26/08/2020
TÂM VƯƠNG
1. Trong lúc chúng ta mở mắt thấy các cảnh vật, biết được cảnh đây xanh, kia đỏ, đó trắng, nọ vàng v,v...Vì cái biết này thuộc về con mắt, nên trong Duy thức gọi là “Nhãn thức” (cái biết của con mắt).
2. Lỗ tai chúng ta, khi nghe các tiếng, biết được tiếng hay, dở, phải, trái vv... Bởi cái biết này thuộc về lỗ tai, nên trong Duy thức gọi là “Nhĩ thức” (cái biết của lỗ tai).
3. Lỗ mũi chúng ta, khi ngửi mùi, biết được đây là mùi thơm hay hội vv... cái biết đó thuộc về lỗ mũi, nên trong Duy thức gọi là “Tỹ thức” (cái biết của lỗ mũi).
4. Miệng chúng ta, khi nếm các vị, biết được vị ngọt, lạt, cay, đắng, béo, bùi v.v... Cái biết này thuộc về lưỡi, nên trong Duy thức gọi là “Thiệt thức” (cái biết của lưỡi).
5. Thân thể chúng ta, đụng lửa biết nóng, xuống nước biết lạnh, mặc đồ mỏng biết mát, mang đồ dày biết nực, đụng đá biết cứng, cầm bông biết mềm vv... Vì cái biết này thuộc về thân, nên trong Duy thức gọi là “Thân thức” (cái biết của thân). Cả năm thức này, khi chứng được quả vô lậu thì nó chuyển thành “Thành sở tác trí”.
6. Trong khi chúng ta, mắt không thấy, tại không nghe, mũi không ngửi, miệng không nếm, thân thể không chạm xúc; nói cho gọn hơn, là trong lúc nắm giác quan không tiếp xúc với trần cảnh, mà ý thức vẫn phân biệt tính toán: nhớ những cảnh đã qua, suy xét những điều chưa đến. Cái biết như thế, thuộc về “Ý thức”. Như ngày hôm qua, chúng ta đi coi hát, tại không còn nghe tiếng ca vv... mà trong ý thức vẫn còn mơ màng điệu bộ người hát, in như còn phưởng nhất ở trước mắt, tiếng người ca như văng vẳng bên tai. Mặc dù không có cảnh vật hiện tiền phản ảnh vào năm giác quan, mà ý thức chúng ta cũng vẫn tính toán phân biệt. Một tỷ dụ nữa, như chúng ta chưa đi học, mà biết rằng mình học sẽ được, chưa làm ruộng, mà biết mình làm ruộng đây trúng hay thất, chưa buôn bán, mà có thể đoán trước rằng, buôn bán đây lời hay lỗ; nghĩa là, những việc đã qua, chưa đến hay hiện tại, chúng ta đều suy xét biết được. Những cái biết như thế, trong Duy thức học gọi là “Ý thức” (cái biết của ý), cũng gọi là “đệ lục thức” (cái biết thứ 6).Cái ý thức này, công dụng của nó lợi hại vô cùng. Nếu nó suy nghĩ tính toán những việc hay, tốt, thì thân chúng ta sẽ làm điều lành, miệng nói những lời phải, đều có lợi ích cho mình và người. Như các nhà tu hành khi niệm Phật, quán tưởng, tham thiền, nhận định v.v... cho đến lúc thành đạo, chứng quả, cũng nhờ công dụng của “đệ lục thức” này. Đến khi chứng được quả vô lậu, thì ý thức trở thành “Diệu quan sát trí”.
Ở thế gian, kinh doanh được sự nghiệp lớn lao, hay làm những điều núi lở, sóng nghiêng, tội ác tày trời, cũng đều do ý thức này suy nghĩ lợi hại cả; nên trong về củ của nó, ẩn ở dưới đất mà thôi. Nếu cỏ kia không có củ, thì không làm sao nứt mộng mọc chồi được. Còn ý thức thứ 6 cũng thế, khi không có phân biệt nó Duy thức nói: “Công vị thủ, tội vi khôi”. Nghĩa là: luân về công thì thức này có công hơn hết; còn nói về ác thì thức này cũng đứng đầu.
7. Quý vị đã rõ, mỗi người đều có 6 cái biết, nói bằng cách khác đó là 6 món cảm giác. Vậy bây giờ đây, chúng ta nên suy xét sâu thêm một từng nữa: cái ý thức kia, tuy ở trong 3 thời quá khứ, hiện tại và vị lai, nó đều có công năng phi thường hơn 5 thức trước, nhưng có khi nó bị gián đoạn. Như khi chúng ta ngủ mê, hoặc chết giấc hay những lúc bị chụp thuốc mê, lúc ấy không phải chết, nhưng không biết chị cả, và những người tu Vô tướng định vv... lúc bấy giờ cũng không còn tính toán phân biệt gì nữa. Đây là những bằng chứng trong khi ý thức bị gián đoạn.
Qua các thời gian ấy, thì ý thức (cái biết thứ 6) lại khởi lên phân biệt như thường. Vậy trong lúc nó bị gián đoạn, chắc phải nương về một nơi nào? Chỗ ấy, theo Duy thức học gọi nó là “Ý căn” (nghĩa là cái gốc của ý thức thứ 6). Tôi xin tỷ dụ để quý vị dễ hiểu, như đám cỏ cú kia, bị đá đè hay nắng rụi, đến lúc người ta dời viên đá nơi khác, hoặc gặp mưa xuống thì có nứt mộng mọc chồi. Cho biết trong lúc cỏ rụi, là nó chỉ trở không phải mất hẳn mà chỉ trở về với gốc của nó là thức thứ bảy, nên trong duy thức cũng gọi là “Ý căn” (gốc của ý thức). Theo tiếng Phạn gọi là “Mạt na thức”.
Công tăng của thức thứ bảy này là thường thường chấp “Ta” khác với người". Chúng ta đi, đứng, nằm, ngồi, không lúc nào quên được mình (ta). Khi đối với người nói chuyện, vừa mở miệng ra là đã nói “tôi” (ta). Hay những lúc tình cờ cây rơi (rớt), hoặc bị người đánh V.V... thì ta ngẫu nhiên đưa tay đỡ, tránh. Đây là những bằng chứng thức này cũng bảo thủ cái ngã (ta).
Lại nữa, khi sanh về cõi trời, thì thức này chấp mình là trời, sanh về cõi người, chấp mình là người, cho đến sanh làm loài vật, thì chấp mình là loài vật. Tóm lại, từ phàm đến Thánh, không một vị nào chẳng chấp có “Ta”, chỉ trừ những vị đã chứng được “Sanh không trí”. Thức thứ bảy này, lại có công năng đem các pháp hiện hành, huân chửa vào một cái kho vô tận (Tàng thức); rồi từ cái kho ấy, đưa chúng tử các pháp ra, khởi hiện hành. Nếu không nhờ thức thứ bảy này, huân tập những việc thấy, nghe, hay, biết vào kho vô tận (tàng thức), thì chúng ta không thể ký ức lại được một việc gì cả.
Như người nhiếp ảnh, nếu anh không đem cuốn phim ấy cất một nơi nào, thì đến khi muốn rọi lại, không bao giờ rọi được. Song chiếu lại được, thì biết anh có đem cuốn phim ấy cất. Thức này cũng thế, khi chúng ta đọc một bộ sách, hay nghe một việc gì, nếu không có thức này đem cất chứa vào một kho vô tận, thì lúc xem qua khỏi mắt, tai hết nghe; nghĩa là, đến khi cảnh vật hiện tiền không còn phản ánh vào năm giác quan nữa, thì chúng ta không còn nhớ lại một việc gì cả. Bởi có nhớ lại được, nên biết rằng nó có chứa đựng một nơi nào vậy.
Thế nên thức thứ bảy này, cũng có tên là “Truyền tống thức” (truyền vào và tống ra). Đến khi chứng được quả vô lậu, thì thức này đổi tên là “Bình đẳng tánh trí”.
8. Thưa quý vị! Cứ theo chính giác và chanh lý mà phán đoán: đã có cái “năng phân biệt chấp ta” tức là thức thứ bảy, thì cố nhiên phải có “cái ta bị chấp” là thức thứ tám. Cũng như nói “tôi cầm viết”; đã có cái tay cần, nhất định phải có vật bị cầm. Vì thế, nên thức thứ tám cũng có tên là “Ngã ái chấp tàng” (bị thức thứ bảy chấp làm ta).
Như trên đã nói: “Thức thứ bảy đem các pháp hiện hành huân chứa vào một nơi”. Nếu đã có kẻ đem chứa, thì nhứt định phải có chỗ để chứa. Cũng như có người đem cất đồ vào kho, thì phải có cái kho để cất. Chúng ta từ nhỏ đến lớn, hoặc đọc được 100 bộ sách, hay làm không biết bao nhiêu công việc, trải qua trong một thời gian năm mười năm, không nghĩ đến thì thôi, nếu một phen hồi tưởng lại những sách ta đã đọc và những việc ta đã làm, thì nó vẫn hiện rõ ràng, in tuồng như mới đọc và mới làm.
Một bằng chứng nữa: Chúng ta đi từ Nam chí Bắc, xem không biết bao nhiêu phong cảnh, hay du lịch thế giới, thấy những vật lạ thường, khi trở về nhà, các cảnh vật ấy không còn thấy nữa, nhưng một phen nhớ lại, thì thấy rõ ràng như ở trước mắt, vẫn còn lớp lang tuần tự. Như thế thì biết rằng, phải có cái kho bằng tinh thần vô hình và vô tận (tàng thức) để chứa đựng bao nhiêu hình ảnh của những cảnh ta đã xem, những sách vở ta đã đọc và những việc ta đã làm... Nếu không có cái kho vô tận này, để chứa giữ lại, thì những sách ta đã đọc và những cảnh ta đã xem, nó phải quên mất liền, theo trong lúc ta hết xem và thôi đọc, nghĩa là phải quên liền khi các cảnh vật không còn hiện tiền phản ánh vào bộ óc nữa. Về sau chúng ta muốn nhớ lại cảnh vật đã qua, hay một bộ sách đã đọc, cũng không bao giờ nhớ được.
Vì thế, nên biết phải có một cái kho vô hình chứa giữ lại. Cái kho ấy theo Duy thức gọi là “Tàng thức”, nghĩa là “cái thức chứa”; vì nó chứa căn thân, khí giới và chủng tử các pháp vậy, cũng tên là “đệ bát thức” (cái biết thứ tám). Theo tiếng Phạn gọi là “A lại da thức”.
Đến khi chứng được quả vô lậu, thì thức này đổi tên là “Bạch tịnh thức” hay gọi là “Đại viên cảnh trí.
Thưa quý vị,
Cổ nhơn có làm một bài kệ, để cho chúng ta nhớ cái tài năng hay tác dụng của tám thức như sau:
“Bát cá đệ huynh, nhứt cá si Độc hữu nhứt cá tối linh ly Ngũ cá mốn tiền tố mãi mại Nhứt cá gia trung tác chủ y”.
Nghĩa là: trong tám anh em, thức thứ bảy là si mê (ngã si), duy có thức thứ sáu, rất khôn lanh (công vi thủ, tội vi khôi); còn năm thức trước như người làm công ở ngoài cửa, chỉ lo buôn bán, tiếp nước khách hàng (tiếp xúc với 5 trần cảnh); một mình thức thứ tám làm ông chủ nhà (chứa đựng).
Xem bài kệ này chúng ta có thể biết qua được khả năng của tâm thức, mà thức thứ sáu và thức thứ bảy là lợi hại hơn hết. Nếu thức thứ bảy si mê, bo bo chấp ngã, thức thứ sáu suy tính làm những việc tội ác, thì chúng ta muôn kiếp trầm luân, không bao giờ thoát ly sanh tử luân hồi được. Vì thế nên người tu Phật, lúc nào cũng phải dùng thức thứ sáu và thức thứ bảy, quán nhơn và ngã, để phá trừ si mê chấp ngã, dứt phiền não chướng rồi quán pháp vô ngã, để phá trừ pháp chấp, dứt sở tri chướng. Khi ngã chấp và pháp chấp hết rồi, tức là phiền não chướng và sở tri chướng đã dứt, thì chúng được hai quả thù thắng là: Bồ đề và Niết bàn.
Vì thế, nên trong Duy thức học nói: “lục, thất nhơn trung chuyển; ngũ bát quả thượng viên”. Nghĩa là: trong lúc tu nhơn, thì chỉ dùng thức thứ sáu và thức thứ bảy; đến khi kết quả thì cả năm thức trước, và thức thứ tám cũng được viên thành.
Vì năm thức trước như người làm công, không có quyền, còn thức thứ tám chỉ có tài chứa đựng; duy có thức thứ sáu và thức thứ bảy này, nếu có công thì nó hạng nhứt, mà có tội nó cũng đứng đầu. Người học Phật đối với hai thức ấy, lúc nào cũng phải cẩn thận và sửa đổi, như thể gọi là “Tu tâm”.
Còn tiếp...
Trích 8 quyển sách quý của HT. Thích Thiện Hoa