17/02/2025
"拍马屁" (pāi mǎ pì) trong tiếng Trung có nghĩa là "nịnh hót" hay "tâng bốc" ai đó một cách quá mức, thường để cầu lợi hoặc nhận được sự ưu ái. Từ này xuất phát từ hình ảnh vỗ về mông ngựa (马屁), một hành động giả vờ để làm hài lòng người khác.
为什么讨好别人叫做拍马屁,而不是拍牛屁,拍猪屁呢?
Wèishénme tǎohǎo biérén jiào zuò pāi mǎpì, ér bú shì pāi niúpì, pāi zhūpì ne?
Tại sao nịnh nọt người khác lại gọi là "vỗ mông ngựa" mà không phải "vỗ mông bò" hay "vỗ mông heo"?
难道马屁比较香?
Nándào mǎpì bǐjiào xiāng?
Chẳng lẽ mông ngựa thơm hơn sao?
其实拍马这个词最开始并不表示奉承。
Qíshí, pāi mǎ zhège cí zuì kāishǐ bìng bù biǎoshì fèngchéng.
Thực ra, từ "拍马" (pāi mǎ - vỗ ngựa) ban đầu vốn không mang ý nghĩa nịnh bợ.
它只是古时候蒙古人打招呼的方式。
Tā zhǐshì gǔ shíhòu Ménggǔrén dǎ zhāohū de fāngshì.
Đó chỉ là một cách chào hỏi của người Mông Cổ thời xưa.
《Trong văn hóa du mục của người Mông Cổ thời xưa, ngựa là tài sản vô cùng quan trọng. Khi gặp nhau, họ thường vỗ nhẹ vào mông ngựa của đối phương như một cách thể hiện sự thân thiện và chào hỏi.
Sau này, khi truyền vào văn hóa Hán, hành động "拍马" (pāi mǎ - vỗ ngựa) dần được hiểu theo nghĩa lấy lòng, nịnh bợ, và kết hợp với từ "屁" (pì - mông) để tạo thành cụm từ "拍马屁", mang ý nghĩa tiêu cực như ngày nay.》
内蒙地域很广,快递都不包邮的那种,而且路崎岖,不好走。
Nèiméng dìyù hěn guǎng, kuàidì dōu bù bāoyóu de nà zhǒng, érqiě lù qíqū, bù hǎo zǒu.
Nội Mông có diện tích rất rộng, giao hàng không được miễn phí vận chuyển, hơn nữa đường xá còn gập ghềnh, khó đi.
于是马就成为了重要的交通工具。
Yúshì mǎ jiù chéngwéi le zhòngyào de jiāotōng gōngjù.
Thế nên, ngựa đã trở thành phương tiện giao thông quan trọng.
游牧民族常以养的骏马为荣,就像现在人买豪车一样。有事没事,牵出去溜一下。
Yóumù mínzú cháng yǐ yǎng de jùnmǎ wéi róng, jiù xiàng xiànzài rén mǎi háochē yīyàng. Yǒu shì méi shì, qiān chūqù liū yīxià.
Các dân tộc du mục thường tự hào về những con ngựa tốt mà họ nuôi, giống như người ngày nay mua xe sang vậy. Có việc hay không có việc, họ cũng mang xe ra ngoài lượn vài vòng.
“这是我的宝马,是我最好的朋友。我骑着它,走出了草原,看到了更大的草原。”
Zhè shì wǒ de bǎomǎ, shì wǒ zuì hǎo de péngyǒu. Wǒ qí zhe tā, zǒu chūle cǎoyuán, kàn dàole gèng dà de cǎoyuán.
“Đây là con ngựa quý của tôi, là người bạn tốt nhất của tôi. Tôi cưỡi nó đi ra khỏi thảo nguyên và nhìn thấy một thảo nguyên rộng lớn hơn.”
如果遇到游牧牵着马都会被对方拍拍马屁股,随口夸上几句来博得马主人的欢心。
Rúguǒ yù dào yóumù qiān zhe mǎ dōu huì bèi duìfāng pāi pāi mǎ pìgu, suí kǒu kuā shàng jǐ jù lái bó dé mǎ zhǔrén de huānxīn.
Nếu gặp người du mục đang dắt ngựa, họ thường sẽ vỗ vào mông ngựa, rồi khen vài câu để làm vừa lòng chủ ngựa.
“真是好马呀!零油耗性能高。一看就特别省草啊。”
“Zhēn shì hǎo mǎ ya! Líng yóu hào xìngnéng gāo. Yī kàn jiù tèbié shěng cǎo a.”
Quả thật là một con ngựa tốt! Tiết kiệm năng lượng, hiệu suất cao. Nhìn là biết rất tiết kiệm cỏ rồi.
《零油耗性能高 (líng yóu hào xìngnéng gāo) có thể dịch là "hiệu suất cao, không tiêu tốn dầu" hoặc "không tiêu thụ dầu, hiệu suất cao".
Trong ngữ cảnh này, đây là một cách nói đùa, thường được dùng để khen ngựa là "không cần ăn cỏ nhiều" hoặc "tiết kiệm", giống như các phương tiện tiết kiệm nhiên liệu. Câu này mang tính hài hước, so sánh ngựa với các đặc tính của một phương tiện tiết kiệm nhiên liệu, như xe hơi điện hoặc tiết kiệm nhiên liệu.》
“哪里哪里!你的汗血宝马颜色也不错。”
Nǎlǐ nǎlǐ! Nǐ de huànxuè bǎomǎ yánsè yě bú cuò.
“Đâu có đâu có! Màu sắc của con ngựa Đại Uyên của bạn cũng rất đẹp.”
《Ngựa Đại Uyên (汗血马, hàn xuè mǎ) là một giống ngựa nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc, đặc biệt là trong văn hóa dân gian. Chúng được gọi là "ngựa huyết mạch" do đặc điểm nổi bật là mồ hôi của chúng có màu đỏ như máu (màu huyết), và do sự mạnh mẽ, nhanh nhẹn vượt trội của chúng.
Ngựa Đại Uyên có nguồn gốc từ các khu vực Trung Á và được cho là giống ngựa quý hiếm, mạnh mẽ, được các hoàng đế và tướng quân Trung Quốc xưa rất ưa chuộng trong chiến tranh và cưỡi để thể hiện sự quyền lực. Giống ngựa này được mô tả trong nhiều tác phẩm văn học và sử liệu cổ, tượng trưng cho sức mạnh và sự quý giá.》
于是拍马屁就渐渐成了奉承。
Yúshì pāi mǎ pì jiù jiànjiàn chéngle fèngchéng.
Vì vậy, việc vỗ mông ngựa dần dần trở thành hành động nịnh hót.
蒙古族的官员大多也都养马,下级看到领导,更是少不了拍马屁。
Měnggǔ zú de guānyuán dàduō yě dōu yǎng mǎ, xiàjí kàn dào lǐngdǎo, gèng shì shǎo bù liǎo pāi mǎ pì.
Hầu hết các quan viên Mông Cổ cũng nuôi ngựa, khi cấp dưới nhìn thấy lãnh đạo, thì càng không thiếu việc nịnh hót.
《Người Mông Cổ có truyền thống nuôi và cưỡi ngựa, coi ngựa là một phần không thể thiếu trong đời sống và văn hóa. Trong xã hội phong kiến và quan trường, việc nịnh bợ cấp trên để có lợi ích hoặc thăng tiến rất phổ biến. Câu này ám chỉ rằng ở môi trường quan chức Mông Cổ, cũng như việc nuôi ngựa là phổ biến, thì việc nịnh bợ lãnh đạo cũng là chuyện thường xuyên. Câu nói này không chỉ đơn thuần nói về việc nuôi ngựa, mà còn là một lời châm biếm sâu cay về thói xu nịnh trong xã hội.》
“领导,你这匹马萨拉蒂,大气非凡,一看就特别符合您的气质。”
Lǐngdǎo, nǐ zhè pǐ mǎ sàlādì, dàqì fēifán, yī kàn jiù tèbié fúhé nín de qìzhí.
“Sếp ơi, con ngựa Maserati của anh thật uy nghiêm, khí thế phi phàm, nhìn là thấy rất phù hợp với phong thái của anh.”
《Câu này là một ví dụ điển hình của việc "vỗ ngựa" (nịnh hót), ở đây là nịnh lãnh đạo bằng cách khen chiếc xe Maserati của họ, so sánh với một con ngựa quý giá và uy nghiêm, phù hợp với khí chất của người sở hữu.》
“哪里哪里!你小子有眼力见,未来可期。”
Nǎlǐ nǎlǐ! Nǐ xiǎozi yǒu yǎnlì jiàn, wèilái kě qī.
“Đâu có đâu có! Cậu nhóc này thật tinh mắt, tương lai rất sáng ngời.”
所谓是大拍马,大成功;小拍马,小成功。
Suǒwèi shì dà pāi mǎ, dà chénggōng; xiǎo pāi mǎ, xiǎo chénggōng.
Thế nên mới có câu "vỗ ngựa lớn, thành công lớn; vỗ ngựa nhỏ, thành công nhỏ."
《Nịnh bợ nhiều thì thành công lớn, nịnh bợ ít thì thành công nhỏ.》
随着蒙古建立元朝,拍马屁文化渗透汉文化中,慢慢变成阿谀奉承的代名词。
Suízhe Měnggǔ jiànlì Yuán cháo, pāi mǎ pì wénhuà shèntòu Hàn wénhuà zhōng, màn man biàn chéng ā yú fèngchéng de dàimíngcí.
Khi người Mông Cổ lập ra triều đại Nguyên, văn hóa vỗ mông ngựa đã thẩm thấu vào văn hóa Hán, dần dần trở thành từ thay thế cho nịnh hót, xu nịnh.
拍马屁更是职场人,苦学的一门高深学问。
Pāi mǎ pì gèng shì zhíchǎng rén, kǔ xué de yì mén gāoshēn xuéwèn.
Vỗ mông ngựa (nịnh hót) càng là một “ kiến thức uyên thâm” mà người trong môi trường công sở phải khổ công học hỏi.
“厉害啊菲特!你懂得真多。”
Lìhài a Fēitè! Nǐ dǒng de zhēn duō.
“Tuyệt vời lắm, Phi Đặc! Bạn thật là hiểu biết.”
“哪里哪里!我菲某人能有今天都是一步一个马屁。”
Nǎlǐ nǎlǐ! Wǒ Fēi mǒu rén néng yǒu jīntiān dōu shì yí bù yí gè mǎ pì.
“Đâu có đâu có! Tôi, Phi mỗ, được như ngày hôm nay đều nhờ từng bước nịnh hót mà có.”
“我对您的钦佩,真是犹如滔滔江水,延绵不绝。”
Wǒ duì nín de qīnpèi, zhēn shì yóurú tāotāo jiāngshuǐ, yánmián bù jué~
“Em rất ngưỡng mộ sếp, giống như dòng sông cuồn cuộn, chảy mãi không ngừng.”