thể đắc”. Khi “sắc… là vô biên, chẳng thể đắc, nên Bồ tát cũng vô biên, chẳng thể đắc”. Bồ tát vô biên thì trí huệ của Bồ tát vô biên. Trí huệ vô biên ấy là trí huệ thấu suốt tánh Không, trí huệ Bát nhã.

Tóm lại, thấy sắc, thọ,… là vô biên, đây là trí huệ Bát nhã.

2/ Quán chiếu như huyễn, như mộng.

Phẩm Huyễn học, thứ 11, bắt đầu như thế này:

“Ngài Tu Bồ Đề thưa: Bạch Thế Tôn! Nếu có người hỏi rằng: Người huyễn học Bát nhã ba la mật cho đến Bố thí ba la mật, người huyễn học bốn Niệm xứ cho đến mười tám pháp Bất cọng có được Nhất thiết chủng trí chăng? Thì con phải giải đáp thế nào?

Phật dạy: Này Tu Bồ Đề! Phật hỏi lại ông, tùy ý ông đáp lời Phật.

Này Tu Bồ Đề! Sắc với huyễn có khác nhau chăng? Thọ, tưởng, hành, thức với huyễn có khác nhau chăng?

- Bạch Thế Tôn, không khác.

- Này Tu Bồ Đề! Nhãn đến ý, sắc đến pháp, nhãn giới đến ý thức giới và huyễn có khác nhau chăng?

- Bạch Thế Tôn, không khác.


- Bạch Thế Tôn! Đại Bồ tát học Bát nhã ba la mật như thế sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, như người huyễn học. Vì sao thế? Nên biết rằng năm ấm tức là người huyễn, người huyễn tức là năm ấm.

- Này Tu Bồ Đề! Năm ấm ấy học Bát nhã ba la mật được Nhất thiết chủng trí chăng?

- Bạch Thế Tôn, không vậy. Vì năm ấm này tánh vô sở hữu (không ở đâu cả). Tánh vô sở hữu cũng là chẳng thể đắc.

- Này Tu Bồ Đề! Năm ấm như mộng, như ảo ảnh, như tiếng vang, như sóng nắng, như biến hóa…”

Tại sao là như huyễn như mộng? Vì mọi sự đều vô tự tánh, rỗng không nhưng được các giác quan và ý thức kinh nghiệm sai lầm là có tự tánh, hoàn toàn có thật. Như một đám mây, một bọt nước, một cầu vồng, có thấy nhưng không thể bám nắm, cất giữ, để dành.

Năm ấm sắc, thọ, tưởng, hành, thức hợp tạo thành con người và thế giới theo kinh nghiệm của năm ấm con người đều như huyễn, như mộng. Năm ấm như huyễn hợp tạo thành người huyễn, năm ấm như mộng hợp tạo thành người trong mộng. Người huyễn thì kinh nghiệm một thế giới như huyễn và người trong mộng kinh nghiệm một thế giới trong mộng.

Quán chiếu Bát nhã là quán chiếu thân tâm, thế giới và những người khác đều là những trải nghiệm trong một giấc mộng, không có thật, như huyễn. Với sự quán chiếu này người ta thoát khỏi tham, sân, si, giành giật, chiến đấu vì những điều không thật, những ảo tưởng của chính mình. Sở dĩ con người lọt vào một thế giới sanh tử khổ đau vì không biết thế giới ấy do các giác quan và ý thức hòa hợp tạo ra, không có tự tánh, như huyễn, như mộng.


“Ngài Tu Bồ Đề nói: Này các vị! Như nhà huyễn thuật giỏi, ở giữa ngã tư đường hóa làm Phật và bốn bộ chúng rồi thuyết pháp. Ý các vị nghĩ sao, trong đó có người nói, có người nghe, có người hiểu chăng?

Các thiên tử nói: Bạch đại đức, không có.

Ngài Tu Bồ Đề nói: Này các vị! Tất cả pháp như huyễn ảo, trong đó không có người nói, người nghe, cũng không có người hiểu”.

Với sự quán chiếu như huyễn như mộng, sự phân biệt chia cách muôn đời giữa mình và người, mình và thế giới bị xóa tan để cho bản tánh của mọi sự là tánh Không hiển lộ. Khi ấy ánh sáng trí huệ tánh Không thấu thoát qua mọi hiện tướng, biến chúng thành như huyễn như mộng và người ta không còn bị ràng buộc vào thế giới này, mặc dù vẫn sống trong thế giới ấy để giúp đỡ những người khác thoát khỏi ảo tưởng huyễn mộng của họ.

Một thí dụ thường thấy trong kinh, luận là bóng và gương. Bóng là các “hiện tướng”, các “ảnh hiện”. Gương là bản tánh Không của các hiện tướng, các ảnh hiện. Với người bình thường chưa học pháp thì không biết các hiện tướng, các ảnh hiện là vô tự tánh và họ chạy theo chúng. Khi quán chiếu bát nhã, tức là quán chiếu vô tự tánh, như huyễn như mộng,…dần dần gương sáng hiện ra. Gương sáng càng hiện thì tướng, ảnh càng trở lại bản chất thật của chúng là không thể nắm bắt, không thể đắc, không có ở đâu cả (vô sở hữu). Khi ấy ánh sáng của gương thấu thoát qua mọi bóng trong gương bấy giờ chúng trở thành không có tự tánh, không thể đắc, như huyễn như mộng.

Kinh nói quán chiếu Bát nhã như trên, đó là “năng lực phương tiện của Bát nhã ba la mật”. Phương tiện thiện xảo này giúp cho Bồ tát khỏi rớt vào sanh tử, đồng thời không giải thoát cho riêng mình để ở trong thế giới của chúng sanh mà giúp đỡ, cứu thoát chúng sanh.

Ảnh nguồn internet(Quán Tự Tại Bồ Tát)
(Xin hoan hỷ và hồi hướng tất cả công đức)

Want your school to be the top-listed School/college in Hanoi?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Website

Address


Tay Ho, Ha Noi
Hanoi
11200