Nhà Trọ Chính Chủ Tại Hà Nội

Nhà Trọ Chính Chủ Tại Hà Nội

Share

Tư vấn hướng nghiệp cho công dân Việt Nam

06/04/2021

Mùa thi 2021 sắp đến, chúc các em 2003 đạt kết quả như ý

13/09/2020

video mô phỏng nguyên lý hoạt động của súng máy

Photos from Nhà Trọ Chính Chủ Tại Hà Nội's post 15/06/2020

✅ - ĐẢM BẢO TƯƠNG LAI‼️

CAO ĐẲNG ĐIỆN TỬ - ĐIỆN LẠNH HN (HCEET), ĐƠN VỊ GDNN CÔNG LẬP TUYỂN SINH:

HÃY ĐỂ CÁC THẦY CÔ TƯ VẤN ĐỂ BẠN không phải 🤗phân vân, lo lắng hay suy nghĩ về nữa❗️

🏵 có truyền thống 55 năm xây dựng và phát triển tại trung tâm quận Cầu Giấy, Hà Nội

🏢 có khu Ký túc xá ngay tại trường, rất thuận tiện cho HSSV chỉ với 220.000đ/ tháng.

🔔🔔🔔HSSV HCEET được thực hành, học tập trên các phòng học với trang thiết bị hiện đại.

🤝🤝🤝 HCEET cam kết giới thiệu việc làm đúng chuyên ngành.

--------------------------------------------------------------------------

✍️💕☘ Hãy liên hệ với chúng tôi:

🔜 Chấm "." hoặc inbox để được tư vấn tận tình và miễn phí.

-------------------------------------------------------------------------

Các ngành nghề đào tạo:

✔️Công nghệ kỹ thuật Cơ khí

✔️Công nghệ kỹ thuật cơ điện tử

✔️Kỹ thuật máy lạnh và điều hòa không khí

✔️Tự động hóa công nghiệp

✔️Điện công nghiệp

✔️Điện tử công nghiệp

✔️Công nghệ kỹ thuật điện, điện tử

✔️Công nghệ thông tin

✔️Tin học ứng dụng

✔️Công nghệ kỹ thuật điện tử, viễn thông

✔️Điện công nghiệp

✔️Quản trị mạng máy tính

16/04/2020

5 TIÊU CHÍ ĐỂ CHỌN ĐÚNG NGÀNH NGHỀ]

90% các em học sinh lớp 12 vẫn còn đang mông lung không biết lựa chọn nên học ngành nào trong tương lai, bạn có là một trong số đó? Hãy thử xem 5 tiêu chí để chọn đúng ngành nghề phù hợp dưới đây nhé!

Tiêu chí 1: Sở thích, đam mê
Không chỉ riêng gì chọn ngành, chọn nghề, mà bất kể công việc gì cũng cần phải có sở thích, hứng thú thì mới làm tốt, làm lâu dài được. Có đam mê, có hoài bão thì con người mới xây dựng được cho mình những khát vọng, những ý tưởng để thực hiện được đam mê đó.

Tiêu chí 2: Tính cách
“Thoải mái” chính là từ khóa của bước này. Các em cần phải xác định xem liệu môi trường làm việc sau này của ngành nghề mình đã chọn có phù hợp với tính cách của mình hay không? Giả sử em là một con người năng động, thích khám phá, đi đây đi đó thì nghề kế toán với một môi trường gò bó và luôn phải đối mặt với những con số nhàm chán hẳn sẽ khiến cậu bực bội và cảm thấy bị kìm hãm.

Tiêu chí 3: Năng lực của bản thân
Năng lực là khả năng mà các em có thể theo học và làm được nghề. Nếu khả năng, năng lực bản thân không đủ đáp ứng nhu cầu công việc, chắc chắn các em sẽ không thể sống được bằng ngành nghề bạn đã học.

Tiêu chí 4: Khả năng phát triển và cơ hội nghề nghiệp trong tương lai
Không phải các em cứ thích, cứ đam mê là đã có thể thực hiện đam mê đó, mà cần phải nghiên cứu, đánh giá về xu hướng và sự thay đổi của xã hội đối với ngành nghề mà mình muốn theo đuổi. Một công việc được cho là dễ xin chỉ khi xã hội đang cần, nhu cầu tuyển dụng cao hơn nguồn lao động hiện có trên thị trường. Tuy nhiên, điều đó cũng sẽ sớm bão hòa sau một thời gian không xa, vì có cầu ắt có cung, vì vậy một ngành được cho là “hot” hiện nay cũng không có gì đảm bảo là sẽ ổn định lâu dài.

Tiêu chí 5: Hoàn cảnh gia đình
Đây là tiêu chí cuối cùng nhưng cũng không kém phần quan trọng. Chi phí cho việc học không hề nhỏ. Vì thế, việc chọn ngành nghề, chọn trường sao cho phù hợp với khả năng tài chính là điều phải lưu ý. Hãy xem xét hoàn cảnh của gia đình mình để xác định được con đường các em chọn có thích hợp hay không.

Hi vọng qua bài viết này, các em có thể xác định được ngành nghề mà mình muốn theo đuổi trong tương lai. Còn nếu vẫn cảm thấy hơi hơi hoang mang thì đừng lo, hãy đón chờ những bài viết tiếp theo từ thầy nhé!

16/04/2020

NHỮNG HỆ QUẢ ĐÁNG TIẾC KHI LỰA CHỌN SAI NGHỀ NGHIỆP
Với nhiều bạn trẻ, định hướng nghề nghiệp của bản thân đều phụ thuộc vào gia đình mình vì ở độ tuổi mới lớn, họ rất sợ phải đưa ra lựa chọn sai. Thực tế cho thấy, việc một bạn trẻ phải đưa ra quyết định chọn nghề là điều vô cùng khó khăn vì họ không thực sự hiểu rõ về những gì mình muốn theo đuổi. Tuy vậy, những người có kinh nghiệm hơn các em không phải lúc nào cũng đưa ra những quyết định chính xác và phù hợp. Khi ấy, những hệ quả dưới đây là không thể tránh khỏi.
1. Không cảm thấy hạnh phúc
Điều đầu tiên có thể xảy ra khi bạn chọn sai nghề là bạn không thích những gì bạn đang làm. Công việc bạn làm trên cơ sở hàng ngày dường như không cho bạn sự hài lòng cũng như không hạnh phúc. Do vậy, mỗi ngày trôi qua với bạn là một cực hình.
Trên thực tế, khi lựa chọn nghề nghiệp, điều quan trọng là bạn hiểu những gì mình muốn và không muốn. Lựa chọn công việc mà không có định hướng nghề nghiệp phù hợp có thể ảnh hưởng lớn đến tương lai của chính bạn. Một người không bao giờ có thể thành công nếu không hài lòng với những trách nhiệm công việc đi kèm.
2. Hiệu suất công việc kém
Một ảnh hưởng nghiêm trọng khác của việc “lạc lối” là bạn không thể làm tốt những việc được giao. Chúng ta đều biết rằng: Hiệu suất là những gì thể hiện vào cuối ngày để giúp chúng ta nhận được đánh giá và vươn đến một vị trí tốt hơn. Nhưng nếu bạn đã chọn một nghề sai lầm cho chính mình thì hiệu suất của bạn sẽ đạt đến mức bạn không thể đưa ra được vài phần trăm.
Nghề nghiệp phải được lựa chọn dựa trên khả năng và kỹ năng mà bạn có. Nếu bạn không thể hoàn thành tốt công việc được giao, đây có thể là một dấu hiệu quan trọng để bạn hiểu rằng bạn đang ở trên một con đường không dành cho bạn.
3. Lo lắng và căng thẳng
Nếu như bạn đang bị trì trệ trong một mớ công việc không đúng sở trường, bạn rất dễ thường xuyên đối mặt với sự lo lắng và căng thẳng. Đây là có thể là sắc thái tâm lý cho bạn biết rằng bạn đang mắc kẹt ở giữa hư không.
Sức khỏe là tài sản. Và tất cả chúng ta đều biết điều này. Khi bạn chán ghét công việc, sức khỏe của bạn sẽ không được đảm bảo. Sự lo lắng và tâm trí căng thẳng cũng sẽ thường được bạn mang về nhà và bị ném vào các thành viên trong gia đình. Điều này làm xáo trộn tính khí của bạn và làm tổn hại mối quan hệ với người thân.
4. Bất mãn với thực tại
Khi đối mặt với công việc không phù hợp với mình, nhiều người thường cảm thấy muốn trốn tránh và ở trong một góc tối. Họ cũng không muốn ra ngoài và giao tiếp với xã hội hay cộng đồng xung quanh vì cho rằng mình là kẻ tồi tệ, không làm nên trò trống gì. Sự nhận thức này đã đi vào tâm trí và làm cho họ cảm thấy như mình đã thất bại trong một cuộc chiến chống lại bản thân.
Do đặc điểm trên, còn có một tính khí khác xuất hiện trong hình ảnh cuộc sống của một người bị căng thẳng và đang ghen tị với người khác vì sự thành công của họ. Họ có xu hướng nhìn vào sự nghiệp tổng thể của mình và bắt đầu để so sánh với người khác.
Hạnh phúc và thành công mà bạn đạt được trong công việc thường tỷ lệ thuận với sự chính xác khi lựa chọn nghề nghiệp của bạn. Chính sự lựa chọn này sẽ giúp bạn được là chính mình và trở thành nguồn vui sống mỗi ngày! Do đó, khi đưa ra sự lựa chọn sai, rất có thể bạn sẽ phải đối mặt với những hệ quả đáng tiếc.

31/03/2020

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP
Hướng đến nâng cao vị thế của lĩnh vực GDNN, với nỗ lực xóa bỏ định kiến GDNN là “sự lựa chọn thứ hai” trong mục tiêu học tập. Nước ta đã và đang thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp như cải cách khung trình độ GDNN, bao gồm tiêu chuẩn nghề, cơ chế đánh giá cho điểm; tuyển dụng và đào tạo giáo viên và sự tham gia của doanh nghiệp vào quá trình đào tạo kỹ năng nghề.

Cải thiện hệ thống GDNN quốc gia:
Cải thiện khung hệ thống giáo dục nghề nghiệp quốc gia; Cải thiện giáo dục trung cấp nghề; Thúc đẩy phát triển GDNN chất lượng cao; Cải thiện hệ thống đào tạo các chuyên gia cấp cao có kỹ năng thực tế (ví dụ: đảm bảo học tập kỹ thuật/ứng dụng và đào tạo thực tế nhiều hơn trong giáo dục nghề nghiệp; kết hợp giáo dục nghề nghiệp liên quan đến quân sự vào hệ thống giáo dục nghề nghiệp quốc gia).

Xây dựng tiêu chuẩn quốc gia về GDNN:
Nâng cao tiêu chuẩn giảng dạy trong giáo dục nghề nghiệp; Hỗ trợ và thúc đẩy đào tạo nghề chất lượng cao với chính sách đầy đủ:

Tăng cường sự liên kết giữa các trường nghề với ngành công nghiệp: Thúc đẩy kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, làm việc và học tập thông qua quá trình học nghề, thực tập và đào tạo; Tăng cường hợp tác giữa các trường nghề và ngành công nghiệp; Xây dựng cơ sở GDNN chất lượng cao trên cơ sở kết hợp học tập hàn lâm với đào tạo chuyên môn nghề nghiệp; Tuyển chọn thêm giáo viên đáp ứng cả về kiến ​​thức và kỹ năng ứng dụng. Thúc đẩy sự tham gia của các ngành công nghiệp trong nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp; Thành lập các tổ chức đánh giá giáo dục nghề nghiệp để phát triển các tiêu chuẩn trình độ kỹ năng nghề, triển khai đánh giá, cho điểm kỹ năng nghề và cấp phát chứng chỉ.

Tăng cường các chính sách để bảo vệ lợi ích của các chuyên gia lành nghề: Cải thiện tiền lương và lợi ích cho các chuyên gia lành nghề; Cải thiện cơ chế tài trợ cho giáo dục nghề nghiệp (bao gồm chính phủ, gây quỹ, từ thiện và học bổng tập trung vào khu vực nghèo đói và vùng dân tộc).

Tăng cường giám sát và đánh giá chất lượng giáo dục nghề nghiệp: Thiết lập và cải thiện hệ thống đánh giá và giám sát chất lượng giáo dục nghề nghiệp (bao gồm phát hành báo cáo thường niên về GDNN và tiến hành kiểm tra ngẫu nhiên về việc cấp chứng chỉ nghề).

Để thực hiện tốt các giải pháp, thiết nghĩ Nhà nước cần phải lập một ban chỉ đạo GDNN quốc gia để tư vấn, nghiên cứu chính sách, tham gia soạn thảo luật và quy định giáo dục nghề nghiệp và đóng góp vào quá trình ra quyết định của Chính phủ.

02/09/2019

CẤU TRÚC BÀI DẠY TÍCH HỢP
1. Cơ sở khoa học
1.1. Quan điểm dạy học định hướng hoạt động
Quan điểm đổi mới chất lượng dạy học trong dạy nghề là trang bị cho học sinh các năng lực thực hiện nhiều hơn những tri thức có tính tái hiện lại. Để thực hiện được định hướng đổi mới này phải cần đến các phương thức đào tạo có tính hoạt động và có tính giải quyết vấn đề. Người học cần được trang bị một lượng tri thức cơ bản đồng thời liên kết và định hướng tới các năng lực. Một vấn đề đặt ra ở đây là phương pháp dạy và học nào là mang lại hiệu quả hình thành được ở học sinh các năng lực. Đã từ lâu người ta nghiên cứu tiếp cận lý thuyết hoạt động để thiết kế tổ chức dạy học hướng đến các năng lực trên. Bản chất của kiểu dạy học này là người học phải hoạt động cả tay chân và trí óc để tạo ra một sản phẩm hoạt động. Hoạt động học tập này là một hoạt động có tính trọn vẹn.
Sơ đồ: Cấu trúc năng lục thực hiện
Sơ đồ: Cấu trúc năng lục thực hiện

1.2. Lý thuyết hành động trong tâm lý học nghề nghiệp
Hoạt đông nọi chung và hoạt động học tập của học sinh cáo cấu trúc sau:[1]
- Một hoạt động bao gồm nhiều hành động và bao giờ cũng nhằm vào đối tượng để chiếm lĩnh nó. Chính đối tượng đó trở thành động cơ hoạt động của chủ thể;
- Hành động được thực hiện bằng hàng loạt các thao tác để giải quyết những nhiệm vụ nhất định, nhằm đạt mục đích của hành động;
- Thao tác gắn liền với việc sử dụng các công cụ, phương tiện trong những điều kiện cụ thể.
Trong bất kỳ hành động có ý thức nào, các yếu tố tâm lý đều giữ những chức năng:
Định hướng hành động;
Thúc đẩy hành động;
Điều khiển thực hiện hành động;
Kiểm tra, điều chỉnh hành động.
Vận dụng lý thuyết hoạt động vào hoạt động dạy học tức là phải coi học sinh là chủ thể của mọi hoạt động học tập (học lý thuyết, học thực hành, thực tập sản xuất, học các hoạt động văn hóa, xã hội...), giáo viên cần phải xây dựng nên nội dung hoạt động đáp ứng yêu cầu của mục tiêu đào tạo thể hiện thành hệ thống những nhiệm vụ cụ thể và tổ chức hoạt động của học sinh thực sự có kết quả.
Bản chất của dạy học định hướng hoạt động là hướng học sinh vào hoạt động giải quyết các vấn đề kỹ thuật hoặc các nhiệm vụ tình huống nghề nghiệp, nhằm chuẩn bị cho học sinh tham gia vào giải quyết các nhiệm vụ nghề nghiệp.
Trọng tâm kiểu dạy học định hướng hoạt động là tổ chức quá trình dạy học mà trong đó học sinh hoạt động để tạo ra một sản phẩm. Thông qua đó phát triển được các năng lực hoạt động nghề nghiệp. Các bản chất cụ thể như sau:
- Dạy học định hướng hoạt động là tổ chức học sinh hoạt động mang tính trọn vẹn, mà trong đó học sinh độc lập thiết kế kế hoạch qui trình hoạt động, thực hiện hoạt động theo kế hoạch và kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động.
- Tổ chức quá trình dạy học, mà trong đó học sinh học thông qua hoạt động độc lập ít nhất là theo qui trình cách thức của họ.
- Học qua các hoạt động cụ thể mà kết quả của hoạt động đó không nhất thiết tuyệt đối mà có tính chất là mở (các kết quả hoạt động có thể khác nhau);
- Tổ chức tiến hành giờ học hướng đến mục tiêu hình thành ở học sinh kỹ năng giải quyết nhiệm vụ nghề nghiệp.
- Kết quả bài dạy học định hướng hoạt động tạo ra được sản phẩm vật chất hay ý tưởng (phi vật chất).
1.3. Cơ sở lý luận dạy học
Về khía cạnh phương pháp dạy học. Giờ học theo kiểu định hướng hoạt động được tổ chức theo qui trình 4 giai đoạn như sau:
1.3.1. Giai đoạn thứ nhất: Đưa ra vấn đề nhiệm vụ bài dạy – Trình bày yêu cầu về kết quả học tập (sản phẩm)
Ở giai đoạn này, giáo viên đưa ra nhiệm vụ bài dạy để học sinh ý thức được sản phẩm hoạt động cần thực hiện trong bài dạy và yêu cầu cần đạt được. Hình thức trình bày rất phong phú và đa dạng, tùy thuộc vào điều kiện và khả năng của giá viên.
Nếu có điều kiện thì tổ chức tình huống học tập (THHT) ngay tại lớp học. Nếu trình huống quá phức tạp thì tổ chức cho lớp học tiếp cận ngay tại hiện trường (tham quan hoc tập), hoặc ghi hình hiện trường rồi trình chiếu lại trên lớp. Nếu không có điều kiện thì đơn giảng chỉ là lời kể lại, mô tả lại của giáo viên bằng lời, bằng hình vẽ hay tranh ảnh tượng trưng. Việc này không đơn giản chỉ để dẫn nhập mà còn có nhiều tác động xuyên suốt bài dạy. Có bài viết riêng về THHT trình bày đầy đủ hơn.
Sản phảm hoạt động càng phức tạp thì thì độ khó đối với học sinh càng lớn. Thông thường, các bài học được bắt đầu với các nhiệm vụ đơn giản. Trong giai đoạn này giáo viên không chỉ giao nhiệm vụ mà còn thống nhất/quán triệt với học sinh về kế hoạch, phân nhóm và cung cấp các thông tin về tài liệu liên quan để học sinh chủ động lĩnh hội trong quá trình thực hiện.
1.3.2. Giai đoạn thứ 2: Tổ chức lập kế hoạch giải quyết vấn đề
Trong giai đoạn này, giáo viên tổ chức cho học sinh thu thập thông tin qua THHT, những gì quan sát được, thâu lượm được, rồi đối chiếu với điều kiện hiện tại. Từ đó xác định cái gì mới chưa biết cần phải học, cái gì đã biết cần vận dụng cái nào khó cần phải hỏi... Như vậy ta thấy THHT đóng vai trò hết sức quan trọng, cho nên xây dựng THHT không phải đơn giản.
Trên cơ sở phân tích THHT giáo viên tổ chức cho HS lập kế hoạt hành động để giải quyết vấn đề đã xuất hiện trong THHT.
Sản phẩm thu được của giai đoạn này là bản kế hoạch thực hiện, mà bản thân nó đã được GV chuẩn bị trước khi vào giờ giảng. Thông thường nó bao gồm danh sách các kỹ năng cần hình thành, qui trình thực hiện từng kỹ năng, định lượng thời gian làm việc cho từng kỹ năng và lượng kiến thức lý thuyết mới chen vào khi thực hiện các qui trình đó. Riêng GV cần lưu ý thời điểm chen phần lý thuyết vào giai đoạn của quá trình hoạt động sao cho khi HS cần GV đáp ứng đúng thời điểm mới có hiệu quả.
Với quan niệm hình thành kỹ năng nghề nghiệp là chính, nên phần hình thành kỹ năng phân tích THHT và lập kế hoạch không dành quá nhiều thời gian để thực hiện, GV chỉ cần trình bày qua nội dung và đưa ra sản phẩm đã chuẩn bị. Việc này được thực hiện nhiều lần sẽ dần hình thành cho HS thói quen phân tích THHT và lập kế hoạch cho bản thân sau này, cũng như HS biết tại sao GV phải có những sản phẩm đó. Trường hợp đặc biệt, muốn phát huy tính tích cực của HS, GV có thể tập trung tổ chức hoạt động này, nhưng điều đó không được khuyến khích trong dạy học tích hợp. Bởi vì, có thể HS có thể xây dựng qui trình khác với qui trình mà dây chuyền sản xuất đang cần. Điều nay trông có vẻ không khoa học nhưng cần thống nhất quan điểm ở đây là chúng ta đang cần những người thợ được đào tạo để làm việc tại những vị trí việc làm mà công việc đã định sẵn, không khác đi được.
1.3.3. Giai đoạn thứ ba: Tổ chức thực hiện theo kế hoạch đã lập
Trong giai đoạn có những việc phải làm là:
- Thao tác mẫu của GV
- Trình bày tổng quát qui trình đã lập
- Thao tác thử của HS
- Đánh giá thao tác thử của HS
Lưu ý các lỗi thường gặp, nguyên nhân và biện pháp khắc phục, phòng tránh.
- Trang bị kiến thức lý thuyết cần thiết.
Tùy theo mức độ đơn giản hay phức tạp của vấn đề đặt ra mà các kỹ năng cần hình thành được tổ chức hợp lý.
a) Nếu vấn đề đơn giản:
GV thao tác mẫu qua một lần, tạo sản phẩm thuyết phục HS, tạo sự tin tưởng và hứng thú HS, Tiếp theo GV chỉ lần trình bày khái quát qui trình nên máy chiếu hay bảng biểu in sẵn, sau đó có thể cho HS thao thử ngay. Khi HS thao tác thử chắc chắn gặp khó khăn, nhân những điểm khó khăn đó mà GV chèn lý thuyết mới vào. Trước khi cho HS luyện tập GV chỉ cần lưu ý một số lỗi thường gặp, phân tích các nguyên nhân và đưa ra khuyến cáo phòng tránh. Cuối cùng cho HS luyện tập, trong lúc luyện tập của HS, tại những điểm mấu chốt, GV chèn thêm một số lý thuyết nữa xem như hoàn chỉnh.
b) Nếu vấn đề tương đối phức tạp:
Cũng thực hiện tương tự như trên nhưng sau khi thao tác mẫu một lần, thu sản phẩm thuyết phục HS rồi không nên mời HS thao tác thử ngay mà GV phải thao tác mẫu thêm lần nữa. Lần thao mẫu này thực hiện chậm và có dừng lại giữa các bước để giải thích rõ về mặt thao tác, về tại sao phải thao tác như vậy mà không làm khác đi... Khi đó có thể chen lý thuyết vào. Các bước tiếp theo tương tự trường hợp trên. Cái khó ở đây là vừa thao tác mẫu phải chen lý thuyết vào như thế nào? Viết bảng, nói miệng hay trình bày trên máy chiếu, bảng biểu treo tường. Việc này phụ thuộc đặc thù của nghề mà áp dụng. Có những nghề ngay khi thao tác, GV không thể viết bảng vì lý dõ vệ sinh, GV không thể nói miệng vì quá ồn hoặc GV phải đeo khẩu trang, mặt nạ... Gặp tình nào cụ thể sẽ bàn sau nhé!
c) Nếu vấn đề khá phức tạp
Đối với trường hợp này GV không thể thao tác mẫu ngay vì HS có tập trung quan sát cũng không lĩnh hội được cái gì, thậm chí còn có suy nghĩ “Ồ phức tạp quá“. Thay vào đó, GV phải:
Trình này tỉ mỉ qui trình thực hiện: Việc này cụ thể là GV phải có bảng qui trình chuẩn với đầy đủ các yêu cầu như thứ tự các bước thực hiện công việc, yêu cầu kỹ thuật đối với từng bước bằng những chỉ số đánh giá cụ thể. Đối với những bước quan trọng, mấu chốt của qui trình, GV phải trình bày tại sao phải thực hiện như vậy, phải chèn lý thuyết vào đúng vị trí đó và đảm bảo HS lĩnh hội được. Nếu còn trừu tượng GV phải có hình ảnh, vật thật... để cụ thể hóa nó ra.
Thực hiện công tác chuẩn bị: Trên cơ sở bước trên, GV tiến hành công tác chuẩn bị trước khi làm mẫu. Chuẩn bị dụng cụ thiết bị, giáo cụ trực quan, vật tư... tổ chức nơi làm việc đảm bảo an toàn, vệ sinh và mỹ quan... Thực hiện phần chuẩn bị sẽ giúp HS hiểu rõ hơn lý thuyết ở phần trên đồng thời giúp GV có điều kiên thao tác mẫu thành công.
Hoàn tất hai nội dung này thì mức độ phức tạp của vấn đề đã được đơn giản hóa, cho nên bước tiếp theo là thực hiện tương tự trường hợp vấn đề đơn giản.
1.3.4. Giai đoạn thứ tư: Tổ chức đánh giá
Bước cuối cùng của dạy học định hướng hoạt động GV tổ chức đánh giá quá trình giải quyết vấn đề. Nội dung đánh giá bao gồm:
Về kỹ năng: Mức độ hình thành các kỹ năng của bài học. Thông qua quá trình theo dõi HS luyện tập GV đã nắm bắt thao tác của từng HS, sản phẩm thu được của các em so với sản phẩm mẫu.
Về kiến thức: Mức độ lĩnh hội các kiến thức lý thuyết mới cũng như mức độ vận dụng kiến thức đã học vào quá trình luyện tập.
Về thái độ: GV đã quan sát thái độ học tập của HS từ giai đoạn đầu đến giai đoạn cuối ra sao, diễn biến tâm lý có đúng như dự đoán của GV không. Thái độ học tập của biểu hiện qua tinh thần học tập hăng say, tích cực hay thụ động, miễn cưỡng... tò mò khoa học, muốn hỏi nhiều điều hay chỉ dừng lại ở thắc mắc trong đầu...
Ngoài ra GV có thể đánh giá thêm về tiến độ thời gian, về độ khó của vấn đề trên tinh thần động viên HS học tốt hơn sau này.
2. Cấu trúc chung của bài giảng tích hợp
Dẫn nhập:
Sản phẩm mong đợi của giai đoạn này là HS xác định được THHT gắn với tình huống sản xuất xảy ra tại vị trí việc làm của họ trong tương lai, với tâm trạng phấn khởi, tò mò khoa học.
Giới thiệu chủ đề:
Sản phẩm mong đợi của giai đoạn này là HS xác định rõ mình cần lĩnh hội kiến thức gì, hình thành kỹ năng gì. Những điều đó được áp dụng tại trí việc làm nào, và có hứng thú, quyết tâm đạt được điều đó.
Giải quyết vấn đề:
- Thao tác mẫu của GV
- Trình bày tổng quát qui trình đã lập
- Thao tác thử của HS
- Đánh giá thao thử của HS
- Lưu ý các lỗi thường gặp, nguyên nhân và biện pháp khắc phục, phòng tránh.
- Trang bị kiến thức lý thuyết cần thiết.
Tổ chức các hoạt động tùy theo mức độ phức tạp của vấn đề đã phân tích ở trên.
Thực hiện các hoạt động tương ứng.
Sản phẩm của giai đoạn này là các thao tác, các kỹ năng nghề nghiệp được hình thành ở từng HS. Các kiến thức lý thuyết được HS lĩnh hội đầy đủ, sâu sắc. Biểu hiện của sản phẩm có thể dưới dạng vật chất (một sản hữu hình), phi vật chất (một quyết định, một dịch vụ, các thao tác kỹ thuật...).
Kết thúc vấn đề: Tổ chức đánh giá trên các mặt:
Kỹ năng;
Kiến thức;
Thái độ;
Các mặt khác.
Thực hiện quá trình tự đánh giá
Sản phẩm cuối cùng:
Những kiến thức mới được HS lĩnh hội đầy đủ, sâu sắc
Những kỹ năng mới được hình thành vững chắc
Những phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cần thiết tương ứng với công việc xuất hiện trong THHT cũng như trong vị trí việc làm trong tương lai.
Biểu hiện cụ thể của sản phẩm:
THHT được giải quyết thuyết phục.
Tinh thần, thái độ học tập của HS vui vẻ, thoải mái, và mong đợi có THHT mới.

17/08/2019

Phương pháp tổ chức dạy thực hành 6 bước

Sau khi học sinh đã hình thành được kỹ năng thực hành nghề qua quá trình học tập, giáo viên có thể sử dụng phương pháp tổ chức dạy thực hành 6 bước để giúp cho học sinh tiếp tục hình thành được kỹ xảo nghề nghiệp dựa trên việc tự lực luyện tập. Phương pháp tổ chức dạy thực hành 6 bước xây dựng trên cơ sở của lý thuyết hoạt động kết hợp với chức năng hướng dẫn và thông tin tài liệu để kích thích học sinh độc lập, hợp tác giải quyết nhiệm vụ học tập. Các bước của phương pháp này gồm:

Bước 1: Thu thập thông tin. Học sinh độc lập thu nhận thông tin để biết nội dung của công việc cần làm.

Bước 2: Lập kế hoạch làm việc. Học sinh độc lập hoặc hợp tác theo nhóm để tự lập kế hoạch làm việc cho công việc cuả cá nhân hay của nhóm.

Bước 3:Trao đổi chuyên môn với giáo viên. Học sinh trao đổi chuyên môn với giáo viên về việc xác định con đường hoàn thành nhiệm vụ, chuẩn bị các phương tiện máy móc…

Bước 4: Thực hiện nhiệm vụ. Bước này học sinh tự tổ chức lao động để thực hiện nhiệm vụ của cá nhân hay của nhóm.

Bước 5: Kiểm tra, đánh giá. Học sinh tự kiểm tra, đánh giá về nhiệm vụ được hoàn thành có đúng như nhiệm vụ đề ra ban đầu.

Bước 6: Tổng kết, rút kinh nghiệm. Học sinh trao đổi chuyên môn để tổng kết kết quả đạt được, xác định những điểm nào cần phát huy, những điểm nào có thể cải tiến để làm tốt hơn cho lần sau.

Phương pháp tổ chức dạy thực hành 6 bước đã tạo điều kiện cho học sinh hoạt động độc lập, học sinh đã thực sự trở thành trung tâm của quá trình dạy học nên có điều kiện phát huy tối đa tinh thần tự lực, nỗ lực bản than. Khi sử dụng phương pháp tổ chức dạy thực hành 6 bước giáo viên chỉ đóng vai trò người quan sát và tư vấn cho học sinh khi họ có nhu cầu.

Trong dạy học thực hành, phương pháp tổ chức dạy 6 bước có thể được áp dụng cho dạy học thực hành nâng cao, thực tập sản xuất và nếu khéo léo có thể sử dụng hiệu quả trong dạy học thực hành các quy trình.

Trong các chương trình dạy nghề hiện nay, tỷ trọng các nội dung học tập thực hành nghề thường chiếm từ 70-80% tổng khối lượng thực hiện của chương trình. Trong đó, các nội dung dạy học thực hành (trong các môn học, mô đun) được xây dựng theo yêu cầu từ thực hành cơ bản, thực hành nâng cao và thực hành sản xuất. Do vậy, trong quá trình tổ chức thực hiện các bài dạy nghề, giáo viên cần căn cứ vào mục tiêu, nội dung và tính chất của các bài dạy để lựa chọn, vận dụng phù hợp các phương pháp tổ chức dạy học đối với các bài thực hành cụ thể nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, nâng cao hiệu quả của bài dạy.

17/08/2019

Phương pháp dạy thực hành 3 bước (thực hành theo quy trình)

Khi HS đã có một số những kỹ năng về hoạt động của nghề, nhằm luyện tập những kỹ năng cao hơn hoặc những kỹ năng cơ bản thì GV sử dụng phương pháp dạy thực hành 3 bước. Kiểu phương pháp dạy thực hành 3 bước có cấu trúc như sau:

Bước 1: Thông tin mở đầu bài dạy

- Ổn định lớp, tạo không khí học tập;

- Gây động cơ học tập;

- Cung cấp thông tin khái quát về bài thực hành, những kiến thức sơ bộ;

- Xác định các nhiệm vụ của HS, các tiêu chuẩn chất lượng (kỹ thuật, quy trình, thời gian);

- Xác định các yêu cầu về chuẩn bị dụng cụ, nguyên vật liệu.

Bước 2: Trình bày lý thuyết và những điều kiện về bài thực hành

- GV trình bày nội dung lý thuyết về công việc thực hành: Trình bày sơ đồ nguyên lý, các bản vẽ kỹ thuật, công nghệ gia công,...

- GV trình bày quy trình hướng dẫn luyện tập. Quy trình hướng dẫn luyện tập có nhiều dạng, song cần phải có những nội dung cơ bản sau:

+ Các điều kiện cần thiết cho việc thực hành;

+ Nội dung các bước thực hiện; hướng dẫn công nghệ; tiêu chuẩn thực hiện từng bước công việc, thời gian; dụng cụ, thiết bị cho từng bước công việc.

- Phân nhóm, giao nhiệm vụ.

- Lưu ý các vấn đề về an toàn, vệ sinh công nghiệp.

Bước 3: Tổ chức luyện tập

- Học sinh luyện tập theo quy trình hướng dẫn.

- Giáo viên quan sát giúp đỡ.

Want your school to be the top-listed School/college in Hanoi?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Website

Address


Số 10 đường Nguyễn Văn Huyên (hoặc Ngõ 86, Phố Chùa Hà), Phư
Hanoi
04