Kinh Dịch Việt Nam

Kinh Dịch Việt Nam

Share

Trang cá nhân lưu giữ những kiến thức kinh nghiệm về kinh dịch

07/09/2020

Bát quái và mối quan hệ trong gia đình

Cơ bản Bát Quái gồm tám quẻ: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài.

Được ứng dụng lại như sau:

Càn: bố Khôn: mẹ

Chấn: anh trưởng Tốn: chị trưởng

Khảm: anh kế Ly: chị kế

Cấn: em trai út Đoài: em gái út

Thông thường mối quan hệ trong gia đình sẽ như sau:

Bố (Càn) rất thương cô con gái rượu (con út – Đoài).

Mẹ (Khôn) rất thương đứa con trai út (Cấn).

Cô em kế mới lớn (Ly) thì rất nghe lời người anh cả năng động (Chấn). [chê bố mẹ già không hiểu tâm lýmới của con trẻ]

Vậy nên chị (Tốn) bảo ban được cho em kế (Khảm). [chê bố mẹ già không năng động như con trẻ]
Khéo nhìn lại một chút, chúng ta sẽ dễ dàng nhận thấy đây chính là mối quan hệ tốt đẹp nhất trong Bát Trạch. Mối quan hệ Sinh Khí.

(Càn – Đoài, Khôn – Cấn, Ly – Chấn, Tốn – Khảm.)

Tương tự, sẽ dễ dàng ta nhận thấy trong gia đình:

– Bố (Càn) sẽ rất nhức đầu với thói đỏng đảnh của cô ba (Ly).

– Mẹ (Khôn) sẽ không vui vì sự ù lỳ của anh ba (Khảm).

– Chị cả (Tốn) không hài lòng sự ỷ lại của em út (Cấn) vì được mẹ (Khôn) che chở.

– Anh cả (Chấn) khó mà huấn dụ cô út (Đoài) vì được bố (Càn) bảo bọc.

02/09/2020

Ngày này 75 năm về trước Bác Hồ kính yêu đã đọc bản tuyên ngôn độc lập!!!

26/08/2020

TÂM VƯƠNG

1. Trong lúc chúng ta mở mắt thấy các cảnh vật, biết được cảnh đây xanh, kia đỏ, đó trắng, nọ vàng v,v...Vì cái biết này thuộc về con mắt, nên trong Duy thức gọi là “Nhãn thức” (cái biết của con mắt).

2. Lỗ tai chúng ta, khi nghe các tiếng, biết được tiếng hay, dở, phải, trái vv... Bởi cái biết này thuộc về lỗ tai, nên trong Duy thức gọi là “Nhĩ thức” (cái biết của lỗ tai).

3. Lỗ mũi chúng ta, khi ngửi mùi, biết được đây là mùi thơm hay hội vv... cái biết đó thuộc về lỗ mũi, nên trong Duy thức gọi là “Tỹ thức” (cái biết của lỗ mũi).

4. Miệng chúng ta, khi nếm các vị, biết được vị ngọt, lạt, cay, đắng, béo, bùi v.v... Cái biết này thuộc về lưỡi, nên trong Duy thức gọi là “Thiệt thức” (cái biết của lưỡi).

5. Thân thể chúng ta, đụng lửa biết nóng, xuống nước biết lạnh, mặc đồ mỏng biết mát, mang đồ dày biết nực, đụng đá biết cứng, cầm bông biết mềm vv... Vì cái biết này thuộc về thân, nên trong Duy thức gọi là “Thân thức” (cái biết của thân). Cả năm thức này, khi chứng được quả vô lậu thì nó chuyển thành “Thành sở tác trí”.

6. Trong khi chúng ta, mắt không thấy, tại không nghe, mũi không ngửi, miệng không nếm, thân thể không chạm xúc; nói cho gọn hơn, là trong lúc nắm giác quan không tiếp xúc với trần cảnh, mà ý thức vẫn phân biệt tính toán: nhớ những cảnh đã qua, suy xét những điều chưa đến. Cái biết như thế, thuộc về “Ý thức”. Như ngày hôm qua, chúng ta đi coi hát, tại không còn nghe tiếng ca vv... mà trong ý thức vẫn còn mơ màng điệu bộ người hát, in như còn phưởng nhất ở trước mắt, tiếng người ca như văng vẳng bên tai. Mặc dù không có cảnh vật hiện tiền phản ảnh vào năm giác quan, mà ý thức chúng ta cũng vẫn tính toán phân biệt. Một tỷ dụ nữa, như chúng ta chưa đi học, mà biết rằng mình học sẽ được, chưa làm ruộng, mà biết mình làm ruộng đây trúng hay thất, chưa buôn bán, mà có thể đoán trước rằng, buôn bán đây lời hay lỗ; nghĩa là, những việc đã qua, chưa đến hay hiện tại, chúng ta đều suy xét biết được. Những cái biết như thế, trong Duy thức học gọi là “Ý thức” (cái biết của ý), cũng gọi là “đệ lục thức” (cái biết thứ 6).Cái ý thức này, công dụng của nó lợi hại vô cùng. Nếu nó suy nghĩ tính toán những việc hay, tốt, thì thân chúng ta sẽ làm điều lành, miệng nói những lời phải, đều có lợi ích cho mình và người. Như các nhà tu hành khi niệm Phật, quán tưởng, tham thiền, nhận định v.v... cho đến lúc thành đạo, chứng quả, cũng nhờ công dụng của “đệ lục thức” này. Đến khi chứng được quả vô lậu, thì ý thức trở thành “Diệu quan sát trí”.
Ở thế gian, kinh doanh được sự nghiệp lớn lao, hay làm những điều núi lở, sóng nghiêng, tội ác tày trời, cũng đều do ý thức này suy nghĩ lợi hại cả; nên trong về củ của nó, ẩn ở dưới đất mà thôi. Nếu cỏ kia không có củ, thì không làm sao nứt mộng mọc chồi được. Còn ý thức thứ 6 cũng thế, khi không có phân biệt nó Duy thức nói: “Công vị thủ, tội vi khôi”. Nghĩa là: luân về công thì thức này có công hơn hết; còn nói về ác thì thức này cũng đứng đầu.

7. Quý vị đã rõ, mỗi người đều có 6 cái biết, nói bằng cách khác đó là 6 món cảm giác. Vậy bây giờ đây, chúng ta nên suy xét sâu thêm một từng nữa: cái ý thức kia, tuy ở trong 3 thời quá khứ, hiện tại và vị lai, nó đều có công năng phi thường hơn 5 thức trước, nhưng có khi nó bị gián đoạn. Như khi chúng ta ngủ mê, hoặc chết giấc hay những lúc bị chụp thuốc mê, lúc ấy không phải chết, nhưng không biết chị cả, và những người tu Vô tướng định vv... lúc bấy giờ cũng không còn tính toán phân biệt gì nữa. Đây là những bằng chứng trong khi ý thức bị gián đoạn.
Qua các thời gian ấy, thì ý thức (cái biết thứ 6) lại khởi lên phân biệt như thường. Vậy trong lúc nó bị gián đoạn, chắc phải nương về một nơi nào? Chỗ ấy, theo Duy thức học gọi nó là “Ý căn” (nghĩa là cái gốc của ý thức thứ 6). Tôi xin tỷ dụ để quý vị dễ hiểu, như đám cỏ cú kia, bị đá đè hay nắng rụi, đến lúc người ta dời viên đá nơi khác, hoặc gặp mưa xuống thì có nứt mộng mọc chồi. Cho biết trong lúc cỏ rụi, là nó chỉ trở không phải mất hẳn mà chỉ trở về với gốc của nó là thức thứ bảy, nên trong duy thức cũng gọi là “Ý căn” (gốc của ý thức). Theo tiếng Phạn gọi là “Mạt na thức”.

Công tăng của thức thứ bảy này là thường thường chấp “Ta” khác với người". Chúng ta đi, đứng, nằm, ngồi, không lúc nào quên được mình (ta). Khi đối với người nói chuyện, vừa mở miệng ra là đã nói “tôi” (ta). Hay những lúc tình cờ cây rơi (rớt), hoặc bị người đánh V.V... thì ta ngẫu nhiên đưa tay đỡ, tránh. Đây là những bằng chứng thức này cũng bảo thủ cái ngã (ta).

Lại nữa, khi sanh về cõi trời, thì thức này chấp mình là trời, sanh về cõi người, chấp mình là người, cho đến sanh làm loài vật, thì chấp mình là loài vật. Tóm lại, từ phàm đến Thánh, không một vị nào chẳng chấp có “Ta”, chỉ trừ những vị đã chứng được “Sanh không trí”. Thức thứ bảy này, lại có công năng đem các pháp hiện hành, huân chửa vào một cái kho vô tận (Tàng thức); rồi từ cái kho ấy, đưa chúng tử các pháp ra, khởi hiện hành. Nếu không nhờ thức thứ bảy này, huân tập những việc thấy, nghe, hay, biết vào kho vô tận (tàng thức), thì chúng ta không thể ký ức lại được một việc gì cả.

Như người nhiếp ảnh, nếu anh không đem cuốn phim ấy cất một nơi nào, thì đến khi muốn rọi lại, không bao giờ rọi được. Song chiếu lại được, thì biết anh có đem cuốn phim ấy cất. Thức này cũng thế, khi chúng ta đọc một bộ sách, hay nghe một việc gì, nếu không có thức này đem cất chứa vào một kho vô tận, thì lúc xem qua khỏi mắt, tai hết nghe; nghĩa là, đến khi cảnh vật hiện tiền không còn phản ánh vào năm giác quan nữa, thì chúng ta không còn nhớ lại một việc gì cả. Bởi có nhớ lại được, nên biết rằng nó có chứa đựng một nơi nào vậy.

Thế nên thức thứ bảy này, cũng có tên là “Truyền tống thức” (truyền vào và tống ra). Đến khi chứng được quả vô lậu, thì thức này đổi tên là “Bình đẳng tánh trí”.

8. Thưa quý vị! Cứ theo chính giác và chanh lý mà phán đoán: đã có cái “năng phân biệt chấp ta” tức là thức thứ bảy, thì cố nhiên phải có “cái ta bị chấp” là thức thứ tám. Cũng như nói “tôi cầm viết”; đã có cái tay cần, nhất định phải có vật bị cầm. Vì thế, nên thức thứ tám cũng có tên là “Ngã ái chấp tàng” (bị thức thứ bảy chấp làm ta).

Như trên đã nói: “Thức thứ bảy đem các pháp hiện hành huân chứa vào một nơi”. Nếu đã có kẻ đem chứa, thì nhứt định phải có chỗ để chứa. Cũng như có người đem cất đồ vào kho, thì phải có cái kho để cất. Chúng ta từ nhỏ đến lớn, hoặc đọc được 100 bộ sách, hay làm không biết bao nhiêu công việc, trải qua trong một thời gian năm mười năm, không nghĩ đến thì thôi, nếu một phen hồi tưởng lại những sách ta đã đọc và những việc ta đã làm, thì nó vẫn hiện rõ ràng, in tuồng như mới đọc và mới làm.

Một bằng chứng nữa: Chúng ta đi từ Nam chí Bắc, xem không biết bao nhiêu phong cảnh, hay du lịch thế giới, thấy những vật lạ thường, khi trở về nhà, các cảnh vật ấy không còn thấy nữa, nhưng một phen nhớ lại, thì thấy rõ ràng như ở trước mắt, vẫn còn lớp lang tuần tự. Như thế thì biết rằng, phải có cái kho bằng tinh thần vô hình và vô tận (tàng thức) để chứa đựng bao nhiêu hình ảnh của những cảnh ta đã xem, những sách vở ta đã đọc và những việc ta đã làm... Nếu không có cái kho vô tận này, để chứa giữ lại, thì những sách ta đã đọc và những cảnh ta đã xem, nó phải quên mất liền, theo trong lúc ta hết xem và thôi đọc, nghĩa là phải quên liền khi các cảnh vật không còn hiện tiền phản ánh vào bộ óc nữa. Về sau chúng ta muốn nhớ lại cảnh vật đã qua, hay một bộ sách đã đọc, cũng không bao giờ nhớ được.

Vì thế, nên biết phải có một cái kho vô hình chứa giữ lại. Cái kho ấy theo Duy thức gọi là “Tàng thức”, nghĩa là “cái thức chứa”; vì nó chứa căn thân, khí giới và chủng tử các pháp vậy, cũng tên là “đệ bát thức” (cái biết thứ tám). Theo tiếng Phạn gọi là “A lại da thức”.

Đến khi chứng được quả vô lậu, thì thức này đổi tên là “Bạch tịnh thức” hay gọi là “Đại viên cảnh trí.

Thưa quý vị,

Cổ nhơn có làm một bài kệ, để cho chúng ta nhớ cái tài năng hay tác dụng của tám thức như sau:

“Bát cá đệ huynh, nhứt cá si Độc hữu nhứt cá tối linh ly Ngũ cá mốn tiền tố mãi mại Nhứt cá gia trung tác chủ y”.

Nghĩa là: trong tám anh em, thức thứ bảy là si mê (ngã si), duy có thức thứ sáu, rất khôn lanh (công vi thủ, tội vi khôi); còn năm thức trước như người làm công ở ngoài cửa, chỉ lo buôn bán, tiếp nước khách hàng (tiếp xúc với 5 trần cảnh); một mình thức thứ tám làm ông chủ nhà (chứa đựng).

Xem bài kệ này chúng ta có thể biết qua được khả năng của tâm thức, mà thức thứ sáu và thức thứ bảy là lợi hại hơn hết. Nếu thức thứ bảy si mê, bo bo chấp ngã, thức thứ sáu suy tính làm những việc tội ác, thì chúng ta muôn kiếp trầm luân, không bao giờ thoát ly sanh tử luân hồi được. Vì thế nên người tu Phật, lúc nào cũng phải dùng thức thứ sáu và thức thứ bảy, quán nhơn và ngã, để phá trừ si mê chấp ngã, dứt phiền não chướng rồi quán pháp vô ngã, để phá trừ pháp chấp, dứt sở tri chướng. Khi ngã chấp và pháp chấp hết rồi, tức là phiền não chướng và sở tri chướng đã dứt, thì chúng được hai quả thù thắng là: Bồ đề và Niết bàn.

Vì thế, nên trong Duy thức học nói: “lục, thất nhơn trung chuyển; ngũ bát quả thượng viên”. Nghĩa là: trong lúc tu nhơn, thì chỉ dùng thức thứ sáu và thức thứ bảy; đến khi kết quả thì cả năm thức trước, và thức thứ tám cũng được viên thành.

Vì năm thức trước như người làm công, không có quyền, còn thức thứ tám chỉ có tài chứa đựng; duy có thức thứ sáu và thức thứ bảy này, nếu có công thì nó hạng nhứt, mà có tội nó cũng đứng đầu. Người học Phật đối với hai thức ấy, lúc nào cũng phải cẩn thận và sửa đổi, như thể gọi là “Tu tâm”.
Còn tiếp...

Trích 8 quyển sách quý của HT. Thích Thiện Hoa

05/07/2020

Người lương thiện..

Một người Bà La Môn đã tìm một Đức Phật xin chỉ bảo: “Vì sao những người lương thiện như tôi lại thường xuyên cảm thấy khổ, mà những người ác lại vẫn sống tốt vậy?”
Đức Phật trả lời:
– Nếu một người trong lòng cảm thấy khổ, điều đó nói lên rằng trong tâm người này có tồn tại một điều ác tương ứng. Nếu một người trong nội tâm không có điều ác nào, như vậy, người này sẽ không có cảm giác thống khổ. Vì thế, căn cứ theo đạo lý này, con thường cảm thấy khổ, nghĩa là nội tâm của con có tồn tại điều ác, con không phải là một người lương thiện thật sự. Mà những người con cho rằng là người ác, lại chưa hẳn là người thật sự ác. Một người có thể vui vẻ mà sống, ít nhất nói rõ người này không phải là người ác thật sự.
Có cảm giác như bị xúc phạm, người Bà La Môn không phục, liền nói:
– Con sao có thể là người ác được? Gần đây, tâm con rất lương thiện mà!
Đức Phật trả lời:
– Nội tâm không ác thì không cảm thấy khổ, con đã cảm thấy khổ, nghĩa là trong tâm con đang tồn tại điều ác. Con hãy nói về nỗi khổ của con, ta sẽ nói cho con biết, điều ác nào đang tồn tại trong con.
Bà La Môn nói:
– Nỗi khổ của con thì rất nhiều! Có khi cảm thấy tiền lương thu nhập rất thấp, nhà ở cũng không đủ rộng, thường xuyên có cảm giác thua thiệt bởi vậy trong tâm con thường cảm thấy không thoải mái, cũng hy vọng mau chóng có thể cải biến tình trạng này. Trong xã hội, không ít người căn bản không có văn hóa gì, lại có thể lưng quấn bạc triệu, con không phục; một trí thức văn hóa như con, mỗi tháng lại chỉ có một chút thu nhập, thật sự là không công bằng; người thân nhiều lúc không nghe lời khuyên của con, con cảm thấy không thoải mái…
Cứ như vậy, lần lượt Bà La Môn kể hết với Đức Phật những nỗi thống khổ của mình.

Đức Phật gật đầu, mỉm cười, một nụ cười rất nhân từ đôn hậu, ngài từ tốn nói với vị Bà la Môn: “Thu nhập hiện tại của con đã đủ nuôi sống chính con và gia đình. Con còn có cả phòng ốc để ở, căn bản là đã không phải lưu lạc nơi đầu đường xó chợ, chỉ là diện tích hơi nhỏ một chút, con hoàn toàn có thể không phải chịu những khổ tâm ấy. Nhưng, bởi vì nội tâm con có lòng tham đối với tiền tài và của cải, cho nên mới cảm thấy khổ. Loại lòng tham này là ác tâm, nếu con có thể vứt bỏ ác tâm ấy, con sẽ không vì những điều đó mà cảm thấy khổ nữa.
Trong xã hội có nhiều người thiếu văn hóa nhưng lại phát tài, rồi con lại cảm thấy không phục, đây chính là tâm đố kị. Tâm đố kị cũng là một loại ác tâm. Con tự cho mình là có văn hóa, nên cần phải có thu nhập cao, đây chính là tâm ngạo mạn. Tâm ngạo mạn cũng là ác tâm. Cho rằng có văn hóa thì phải có thu nhập cao, đây chính là tâm ngu si; bởi vì văn hóa không phải là căn nguyên của sự giàu có, kiếp trước làm việc thiện mới là nguyên nhân cho sự giàu có của kiếp này. Tâm ngu si cũng là ác tâm.
Người thân không nghe lời khuyên của con, con cảm thấy không thoải mái, đây là không rộng lượng. Dẫu là người thân của con, nhưng họ vẫn có tư tưởng và quan điểm của riêng mình, tại sao lại cưỡng cầu tư tưởng và quan điểm của họ bắt phải giống như con? Không rộng lượng sẽ dẫn đến hẹp hòi. Tâm hẹp hòi cũng là ác tâm.
Lòng tham, tâm đố kỵ, ngạo mạn, ngu si, hẹp hòi, đều là những ác tâm. Bởi vì nội tâm của con chứa đựng những ác tâm ấy, nên những thống khổ mới tồn tại trong con. Nếu con có thể loại trừ những ác tâm đó, những thống khổ kia sẽ tan thành mây khói.
Con đem niềm vui và thỏa mãn của mình đặt lên tiền thu nhập và của cải, con hãy nghĩ lại xem, căn bản con sẽ không chết đói và chết cóng; những người giàu có kia, thật ra cũng chỉ là không chết đói và chết cóng. Con đã nhận ra chưa, con có hạnh phúc hay không, không dựa trên sự giàu có bên ngoài, mà dựa trên thái độ sống của con mới là quyết định. Nắm chắc từng giây phút của cuộc đời, sống với thái độ lạc quan, hòa ái, cần cù để thay thế lòng tham, tính đố kỵ và ích kỷ; nội tâm của con sẽ dần chuyển hóa, dần thay đổi để thanh thản và bình an hơn.

Trong xã hội, nhiều người không có văn hóa nhưng lại giàu có, con hãy nên vì họ mà vui vẻ, nên cầu chúc họ càng giàu có hơn, càng có nhiều niềm vui hơn mới đúng. Người khác đạt được, phải vui như người đó chính là con; người khác mất đi, đừng cười trên nỗi đau của họ. Người như vậy mới được coi là người lương thiện. Còn con, giờ thấy người khác giàu con lại thiếu vui, đây chính là tâm đố kị. Tâm đố kị chính là một loại tâm rất không tốt, phải kiên quyết tiêu trừ!
Con cho rằng, con có chỗ hơn người, tự cho là giỏi. Đây chính là tâm ngạo mạn. Có câu nói rằng: “Ngạo mạn cao sơn, bất sinh đức thủy” (nghĩa là: ngọn núi cao mà ngạo mạn, sẽ không tạo nên loại nước tốt) người khi đã sinh lòng ngạo mạn, thì đối với thiếu sót của bản thân sẽ như có mắt mà không tròng, vì vậy, không thể nhìn thấy bản thân có bao nhiêu ác tâm, sao có thể thay đổi để tốt hơn. Cho nên, người ngạo mạn sẽ tự mình đóng cửa chặn đứng sự tiến bộ của mình. Ngoài ra, người ngạo mạn sẽ thường cảm thấy mất mát, dần dần sẽ chuyển thành tự ti. Một người chỉ có thể nuôi dưỡng lòng khiêm tốn, luôn bảo trì tâm thái hòa ái từ bi, nội tâm mới có thể cảm thấy tròn đầy và an vui.
Kiếp trước làm việc thiện mới chính là nguyên nhân cho sự giàu có ở kiếp này, trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu. Mà người thường không hiểu được nhân quả, trồng dưa lại muốn được đậu, trồng đậu lại muốn được dưa, đây là thể hiện của sự ngu muội. Chỉ có người chăm học Phật Pháp, mới có được trí huệ chân chính, mới thật sự hiểu được nhân quả, quy luật tuần hoàn của vạn vật trong vũ trụ, nội tâm mới có thể minh tỏ thấu triệt. Để từ đó, biết làm thế nào lựa chọn tư tưởng, hành vi và lời nói của mình cho phù hợp. Người như vậy, mới có thể theo ánh sáng hướng đến ánh sáng, từ yên vui hướng đến yên vui.
Bầu trời có thể bao dung hết thảy, nên rộng lớn vô biên, ung dung tự tại; mặt đất có thể chịu đựng hết thảy, nên tràn đầy sự sống, vạn vật đâm chồi. Một người sống trong thế giới này, không nên tùy tiện xem thường hành vi và lời nói của người khác. Dẫu là người thân, cũng không nên mang tâm cưỡng cầu, cần phải tùy duyên tự tại. Vĩnh viễn dùng tâm lương thiện giúp đỡ người khác, nhưng không nên cưỡng cầu điều gì.
Nếu tâm một người có thể rộng lớn như bầu trời mà bao dung vạn vật, người đó sao có thể khổ đây?”
Đức Phật nói xong những điều nầy, tiếp tục nhìn người Bà La Môn với ánh mắt đầy nhân từ và bao dung độ lượng.
Ngồi im lặng hồi lâu. Xưa nay người Bà La Môn vẫn cho mình là một người rất lương thiện. Mãi đến lúc này, phải!, chỉ đến lúc lúc này, ông ta mới biết được trong ông ta còn có một con người rất xấu xa, rất độc ác. Bởi vì nội tâm của chứa những điều ác, nên mới cảm thấy nhiều đau khổ đến thế. Nếu nội tâm không ác, sao có thể khổ chứ?
Người Bà La Môn vội quỳ lạy đấng thế tôn và nói:
– Xin cảm tạ Đức Phật, nếu không được ngài khai thị dạy bảo, con vĩnh viễn sẽ không biết có một người xấu xa như vậy đang tồn tại trong con!
Nguồn bài viết: gdptkiengiang.vn

30/06/2020

BẠN BIẾT GÌ VỀ CON NGỖNG?
về tường nhà bạn để sử dụng sau này!!
cực kỳ, cực kỳ thú vị, không phải ai cũng biết (kể cả google)
1. Ngỗng là loài ăn chay, thích nhất ăn cỏ và lúa, hoặc cơm trắng, chỉ vậy thôi. Nếu trong thố ăn của ngỗng, bạn bỏ ít tôm cá vào, ngỗng sẽ không bao giờ đụng đến cái thau đó nữa, dù là sau đó không có tôm cá
- Hoặc bạn cố tình chỉ cho ăn tôm cá hay thịt, ngỗng thà nhịn đói cả tháng rồi chết chứ không ăn.
- Hoặc bạn cố tình nhét thịt cá vào miệng, ngỗng sẽ ói ra
DẪN ĐẾN:
2. NGỖNG CÓ TÁNH LINH RẤT CAO, nên dùng để giữ nhà, ngăn vong này nọ
- chó thấy người bên ngoài cổng nhà là sủa, ngỗng thì khi nào người lạ vào đất/ nhà của bạn, ngỗng mới kêu to, khi nghe tiếng càng dồn dập và mạnh mẽ, chắc chắn có biến
- mảnh đất vong nhiều, Thầy trừ chưa kịp, ngỗng ở 3 ngày trở lên là hết
- chó không biết có bão, ngỗng nghe ngóng thời tiết biến chuyển rất tốt
- trứng ngỗng được con mái ấp, con trống canh, ngoài chủ ra, ai cũng sẽ bị tấn công nếu đe doạ việc ấp trứng. Và trứng nếu đụng tay vào, sẽ bị thối. Nên dùng cái chén múc lên để lại bên trong nếu trứng bị lăn ra ngoài ổ
- người chủ mới có toàn quyền với ngỗng, người lạ luôn bị ngỗng tấn công, đôi cánh ngỗng quạt mạnh có thể gãy tay
3. NGỖNG NHIỀU LỢI ÍCH MÀ NHÀ VƯỜN/ NHÀ RỘNG NÊN CÓ:
- nghe tiếng ngỗng kêu, rắn và chuột lánh xa ít nhất vài trăm mét.
- phân ngỗng bạn cứ rắc quanh vườn, quanh nhà, sẽ đuổi được rắn, kể cả rắn hổ đất, độc nhất, đang bò, gần đến nơi có chút xíu phân ngỗng, sẽ co mình chuyển hướng
*** tuy nhiên, ngỗng ăn cỏ rất nhiều và sẽ xử hết vườn cỏ nhà bạn, nên nếu nhà đang có vườn cỏ đẹp, muốn nuôi ngỗng nên quây lưới lại một khoảnh vừa cho ngỗng ở và bơi lội dưới ao, tắm rửa
bà bầu ăn trứng ngỗng, nên ăn lạt và không chấm bất cứ món gì, kể cả muối, dĩ nhiên kỵ nước mắm
nếu ngỗng rụng cái lông, đem vào rửa sạch phơi khô gối đầu nằm, rất tốt cho một giấc ngủ yên về tâm linh
lông ngỗng nướng lên cùng viên than hồng, rồi tán nhuyễn ra, trị viêm tai giữa rất hay, tiệt sạch.
TOÀN BỘ THÔNG TIN TỪ THẦY NĂM BẾN TRE
CHIA SẺ THOẢI MÁI, CẦN THIẾT CHO NHÀ NÔNG
ngỗng
thủy
thành

26/05/2020

MỘT SỐ TÍNH CHẤT CƠ BẢN CỦA DỊCH HỌC

Dịch học bao la vạn tượng, bao hết vũ trụ trong nó.
Cùng với sự phát triển của thời gian, ở đây tổng kết một số tính chất cơ bản của Dịch học. Thay vì các lý luận trừu tương, chúng ta hãy khảo sát một số các hiện tượng và học thuyết khác.

*/ TÍNH TRIẾT HỌC CỦA DỊCH HỌC
Triết học là những khẳng định chỉ đúng, khái quát cao độ, bao trùm một diện rộng, lĩnh vực mà nó đề cập.
Ví dụ lý luận trong Thiên chúa giáo thì Chúa Giê-su và Mười hai Tông đồ được khẳng định là có thật, Chúa Giê-su có Phục sinh, tức được tái sinh và trở lại trời để cứu độ loài người. Từ đó viết lên một hệ thống Kinh đồ sộ.
Trong lý luận hình học Euclid khẳng định:
"Hai cái cùng bằng cái thứ ba thì bằng nhau.
Thêm những cái bằng nhau vào những cái bằng nhau thì được những cái bằng nhau...".
Từ Hệ tiên đề này cụ thể hóa thành các định lý, mà có một định lý khá thú vị là: "Diện tích hình tròn bằng khoảng 3/4 diện tích hình vuông bao quanh nó". (Số 3 làm tròn của số Pi, số 4 là từ D/2 bình phương)
Dịch học cũng là một hệ thống lý luận Siêu triết học.

*/ TÍNH TRỪU TƯỢNG CỦA DỊCH HỌC
Hãy xem các thuật ngữ từ cổ đại: Âm Dương có trong thảy vạn vật, to lớn như sông biển, đến ngọn cỏ cành cây đêu chứa Âm Dương.
Lại như Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ...của 12 Địa chi.
Rõ là Âm với Dương, Tí với Sửu thật là trừu tượng !
Ngày nay mạng interet giúp tất cả mọi người trao đổi. Tuy nhiên rất nhiều thuật ngữ mới xuất hiện, mà trong đó có thuật ngữ Huyền Học.
Thuật ngữ Huyền Học này gợi nên cho người nghe sự không có thật, chỉ là Huyền hoặc. Hoặc người ta không thể tiên tới mức có thể lĩnh hội được những cái Vô hình, Huyền diệu cao siêu của Tạo hóa.

*/ TÍNH TƯƠNG ĐỐI CỦA DỊCH HỌC
Trong Dự báo thời tiết rất hay có thông báo được phát đi, ví dụ: "Có nơi mưa vừa, có nơi mưa to, có nơi mưa rất to". Ở đây không thể đưa ra được cụ thể, nơi nào thì mưa to, và mưa to là to như thế nào?.
Trong dân ca tục ngư có câu: "Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm". Vậy bay cách mặt đất bao nhiêu mét là bay Thấp, và mưa là mưa to hay nhỏ, mưa lúc nào?
Trong Dự báo Dịch học cũng vậy, có nhiều cái cũng chỉ có thể nói khái quát kiểu văn học được thôi.

*/ TÍNH THỰC TIỄN CỦA DỊCH HỌC
Dịch học được ứng dụng khá nhiều để xem Vận mệnh con người, qua các môn như Tử vi, Tứ trụ, Tướng số.
Xem ngày, xem công việc, xem sự nghiệp như Kinh dịch, Mai hoa, Chu dịch
Dịch học ứng dụng cho Quân sự, cho xem thời tiết, thế sự, như Kỳ Môn Độn giáp.
Dịch học còn ứng dụng trong Y học rất nhiều, đặc biệt trong Châm cứu theo giờ. Trong hát Kịch, Kinh kịch xưa, nhã nhạc cung đình, Khí công, trong Phong thủy vv
Trên mạng hiện nay nhiều người hiểu lẫn lộn Kinh dịch và Chu dịch. (Kinh dịch lấy Kinh văn và Tượng để giải quẻ, có ứng dụng quẻ Thể và quẻ Dụng. Chu dịch ra đời sau, phối 6 hào với lục thân, lục Thần, ứng dụng Hào thế Hào ứng để giải quẻ)

*/ CÁI LÝ CỦA DỊCH HỌC
Có câu chuyện như thế này:
Môt người từ Hành tinh khác lạc xuống trái đất, anh ta tìm hiểu hết mọi điều, chỉ còn duy nhất hai điều anh ta chưa biết.
Một hôm anh ta tìm đến một vị Pháp sư để quyết tìm hiểu cho ra điều thứ nhất, và hỏi
- Thưa ngài Pháp sư, ngài có thể cho tôi biết Cái Lọ là gì không?
Pháp sư trả lời:
- À, Cái Lọ chẳng qua là Cái Chai cổ rụt.
Người ngoài hành tinh lắc đầu bỏ đi và nói: "Rất là vô lý"
Người ngoài hành tinh đi mãi thì gặp một lò gốm, người thợ gốm giải thích: "Cái lọ là vật dụng đựng rượu, nước, cắm hoa...Nếu đập nó sẽ vỡ". Và đưa cho anh ta một cái.
Trên đường về, Người ngoài hành tinh lại gặp Pháp sư, để tìm cho ra nhẽ điều thứ 2:
- Thưa ngài Pháp sư, ngài cho tôi biết Cái Chai là gì không ?
Pháp sư trả lời:
-Cái Chai là Cái Lọ cổ dài.
Người ngoài hành tinh reo lên: "Ngài nói rất có lý"

Tất cả các môn như Kỳ Môn Độn giáp, Tứ trụ, Tử vi, Kinh dịch, Phong thủy vv, nó đều hàm chứa cái Lý bên trong.
Mấy năm gần đây người ta thích dùng thuật ngữ: "DỊCH LÝ", "LÝ SỐ" vân vân.
Như phân tích ở trên, "Cái Lý" chỉ là một tính chất nhỏ của nhiều tính chất, trong phạm vi hẹp về Dự đoán vận mệnh con người. Là cái tất nhiên phải có trong bất cứ lý thuyết nào.

Nguồn: Dịch học

18/05/2020

NĂM QUÂN TỬ DIỆT MỘT TIỂU NHÂN

Trong cuộc sống không bao giờ hết tiểu nhân. Có thiện thì có ác. Cũng như trong vũ trụ có âm có dương, có tiểu nhân mới có quân tử. Trong 64 quẻ Dịch có quẻ 5 tiểu nhân làm hao mòn 1 quân tử, đó là quẻ Sơn Địa Bác. Lại có quẻ 5 quân tử diệt 1 tiểu nhân, đó là quẻ Trạch Thiên Quải.
Tượng quẻ Trạch Thiên Quải là Đầm hồ (Trạch) ở trên, Trời (Thiên) ở dưới. Đầm hồ trên cả trời là nước dâng lên tràn ngập, nứt vỡ đến nơi. Nên đặt tên Quải. Quải là nứt vỡ, còn nghĩa nữa là cương quyết.

Quẻ có một hào âm ở trên cùng, tượng cho tiểu nhân đến hồi suy, năm hào dương ở dưới đang tiến lên uy hiếp một hào âm, tượng cho 5 quân tử cương quyết diệt tiểu nhân. Lời Quẻ nói rằng: Quyết liệt: Phải tuyên cáo tội ác của nó ở sân lớn, lấy lòng chí thành mà phát hiệu lệnh. Có điều nguy sợ đây, phải tự răn phe mình đã, đừng chuyên dùng vũ lực, được như vậy thì sự nghiệp của mình càng tiến tới, có lợi.

Phan Bội Châu bình luận: Năm dương khử một âm, 5 quân tử khử 1 tiểu nhân, đáng lẽ là rất dễ, mà lời quẻ lại có ý nói rất gay go. Trên quẻ Bác, 5 tiểu nhân khử 1 quân tử, thánh nhân đã hết sức lo cho quân tử. Bây giờ, 5 quân tử khử 1 tiểu nhân, mà thánh nhân lại răn đe cho quân tử (nguy sợ, phải tự răn mình, đừng chuyên dùng vũ lực - XC), ý tứ Dịch thâm thúy biết chừng nào.

Hãy xem 5 quân tử trong quẻ Quải.

Hào 1 dương (tính từ dưới lên) "hăng mạnh ở ngón chân bước lên trước, tiến lên mà không chắc thắng được, là có lỗi". Hăng mạnh ở bước đầu thôi, và mới về mặt tinh thần, không chắc thắng thì chớ liều thân.

Hào 2 dương là một tay có mưu lược "lo lắng mà kêu gọi, đề phòng".

Biết lo mà lấy việc phòng bị làm đầu là cách rất tốt để ngăn ngừa tiểu nhân. Trong 4 chữ "phòng chống tham nhũng", chữ “phòng” đặt lên trước, đó chính là hào 2 dương.

Đến hào 3 dương. Do ở chỗ hào này ứng với hào 6 tiểu nhân trên cùng (trong một quẻ Dịch, hào 3 và 6 bao giờ cũng ứng với nhau), nên tuy 3 là quân tử đấy, mà thánh nhân cho hai chữ “quyết quyết” (Quân tử quyết quyết). Là vì sao?

Trong diệt trừ tiểu nhân nói chung, đặc biệt chống tham nhũng, vai trò quân tử hào 3 này khác nào ở trong nội bộ bọn chúng, người này mà "quyết quyết" (như chị kế toán trưởng của Tổng Công ty kia), thì bọn chúng chạy đằng trời.

Đến hào 4 dương, cũng là quân tử đấy, ở sát hào 5 (khác nào nhân vật ở các cấp trung gian) nhưng "bất chính, bất trung" (hào 4 vị âm), do dự lừng chừng, thánh nhân bảo khác nào cái "mông đít không da" (đồn phu, “đồn” là cái mông, “phu” là da mỏng), ngồi đứng không yên, "chập choạng", thôi thì hãy "lùa bầy dê đi trước". Lời hào vừa thương hại vừa khuyên răn.

Nghĩa là hãy lui về sau, nhường cho những người vừa dũng mãnh vừa khôn ngoan tiến lên, cổ vũ hô hào thôi cũng được.

Rồi đến hào 5 dương ở vị trí trung tâm, vừa chính vừa trung, tuy sát kề tiểu nhân, nhưng là người đứng đầu quân tử, thánh nhân cũng cho hai chữ "quyết quyết", giữa đường mà đi, không lỗi (quyết quyết trung hành vô cựu). Như vị đại tá Điện Biên kia xông lên, coi đánh tham nhũng như đánh giặc, lại đầy đủ tài liệu trong tay, cứ một chữ trung mà dấn thân.

Phan Bội Châu bình luận: Đọc suốt 6 hào quẻ Quải, thì càng biết thủ đoạn thánh nhân rất cao. Năm quân tử quyết một tiểu nhân, mà cớ sao ba hào (1, 2, 4) không có chữ “quyết”. Duy hào 3 dương với 5 dương có 2 chữ “quyết quyết”.

Chẳng phải là họa phúc ở thời Quải nằm ở trong tay hai hào ấy hay sao?

Mà thật vẫn có thế, hào Sơ tuy là quân tử mà vị thấp, tài hèn, may làm được một người anh hùng vô danh đã tốt rồi, nên phải lo cho Sơ “tiến chưa chắc thắng”. Hào 2 vẫn là tay đại tướng, nhưng nếu vận chưa đến, chỉ là lo lắng, kêu gọi mà thôi. Hào 4 dương cũng là một vị quân tử, có giá trị ở trong phe, nhưng vì có khí thế, mà tài chưa đủ, chỉ vừa làm một người đồng sự, ứng viện phía sau mà thôi, nên bảo rằng lùa bầy dê đi trước thì khỏi ăn năn.

Tựu trung, duy có 3 dương với 5 dương. Hào 3 dương là bạn thân với hào 6 trên, âm, (dương âm ứng nhau) chính là một tay làm được nội gián cho bè quân tử. Nên thánh nhân khuyên rằng: quân tử quyết quyết. Đến như 5 dương, thì địa vị ở trên hết quần chúng, chính là lãnh tụ trong đám quân tử; dùng đầu óc mà khu xử tay chân, vận tài năng mà di chuyển cả thời thế, chính là nhờ vì hạng người ấy. Nếu người ấy mà dở, thì còn ai làm nổi việc thời Quải? Nên thánh nhân tán cho rằng: Quyết quyết, theo đạo trung mà đi.

Tóm lại, trong 6 hào mà công việc “quyết quyết” chỉ đặt trên vai 3 dương với 5 dương. Dùng 3 dương là biến hoá kỳ ảo, tôn 5 dương là đường lối chính thống. Nếu không có 5 dương thì té ra rắn không đầu, sao mà đi được; nếu không có 3 dương, thì té ra đánh giặc không có nội công, sao mà thắng địch? Xem hai lời hào ấy, thì thấy thủ đoạn thánh nhân càng đáng ghê.

Nguồn st!

17/05/2020

1. Sống trong hiện tại

Phật hỏi đệ tử :
– Cuộc sống người ta được bao nhiêu ?
Các đệ tử thay nhau trả lời :
– 80 năm – Sai. 70 năm – Còn sai. 60 năm – Sai.
– Vậy người ta sống bao lâu?
Phật mỉm cười đáp:
– Đời người chỉ thuộc trong vòng hơi thở
****Lời bình :Đừng ỷ vào quá khứ và cái sắp tới, hãy sống với thực tại.

2. Thiên đường địa ngục

Một vị tướng quân đến gặp thiền sư Ekaku hỏi:
– Bạch thầy, thiên đường hay địa ngục có thật hay không ?
– Thế ngài là ai ?
– Tôi là tướng quân.
Bất ngờ, thiền sư cười lớn :
– A ha ! Thằng ngốc nào cho ông làm tướng vậy, trông ông giống anh hàng thịt.
Tướng quân nổi giận, rút gươm :
– Tao băm xác mi ra !!!
Thiền sư vẫn điềm tĩnh:
– Này là mở cửa địa ngục.
Chợt giác ngộ, vị tướng sụp xuống lạy:
– Xin… xin thầy tha lỗi cho cử chỉ thô bạo vừa rồi của tôi.
– Này là mở cửa thiên đường – thiền sư Ekaku mỉm cười.
***Lời bình :Thiên đường, địa ngục không phải là chỗ con người tới sau khi chết mà nó ở đây và bây giờ ! Lành, dữ đều do tư tưởng. Cửa thiên đường địa ngục mở ra bất cứ lúc nào
-St-

11/05/2020

HÃY HỌC CÁCH BỐ THÍ
Một người nghèo hỏi Đức Phật “Tại sao con nghèo như thế?”. Phật nói “Vì con chưa học được cách bố thí cho người khác”. Người kia thưa “Con không có thứ gì cả, thì lấy gì con bố thí”.

Đức Phật dạy : “Cho dù con hoàn toàn không có cái gì, con vẫn có thể thực hiện bố thí 7 điều này :

1. Nhan thí - Bố thí nụ cười.

2. Ngôn thí - Bố thí ái ngữ, nói lời hay.

3. Tâm thí - Bố thí tâm hòa ái, lòng biết ơn.

4. Nhãn thí - Bố thí ánh mắt nhìn thẳng hiền từ.

5. Thân thí - Bố thí hành động nhân ái.

6. Tọa thí - Bố thí nhường chỗ cho người cần.

7. Phòng thí - Bố thí lòng bao dung

Đức Phật nhắc nhở về hai việc nhằm đem đến nguồn hạnh phúc mang tính khéo léo là làm giàu bằng cách làm ăn chân chính và bảo vệ tài sản được tạo ra. Tuy nhiên, Đức Phật khuyến cáo làm giàu không phải là mục đích cuối cùng. Sự giàu có được tán dương đối với mọi người khi nó được dùng vào đúng mục đích. Đức Phật đã từng so sánh một người chỉ biết hưởng thụ sự giàu có của mình mà không chia sẻ cho kẻ khác như là một người đang tự đào hố để chôn chính mình.

Ads By Mediad


Ngoài ra, Đức Phật cũng ví dụ về một người làm giàu chân chính và biết chia sẻ cho người nghèo khó như một con người có đầy đủ hai mắt. Ngược lại, người keo kiệt bủn xỉn được ví như người chỉ có một con mắt.

Đức Phật biết rằng bố thí sẽ là nguồn phước báo lớn lao tạo ra những lợi ích miên viễn cả trong đời sống hiện tại và tương lai. Trong lúc những lời dạy của Đức Thế Tôn về phước báo không có nhiều ý nghĩa đối với nhiều người thực hành pháp Phật ở phương Tây, nhưng những lời dạy này gợi mở ra nhiều nẻo đường vô hình với những kết quả từ hành động của chúng ta sẽ hoàn trả lại cho chính mình.

Có một cách mà người hành bố thí có thể thấy đó là sự báo ứng trong nghiệp báo nhãn tiền. Nghiệp báo nhãn tiền, trong Phật giáo, là bạn nhận kết quả trực tiếp được tác động trên thân và tâm của bạn khi bạn hành xử. Những kết quả của sự bố thí thật tuyệt vời trong giây phút hiện tại. Nếu thật sự có mặt với chúng, chúng ta có thể tiếp nhận những kết quả tốt đẹp đó trong lúc thực hành bố thí. Đức Phật nhấn mạnh về niềm hạnh phúc của sự bố thí. Bố thí không có nghĩa là phải bị bắt buộc làm hay làm một cách bất đắc dĩ, mà hơn thế nữa khi bố thí người bố thí cần phải vui vẻ trước khi bố thí, trong khi bố thí và sau khi bố thí.

Ở cấp độ cơ bản nhất, bố thí trong truyền thống của đạo Phật có nghĩa là cho đi mà không mong chờ một sự hồi đáp nào trở lại. Hành động bố thí chỉ thuần nhất được sinh khởi từ tấm lòng từ hay ý niệm thiện, hoặc vì lợi ích của một ai đó. Có lẽ bố thí nhấn mạnh về cách cho hơn là của cho. Thông qua bố thí, chúng ta gieo trồng một tâm hồn rộng mở. Tâm hồn rộng mở này sẽ luôn dẫn đến hành động bố thí, nhưng để trở thành người có tấm lòng rộng mở là quan trọng hơn bất cứ hành động bố thí nào. Và sau cùng, nó sẽ dẫn đến hành thí ba la mật.

Mặc dù bố thí với mục đích giúp đỡ người khác là một động cơ quan trọng và có được niềm vui khi bố thí, Đức Phật luôn nhấn mạnh rằng mục đích của bố thí là để đạt được Niết Bàn, đây chính là động cơ quan trọng nhất. Vì mục đích này, “người thực hành bố thí nhằm trang điểm và làm đẹp cho tâm hồn”. Trong tất cả những sự trang điểm ấy chính là tinh thần không chấp thủ, lòng từ bi và sự quan tâm nhằm đem đến sự tốt đẹp cho kẻ khác.

Want your school to be the top-listed School/college in Hanoi?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Telephone

Website

Address


Hanoi
100000