Giáo dục trẻ thông minh sớm Thanh Hóa

Giáo dục trẻ thông minh sớm Thanh Hóa Nơi giao lưu chia sẻ các phương pháp giáo dục trẻ thông minh sớm tại Thanh Hóa

01/03/2015

Các bạn Kích vào CC dưới video để chọn phụ đề nhé... Nội dung: Ishaan Nandkishore Awasthi (Darsheel Safary) là một cậu bé tám tuổi, cạu không thích trường họ...

Phương pháp thai giáo, giáo dục con từ trong bụng!
03/02/2015

Phương pháp thai giáo, giáo dục con từ trong bụng!

Phương Pháp Thai Giáo, Dạy con từ trong bụng mẹ với Ths. Phạm Thị Thuý

31/12/2014

"Giáo dục sớm là sớm giáo dục, giáo dục sớm cho trẻ là phương pháp tồn tại khách quan đối với thai nhi, trẻ sơ sinh & trẻ nhỏ. Cho dù bạn có tán thành hay không, có thừa nhận hay không, có tin hay không? . Phương pháp giáo dục mà hàng ngày chúng ta đang dạy trẻ nếu không có ý thức thi là giáo dục vô thức; nếu không giáo dục tự giác thì là giáo dục tự phát; nếu không toàn diện thì là phiến diện; nếu không khoa học thì là phản khoa học...." - Phương Án 0 Tuổi -

08/10/2014

Ken Robinson bàn về giáo dục và tài năng trẻ em

Tất cả trẻ em đều có tài năng, nhưng dường như chính hệ thống giáo dục hiện nay đang triệt tiêu dần khả năng sáng tạo của các em. — Ken Robinson, cựu chủ tịch ủy ban cố vấn về giáo dục văn hóa và sáng tạo của chính phủ Anh.

Tất cả trẻ em đều tài năng

Cuộc hội thảo này có ba chủ đề chính xuyên suốt. Thứ nhất là bằng chứng đáng kinh ngạc về sức sáng tạo của con người cũng như sự đa dạng và phạm vi của nó.

Thứ hai là chính điều đó đặt chúng ta vào một vị trí mà chúng ta không có một ý niệm gì về những chuyện sẽ xảy ra trong tương lai, không tưởng tượng được mọi thứ sẽ diễn ra như thế nào.

Chúng ta có sự quan tâm lớn đối với giáo dục vì nó ảnh hưởng sâu sắc tới chúng ta, giống như tôn giáo, tiền bạc và những thứ thiết yếu khác vậy. Đó là phương tiện để đưa chúng ta tới một tương lai mà ta chưa thể nắm bắt được.

Hãy nghĩ mà xem, những đứa trẻ bắt đầu đi học năm nay sẽ nghỉ hưu vào năm 2065. Không ai trong chúng ta biết thế giới sẽ ra sao trong năm năm tới. Vậy mà bằng bất cứ giá nào, chúng ta vẫn phải giáo dục bọn trẻ cho tương lai.

Và vì thế, chủ đề thứ ba của hội thảo này sẽ là về khả năng sáng tạo đặc biệt của trẻ em.

Luận điểm của tôi là, tất cả trẻ em đều rất tài năng. Nhưng chúng ta đã phung phí điều đó một cách không thương tiếc.

Bởi thế, tôi muốn nói đến giáo dục và khả năng sáng tạo. Luận điểm của tôi trong vấn đền này là ngày nay tính sáng tạo trong giáo dục cũng quan trọng như khả năng biết đọc, biết viết vậy. Và chúng ta cần quan tâm tới chúng ở mức độ ngang nhau.

Mới đây, tôi đã được nghe kể một câu chuyện rất thú vị về một cô bé trong giờ học hội họa.

Chuyện 1:

Cô bé 6 tuổi và ngồi ở cuối lớp, hí hoáy vẽ. Giáo viên nói rằng cô bé hiếm khi chịu tập trung chú ý, nhưng trong giờ học hôm nay thì lại khác hẳn.

Cô giáo thấy tò mò nên hỏi: Em đang vẽ gì thế?.

Cô bé trả lời, “Em đang vẽ Chúa trời ạ.”

Cô giáo lại nói “Nhưng không ai biết Chúa trời trông như thế nào cả.”

Và cô bé hồn nhiên đáp: “Họ sẽ biết trong một phút nữa thôi ạ”.

Chuyện 2:

Khi con trai tôi bốn tuổi, nó có một vai trong vở kịch “Truyền thuyết sự ra đời của Chúa”. Chúng tôi ngồi phía dưới, và tôi nghĩ chúng bị sai kịch bản, bởi chúng đã tự đổi thứ tự cho nhau.

Đến đoạn khi ba vị vua tiến mang theo vàng, hương trầm và nhựa thơm, cậu bé đầu tiên nói, “Tôi xin dâng tặng ngài vàng.” Cậu bé thứ hai nói, “Tôi xin dâng tặng ngài … (ậm ừ, vì không nhớ lời thoại)”. Và cậu bé thứ ba nhanh nhảu: “Frank đã gửi cái này.”

Điểm chung của những câu chuyện này là trẻ con sẽ luôn làm những điều chúng nghĩ. Nếu chúng không biết, chúng vẫn cứ thử làm mà không hề sợ sai.

Tôi không có ý nói rằng sai đồng nghĩa với sáng tạo. Nhưng điều mà chúng ta biết đó là, nếu bạn không sẵn sàng mắc lỗi, bạn sẽ không bao giờ có thể sáng tạo ra cái gì đó nguyên bản.

Giáo dục “giết”khả năng sáng tạo?

Đến khi trở thành người lớn, phần lớn lũ trẻ mất đi khả năng đó. Chúng trở nên sợ bị mắc lỗi. Chúng ta đang điều hành các công ty cũng theo kiểu như vậy. Chúng ta kiểm điểm những sai lầm. Và hiện nay, chúng ta đang vận hành các hệ thống giáo dục quốc gia mà ở đó, lỗi lầm là thứ tồi tệ nhất bạn có thể gây ra.

Kết quả là chúng ta đang giáo dục con người triệt tiêu khả năng sáng tạo của họ. Picasso đã từng nói rằng tất cả mọi đứa trẻ khi sinh ra đều là nghệ sĩ. Nhưng làm thế nào để vẫn là một nghệ sĩ khi ta trưởng thành mới là vấn đề.

Tôi tin tưởng chắc chắn một điều rằng: Càng lớn lên, chúng ta càng mất dần khả năng sáng tạo. Hoặc là chúng ta được giáo dục để đánh mất nó. Vậy tại sao lại như vậy?

Nếu bạn đã từng đi vòng quanh thế giới thì bạn sẽ thấy ngạc nhiên rằng: Tất cả mọi hệ thống giáo dục trên trái đất đều có chung một thứ tự ưu tiên các môn học. Các môn học đầu bảng sẽ là toán và ngôn ngữ, sau đó là khoa học nhân văn, và cuối cùng là các môn nghệ thuật.

Và trong phần lớn các hệ thống giáo dục đó, bản thân bộ môn nghệ thuật cũng có thứ tự ưu tiên riêng. Ở các trường phổ thông, mỹ thuật và âm nhạc thường được chú trọng hơn là kịch và khiêu vũ.

Không có một hệ thống giáo dục nào trên hành tinh này mà dạy trẻ em khiêu vũ mỗi ngày giống như cách dạy mà chúng ta dạy bọn trẻ môn toán học. Tại sao?

Tôi nghĩ môn toán quan trọng nhưng khiêu vũ cũng vậy. Trẻ em sẽ nhảy múa cả ngày nếu chúng được phép, và tất cả chúng ta đều thế. Tất cả chúng ta đều có thân thể, phải không? Nhưng khi bọn trẻ lớn lên chúng ta bắt đầu giáo dục chúng càng ngày càng tăng dần từ phần thắt lưng trở lên. Sau đó tập trung vào cái đầu và lệch dần về một bên.

Giáo dục đại học sản xuất ra công nhân và giáo sư

Nếu bạn nhìn nhận về giáo dục ở trong vai là một người ngoài hành tinh, và bạn thắc mắc “Giáo dục công” để làm gì?”. Nếu bạn nhìn vào đầu ra, ai thực sự sẽ thành công bởi những điều này, ai làm được những thứ mà họ nên làm, ai được khen thưởng, ca ngợi, ai là người chiến thắng – tôi nghĩ bạn sẽ kết luận được rằng, mục đích của hệ thống giáo dục công lập trên toàn thế giới là sản xuất ra những giáo sư đại học.

Đó là những người đứng đầu. Tôi cũng đã từng là một trong số đó. Và tôi cũng yêu mến các vị giáo sư đại học, nhưng quý vị biết đấy, chúng ta không nên coi họ là đỉnh điểm cao nhất trong mọi thành tựu của loài người.

Họ chỉ một hình thái khác của cuộc sống. Có một điều kỳ lạ về các giáo sư, theo kinh nghiệm của tôi, không phải tất cả, nhưng rất điển hình, là họ sống trong đầu họ. Họ sống trên đó, và hơi lệch về một bên. Tâm trí họ tách rời khỏi thể xác, có thể hiểu theo nghĩa đen. Họ coi thân thể của mình như một loại phương tiện di chuyển cho cái đầu của họ, phải vậy không? Như là một cách để đầu của họ đến các cuộc họp.

Hệ thống giáo dục hiện nay dựa trên quan niệm về khả năng học thuật. Và nó có lý do của nó. Toàn bộ hệ thống được thiết lập khắp thế giới, và không hề có một hệ thống giáo dục công nào, trước thế kỷ 19.

Chúng ra đời, để đáp ứng nhu cầu của công nghiệp hóa.Thế nên thứ tự ưu tiên đó bắt nguồn từ hai quan điểm. Điều thứ nhất, những môn nào hữu dụng nhất cho các nhóm công việc hàng đầu. Vì thế bạn có thể bị lái đi dần dần khỏi những thứ mà bạn thích khi còn bé, bởi vì bạn lo sợ rằng có thể bạn không bao giờ tìm được việc gì liên quan đến nó.

Đừng theo âm nhạc, bạn sẽ không trở thành nhạc sĩ đâu. Đừng vẽ vời gì cả, bởi rốt cuộc bạn cũng sẽ chẳng là một hoạ sĩ được. Những lời khuyên chân thành ấy đã tạo nên những sai lầm nghiêm trọng. Và kết quả là cả thế giới bị cuốn theo cuộc cách mạng công nghiệp.

Tư duy lại về trí thông minh

Trí thông minh rất dễ nhận thấy, nhưng không phải ai cũng biết con mình có một tài năng xuất chúng. Trong phần tiếp theo của bài thuyết trình “giáo dục triệt tiêu khả năng sáng tạo,” diễn giả Ken Robinson nêu những quan niệm về tương lai của giáo dục, nhìn nhận lại “trí thông minh”.

Lạm phát bằng cấp

Bên cạnh quan điểm “môn học nào hữu dụng nhất cho các nhóm công việc hàng đầu”, thì quan điểm thứ hai ảnh hưởng đến thự tự ưu tiên các môn học trong nhà trường chính là khả năng học thuật.

Đây là một phạm trù đã ngự trị trong cách nhìn nhận của chúng ta về trí thông minh, bởi các trường đại học đã vạch ra hệ thống này theo ý niệm của họ.

Toàn bộ hệ thống giáo dục công trên thế giới là một quá trình kéo dài để dẫn tới cổng trường đại học. Và hậu quả là rất nhiều người tài năng, thông minh, sáng tạo không được mọi người nhìn nhận và đánh giá đúng. Bởi những khả năng mà họ thể hiện ở trường học lại bị cho là không có giá trị gì, thậm chí còn bị bêu xấu.

Và tôi nghĩ chúng ta không thể cứ tiếp tục như vậy.

Trong 30 năm tới, theo UNESCO, số người tốt nghiệp các trường lớp trên toàn thế giới sẽ lớn nhất trong lịch sử. Bỗng nhiên, bằng cấp sẽ không còn giá trị nữa. Thời tôi còn là sinh viên, nếu bạn có bằng, bạn sẽ có được một công việc. Còn nếu bạn không có, nghĩa là vì bạn không muốn có!

Nhưng bây giờ những bạn trẻ có bằng cấp, thường quay về nhà, tiếp tục chơi điện tử. Bởi vì một công việc mà trước đây chỉ đòi hỏi bằng cử nhân, thì bây giờ lại yêu cầu phải có bằng thạc sĩ. Thậm chí, bây giờ bạn cần có cả bằng tiến sĩ để làm một số công việc khác.

Đó là một quá trình lạm phát học thuật. Và nó chỉ ra toàn bộ cấu trúc của giáo dục đang trượt xuống dưới chân chúng ta. Chúng ta cần suy nghĩ lại một cách căn bản và triệt để về trí thông minh.

Ba điều về trí thông minh

Chúng ta biết ba điều về trí thông minh. Thứ nhất, nó đa dạng. Chúng ta suy nghĩ về thế giới theo mọi cách mà chúng ta trải nghiệm nó. Ta suy nghĩ bằng trực quan, bằng âm thanh, và bằng tất cả những vận động của cơ thể ta. Ta suy nghĩ qua ngôn ngữ trừu tượng và qua cả những biến đổi xung quanh.

Thứ hai, trí thông minh rất năng động. Nếu bạn để ý đến sự tương tác của não bộ thì có thể thấy trí thông minh tương tác một cách diệu kỳ. Bộ não không chia thành các phần tách biệt.

Thật ra, tính sáng tạo, mà tôi định nghĩa như một quá trình sở hữu những ý tưởng nguyên bản có giá trị, thường xảy ra trong quá trình tương tác của những cách thức rèn luyện trí óc khác nhau khi nhìn nhận một vấn đề.

Và điều thứ 3 về trí thông minh, đó là sự khác biệt.

Phát hiện tài năng xuất chúng

Tôi đang viết một cuốn sách dựa trên một loạt phỏng vấn với nhiều người, về việc họ phát hiện ra tài năng của mình ra sao. Tôi bị mê hoặc bởi cách họ khám phá điều đó.

Nó được thôi thúc bởi một lần nói chuyện với một phụ nữ tuyệt vời tên là Gillian Lynne. Cô ấy là nghệ sĩ múa và mọi người đều biết các tác phẩm của cô.

Khi tôi hỏi: “Gillian, cô trở thành nghệ sĩ múa như nào?”, cô ấy nói điều đó khá thú vị. Vào những năm 30, khi cô còn học ở nhà trường, cô cảm thấy rất tuyệt vọng. Và nhà trường đã gửi thư cho bố mẹ cô và phàn nàn: Chúng tôi nghĩ Gillian bị rối loạn trong chuyện học hành.” Gillian không thể tập trung và luôn bồn chồn, đứng ngồi không yên.

Tôi nghĩ bây giờ người ta sẽ nói cô ấy bị rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD). Nhưng đó là năm 1930, và khái niệm ADHD còn chưa ra đời lúc đó. Người ta đã không nhận thức được rằng con người có thể có triệu chứng đó.

Trở lại câu chuyện, cô ấy được mẹ dẫn đi gặp một bác sĩ chuyên khoa. Gillian được dẫn tới ngồi trên một chiếc ghế cuối phòng, và cô ấy nhấp nhổm suốt 20 phút trong khi vị bác sĩ nói chuyện với mẹ cô về mọi vấn đề mà Gillian gặp phải ở trường như luôn làm phiền mọi người, bài tập về nhà luôn nộp muộn… và rất nhiều những rắc rối khác của một đứa bé 8 tuổi.

Cuối cùng, vị bác sĩ tới ngồi cạnh Gillian và nói, “Gillian, ta đã nghe mọi chuyện mà mẹ cháu đã kể, và ta cần nói chuyện riêng với bà ấy.” Ông ấy nói tiếp: “Cháu hãy đợi ở đây, chúng ta sẽ quay lại, không lâu đâu” và họ rời khỏi phòng, để cô ấy lại. Nhưng trước khi họ bước ra, ông bác sĩ bật chiếc đài đặt trên bàn của ông ấy.

Khi hai người đã ra khỏi phòng, ông ấy nói với mẹ cô, “Hãy đứng và xem con bé.” Và Gillian kể rằng, giây phút họ rời khỏi phòng, cô ấy đứng dậy, bắt đầu di chuyển theo nhạc. Hai người họ đứng theo dõi vài phút, rồi ông bác sĩ quay sang mẹ cô và nói, “Bà Lynne, Gillian không bị bệnh, cô bé là một nghệ sĩ múa.” Hãy để cô bé theo học trường múa”.

Và mẹ cô đã làm theo lời của bác sỹ. “Tôi không thể diễn tả điều tuyệt vời đó. Chúng tôi bước vào căn phòng có toàn những người như tôi. Những người không thể ngồi yên. Những người phải di chuyển để suy nghĩ”, Gillian chia sẻ.

Cô ấy đã thi vào trường múa balê hoàng gia, rồi trở thành vũ công, với những thành tích tuyệt vời ở ngôi trường danh tiếng này. Sau khi tốt nghiệp, cô còn thành lập công ty riêng của mình hoạt động về lĩnh vực mà cô yêu thích. Cô ấy chịu trách nhiệm sản xuất những vở nhạc kịch thành công nhất trong lịch sử, cô ấy đã đem lại niềm vui cho hàng triệu người và hơn nữa cô còn là một triệu phú. Vậy mà, một ai khác có thể đã bắt cô điều trị bệnh và yêu cầu cô phải học cách điềm tĩnh.

Tôi tin rằng niềm hy vọng duy nhất cho tương lai là tiếp nhận một quan niệm mới về nhân sinh học, mà trong đó chúng ta bắt đầu xây dựng lại nhận thức của chúng ta về khả năng dồi dào của con người.

Hệ thống giáo dục của chúng ta đã định hướng suy nghĩ của chúng ta theo hướng bóc lột Trái Đất để đạt được những tiện nghi đặc biệt. Và trong tương lai, nó sẽ không thể đáp ứng được chúng ta nữa. Chúng ta phải nghĩ lại những nguyên tắc nền tảng mà dựa trên đó chúng ra đang dạy dỗ thế hệ trẻ.

Có một câu nói tuyệt vời của Jonas Salk rằng “Nếu tất cả côn trùng biến mất khỏi trái đất, trong vòng năm mươi năm sự sống trên Trái Đất sẽ chấm dứt.Nếu tất cả loài người biến mất khỏi trái đất, trong vòng năm mươi năm tất cả sự sống sẽ sum xuê.” Và ông ấy nói đúng.

Điều mà TED đề cao là khả năng tưởng tượng của con người. Chúng ta giờ đây phải sử dụng khả năng này một cách cẩn trọng, thông thái. Cách duy nhất chúng ta có thể làm điều đó là thấy được sự dồi dào của khả năng sáng tạo của chúng ta, và thấy được niềm hy vọng vào thế hệ trẻ.

Nhiệm vụ của chúng ta là giáo dục chúng một cách toàn diện, để chúng có thể đối mặt được với tương lại. Mặc dù có thể chúng ta không được chứng kiến tương lai này, nhưng thế hệ trẻ sẽ được. Và trách nhiệm của chung ta là giúp đỡ chúng làm được điều gì có ích cho tương lai đó.

Cám ơn các bạn rất nhiều!

Nguồn: Vietnamnet

08/10/2014

“Việc giáo dục con cái phải được bắt đầu ngay từ khi trí tuệ đứa trẻ bắt đầu hé sáng”

Dạy ngôn ngữ là then chốt

Muốn phát huy thật sớm năng lực của trẻ, trước hết cần phải làm gì? Căn cứ vào kinh nghiệm dạy con của mình, Weter bố cho rằng, dạy trẻ học ngôn ngữ từ sớm là điều vô cùng quan trọng. Bởi lẽ, ngôn ngữ là công cụ tiếp thu tri thức, nếu không có công cụ đó sẽ không có được bất cứ tri thức nào. Chúng ta sở dĩ vượt lên trên các động vật khác và có được sự tiến bộ như ngày nay là vì chúng ta có ngôn ngữ mà không một động vật nào có được. Vì vậy, nếu trẻ không nắm được ngôn ngữ thật sớm sẽ không thể nào phát huy tốt mọi năng lực của mình. Cho nên, để giúp trẻ phát huy đầy đủ mọi năng lực, cần giúp trẻ nắm vững thật sớm công cụ ngôn ngữ.

Qua việc dạy trẻ học ngôn ngữ, Weter bố rút ra một số phương pháp sau đây:

1. Dạy từ ngữ nên bắt đầu từ những sự vật gần gũi xung quanh. Học ngoại ngữ tất phải nhớ nhiều từ. Nhưng nếu chỉ chăm chăm nhớ thật nhiều từ, nhiều khi học trước quên sau. Muốn nhớ nhiều từ, phải chăm đọc sách, ghi nhớ những từ gặp trong lúc đọc. Thông qua những cuộc nói chuyện về những dụng cụ trên bàn ăn, về cách sắp xếp trong phòng, về hoa cỏ, cây cảnh, động vật trong vườn, Weter bố dạy con phát âm và ý nghĩa của các từ đơn. Cứ thế dần dần, mỗi ngày một ít, mới đầu đơn giản, sau khó dần lên, kiên trì đều đặn, kết quả không ngờ.

2. Cho trẻ làm quen với thế giới thông qua những câu chuyện kể.

Khi Weter con đã bắt đầu nghe hiểu được, bé hàng ngày được bố mẹ kể chuyện cho nghe. Theo ý kiến người cha, đối với trẻ nhỏ, không có gì quan trọng bằng những câu chuyện kể. Bởi trẻ là người khách lạ đối với thế giới này. Cần cho trẻ làm quen với thế giới, càng sớm chừng nào càng hay chừng ấy. Mà muốn cho trẻ làm quen với thế giới không gì bằng những câu chuyện kể. Nhờ vậy mà, khi Weter con 5-6 tuổi, em đã nhớ được khoảng ba vạn từ. Đó là một con số đáng ngạc nhiên ngay đối với cả một học sinh trung học.

3. “Võ trang” đầu óc trẻ thơ bằng những từ trong sáng.

Trong việc dạy ngôn ngữ, Weter bố đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc dạy ngôn ngữ tiêu chuẩn ngay từ những bước đầu. Weter bố phát âm rõ ràng cho con nghe, kiên nhẫn dạy con tiếng Đức tiêu chuẩn. Ông tin chắc một điều: muốn có được một đầu óc sáng láng, trước hết phải có được những từ trong sáng. Trong gia đình, ông nghiêm khắc không cho mọi người nói “tiếng lóng”, “tiếng địa phương” là lãng phí thời gian. Ông chỉ dạy bé tiếng Đức tiêu chuẩn, bởi vì chỉ có phát âm chuẩn mới giúp bé đọc hiểu dễ dàng những điều viết trong sách.

Ba tuổi rưỡi bắt đầu dạy chữ, nhưng tuyệt đối không cưỡng bức

Ba tuổi rưỡi, ông bố bắt đầu dạy con học chữ, nhưng tuyệt đối không cưỡng bức. Đó là nguyên tắc giáo dục của ông. Bằng mọi cách, trước hết ông khơi gợi hứng thú ở đứa con. Chỉ khi bé hứng thú, ông mới bắt đầu dạy bé. Dạy đọc sách cũng vậy, ông đặt trọng tâm dạy bé hứng thú đọc sách, dùng những lời lẽ dịu dàng khích lệ tâm hồn của bé. Chẳng hạn, khi mua cho con những truyện tranh hấp dẫn hoặc những cuốn sách nhỏ xinh xinh, ông nói với bé: “Nếu con biết chữ, con sẽ đọc hiểu hết những cuốn sách này!”. Đôi lúc, ông lại tỏ ra không muốn kể những truyện tranh lý thú đó cho con nghe. Ông nói: “Những truyện tranh này hay lắm, nhưng bố chẳng có thì giờ kể con nghe”. Làm như vậy ngược lại ông khơi dậy ở trong bé ước muốn và khát vọng nhất định phải đọc bằng được những cuốn sách cuốn hút như những câu chuyện cổ tích kia. Tới lúc đó ông mới bắt đầu dạy con học chữ.



Dạy những tiếng nước ngoài gần gũi trên cơ sở đọc thông tiếng mẹ đẻ

Ngôn ngữ phương Tây, cho dù là tiếng Đức, tiếng Anh, tiếng Ý, tiếng Pháp, ít nhiều đều có những điểm tương đồng. Vì vậy, sau khi đọc thông thạo tiếng Đức, Weter bố bắt đầu dạy con tiếng Pháp. Lúc ấy bé mới vừa 6 tuổi. Chỉ sau một năm trời, bé đã có thể đọc lưu loát các cuốn sách viết bằng tiếng Pháp. Sở dĩ bé học nhanh như thế vì vốn tiếng Đức của bé lúc này vô cùng phong phú.

Sau khi nắm vững tiếng Pháp, ông bố lập tức dạy con tiếng Ý. Chỉ sau 6 tháng, Weter con đã đọc thông tiếng Ý. Lúc này ông thấy có thể bắt đầu dạy con tiếng Latinh.

Ở các nước phương Tây người ta quy định học tiếng nước ngoài trước hết bắt đầu từ tiếng Latinh. Nhưng Weter bố không theo thông lệ đó. Theo ông, làm như thế là miễn cưỡng. Chỉ có bắt đầu nói tiếng Pháp, một ngôn ngữ rất gần gũi với tiếng Đức, mới hợp logic. Ông tuân theo nguyên tắc đi từ dễ đến khó. Đối với trẻ em phương Tây, tiếng Latinh tương đối khó, được mệnh danh là “thứ tiếng đau đầu”. Vì thế, trước khi học tiếng Latinh, ông bố kể cho con nghe về những tình tiết của câu chuyện, về tư tưởng cao siêu, về lời văn bóng bẩy, trang nhã của tác phẩm “Enéide” của nhà thơ Latinh Virgile, nhằm khơi gợi hứng thú của con đồng thời nói cho con hay, muốn trở thành một học giả thực sự nhất định phải giỏi tiếng Latinh. Chỉ qua 9 tháng, Weter con nắm vững tiếng Latinh. Sau đó, 3 tháng nắm vững tiếng Anh, 6 tháng nắm vững tiếng Hy Lạp. Cứ thế, cậu bé 8 tuổi Weter đã đọc các tác phẩm của các nhà văn nổi tiếng các nước Đức, Pháp, Ý, Hy Lạp, La Mã như Homer Plutarque, Virgile, Cicéron, Schiller v.v...

Trong thời đại “bùng nổ thông tin” như hiện nay, vấn đề giáo dục con cái phải theo kịp nhịp bước các nước trên thế giới. Vì vậy, bắt đầu từ ngày hôm nay, vấn đề học ngoại ngữ của trẻ em phải tìm mọi cách bắt đầu sớm hơn, làm sao giúp trẻ đồng thời với việc nắm vững tiếng mẹ đẻ, việc học tập ngoại ngữ cần sớm được đưa vào trong nội dung và chương trình học của các em. Ở đây, kinh nghiệm của cha con Carl Weter đối với chúng ta là một bài học đáng quan tâm.

Khơi gợi hứng thú, giúp con học tập tri thức khoa học một cách nhẹ nhàng

Bé Weter mới tí tuổi đầu đã biết nhiều ngoại ngữ như thế, nhiều người vẫn nghĩ bé suốt ngày ngồi bên bàn học, ông bố nhồi con như “nhồi vịt”. Nhưng trái lại không phải như vậy. Theo lời ông bố: “Thời gian bé Weter ngồi trước bàn ít hơn bất cứ một em bé nào”. Phần lớn thời gian bé dùng để đi dạo và vận động. Khoảng 3-4 tuổi, h»ng ngày ông bố dẫn con đi dạo chừng 1-2 tiếng. Trong những lúc đi dạo, có lúc gặp bông hoa, ông giải thích cho con về đặc điểm phát triển và tác dụng của hoa, gặp một con côn trùng, ông nói cho con biết đặc điểm sinh lý và tập tính của côn trùng, gặp một hòn đá, một lùm cây, một con suối, một thửa ruộng v.v... ¤ng giảng giải cho con những kiến thức sinh động về thực vật học, động vật học, toán học, vật lý và hóa học. Với lứa tuổi như vậy, ông không chủ trương dạy bé những kiến thức có hệ thống, phân biệt rạch ròi đâu là thực vật học, đâu là động vật học, mà chỉ trình bày những tri thức tương ứng mỗi khi gặp những sự vật trên đường, sao cho sau này đọc các sách sinh học, gặp những nội dung trình bày trong sách, bé không cảm thấy bỡ ngỡ. Theo ông bố cho biết, lúc 5 tuổi, bé Weter đã theo cha đi chu du hầu hết các thành phố lớn trên đất Đức.



Không nên để tâm lực trẻ chỉ dồn vào việc tiêu hóa: tham ăn sẽ làm cho trẻ ngu đần

Nhà phát minh Edison từng nói: “Công dân nước ta phần đông ăn uống quá thừa. Vì thế máu dồn cả vào dạ dày, làm cho trí óc chẳng được dùng”.

Dạ dày quá mệt mỏi sẽ làm suy yếu chức năng của não, vì vậy tham ăn sẽ làm cho trẻ ngu đần.

Nhà tư tưởng, nhà phát minh kiêm chính trị gia Benjamin Franklin cũng tin rằng ăn uống vô độ sẽ làm lú lấp đầu óc. Trong “tự truyện” ông có nhắc đến điểm này và bình sinh ông ăn uống rất thanh đạm.

Weter bố cũng chủ trương không để tâm lực trẻ chỉ dồn vào việc tiêu hóa, như thế trí óc sẽ không tài nào phát triển. Cho nên, trong việc nuôi dạy con, ông đặc biệt chú trọng vấn đề ăn uống, không để con ăn thừa mứa, làm mệt dạ dày. Hiện nay, đây là một vấn đề nghiêm trọng, chưa được các bậc cha mẹ quan tâm đúng mức. Nhìn ra xung quanh, không hiếm những trẻ em mắc bệnh béo phì. Tập quán ăn nhiều không phải là bản tính của trẻ, mà là do cha mẹ dung túng, nuông chiều.

Ông Weter luôn luôn nói với con: “Ăn nhiều đầu óc sẽ lú lấp, tâm hồn sẽ sa sút, nhiều khi còn sinh bệnh”.

Trau dồi thói quen học tập nghiêm túc, tinh thần học tập siêng năng

Để đứa con vào nền nếp, bồi dưỡng tinh thần học tập siêng năng, ông Weter quy định nghiêm ngặt thời gian học và chơi. Lúc con học, ông tuyệt đối không cho ai quấy rối. Lúc đầu, mỗi ngày học 15 phút. Thời gian này, người nhà có ai hỏi gì, ông trả lời: “Lúc này không được, Weter đang học”. Có khách đến, ông xin lỗi và bảo họ ngồi chờ. Cứ thế, ông kiên trì rèn giũa, nuôi dưỡng ở con một tinh thần học tập nghiêm túc, siêng năng.

Dạy trẻ không nên “lúc bé dễ dãi, lớn lên mới nghiêm khắc”

Trong việc giáo dục hành vi và thói quen, ông Weter có kinh nghiệm: phải trái phân minh, trước sau như một, không được là không được, dứt khoát không nhượng bộ. Nhiều người cho ông là quá ư nghiêm khắc. Nhưng theo kinh nghiệm của ông, việc gì không được làm, ngay từ đầu đã không cho phép, như thế trẻ sẽ không cảm thấy có gì gò bó, đau khổ. Nếu như ngay từ nhỏ, trẻ đã nắm vững quy tắc hành vi, nuôi dưỡng thành thói quen, các em sẽ tự giác làm theo. Giáo dục trẻ cũng giống như xây nhà. Ngay từ đầu, nền nhà phải xây thật chắc. Giáo dục con cái, đối với mọi sự vật tốt xấu, các bậc cha mẹ cần có một chí kiến trước sau như một. Không có chí kiến rõ ràng là điều tối kỵ trong việc giáo dục con cái.

Dạy con làm việc tốt

Ông Weter bỏ ra rất nhiều công sức dạy con làm việc tốt. Ngay từ nhỏ, ông đã kể cho con nghe những câu chuyện cổ kim về những việc làm tốt. Mỗi khi con làm được một việc tốt, ông lập tức biểu dương: “Tốt! Con làm thế tốt lắm!”. Đôi khi trước mặt vợ và bạn bè, ông khen con: “Hôm nay Weter làm được một việc rất tốt”. Tất nhiên lời khen đó phải đúng mức, tránh làm cho trẻ kiêu căng.

Lớn lên chút nữa, ông đọc cho con nghe những bài thơ khuyến thiện, ca ngợi lòng nhân ái, đức bao dung, tinh thần tương trợ, lòng dũng cảm, óc vị tha, đức hy sinh v.v... Ông còn đóng cho con quyển sổ “Việc tốt” h»ng ngày ghi chép những việc làm hữu ích. Ông từng bước dạy cho con biết cảm thụ niềm vui và lạc thú làm việc tốt, chiến thắng bản thân. Mục đích của ông là nhằm giáo dục con trở thành người cao thượng.

Giáo dục nhân tài phát triển toàn diện

Sau khi bé Weter đã trở nên nổi tiếng, nhiều người nói ông bố muốn dạy con trở thành một thần đồng, “cất tiếng gáy mọi người thất kinh”. Nhưng riêng ông, ông nói rằng chỉ mong muốn dạy con trở thành một nhân tài phát triển toàn diện. Trong cuốn sách của mình, ông viết:

“Tôi chỉ ước mong bồi dưỡng con trở thành nhân tài phát triển toàn diện, vì vậy trong khoảng thời gian eo hẹp, không ảnh hưởng đến công tác, tôi gắng sức giáo dục con trở thành một thanh niên mạnh khỏe, nhanh nhẹn và hạnh phúc”.

Chín tuổi được nhận vào trường Đại học Leipzig

Nước Đức từ xưa tới nay có truyền thống coi trọng nhân tài. Vì thế, khi bé Weter được mọi người ca tụng, một giáo sư trường Đại học Leipzig và một nhân vật có thế lực trong thành phố đã ngỏ lời mời bé Weter vào học trường đại học của họ. Họ giao cho tiến sĩ Lauster, hiệu trưởng trường Trung học Thomas thành phố Leipzig kiểm tra, đánh giá. Sau khi kiểm tra, hôm ấy là ngày 12 tháng 12 năm 1809, Lauster đã viết giấy chứng nhận nhập học cho chú bé Weter, nội dung như sau:
“Hôm nay, theo yêu cầu, tôi kiểm tra em bé Weter 9 tuổi. Kiểm tra tiếng Hy Lạp, tôi chọn mấy đoạn trong sử thi ”Iliade", kiểm tra tiếng Latinh, tôi chọn mấy đoạn trong tác phẩm “Enéide”, kiểm tra tiếng Ý, tôi chọn mấy đoạn trong tác phẩm của Galilei, kiểm tra tiếng Pháp, tôi chọn mấy đoạn trong một cuốn sách, tất cả đều là những đoạn văn khó, nhưng Weter trả lời rành mạch, lưu loát, chứng tỏ em có một vốn tri thức ngôn ngữ phong phú, hiểu sâu, biết rộng. Nghe nói, vốn học thức uyên bác của em bé đáng khâm phục này là kết quả giáo dục của người cha. Theo tôi, phương pháp giáo dục của ông rất đáng để chúng ta quan tâm, nghiên cứu. Nói tóm lại, em bé này hoàn toàn đủ điều kiện vào học trường đại học. Vì sự tiến bộ học thuật, việc tạo điều kiện cho một em bé như vậy vào trường đại học là vô cùng cần thiết".

PV

19/08/2014

(Dân trí) - Từ nhỏ chị đã dạy con biết đọc và yêu sách. Những năm tháng tuổi thơ con, thư viện là nơi quen thuộc hơn cả sau không gian ấm áp của ngôi nhà.

13/08/2014

THIÊN TÀI VÀ SỰ GIÁO DỤC TỪ SỚM

Việc giáo dục trẻ nói trong bài viết này không như khái niệm nói trong nhà trường mà theo nghĩa kích thích các giác quan, hướng tới sự hăng say mọi mặt, phát triển tối đa các tiềm năng của con người từ khi lọt lòng, bồi dưỡng nhân cách toàn diện để phát triển nhanh khi trưởng thành.
Ngành tâm lý học sinh vật hiện đại đã chứng minh tiềm năng của đứa trẻ có quy luật giảm dần. Một đứa trẻ sinh ra có 100 phần năng lực, nếu tiến hành giáo dục một cách lý tưởng đối với nó từ khi lọt lòng thì sẽ phát huy hết năng lực vốn có. Nếu bắt đầu từ 5 tuổi, giả sử cũng giáo dục một cách lý tưởng như trên thì cũng chỉ có được 80 phần năng lực. Nếu đến 10 tuổi mới bắt đầu giáo dục đúng cách thì chỉ còn lại 60 phần.
Các nhà khoa học đã phát hiện ra tiềm năng của mọi động vật đều có thời kỳ phát triển của mình, thời kỳ này là cố định. Một dạng tiềm năng nào đó nếu không có điều kiện phát triển đúng lúc thì sẽ bị thui chột. Ví dụ, thời kỳ phát triển năng lực “theo mẹ” của gà con khoảng 4 ngày sau khi nở, tiềm năng “nhận biết âm thanh của mẹ” trong khoảng 8 ngày tuổi. Nếu trong 8 ngày đầu đời mà tách khỏi mẹ thì gà con mất hẳn năng lực theo mẹ và nhận biết tiếng mẹ.
Tập tính của chó sói là giấu thức ăn thừa xuống đất để khi đói thì bới lên ăn. Nếu ta nhốt sói mẹ sắp đẻ trong chuồng nền cứng không đào bới được và cho sinh con trong đó. Một thời gian sau, thả hai mẹ con vào rừng, sói con mất hẳn năng lực “giấu thức ăn thừa” do giai đoạn đầu đời nó không có điều kiện “học” ở mẹ.
Con người là động vật bậc cao, tâm lý phát triển vượt rất xa động vật, song cũng có một số điểm tương tự. Một số năng lực của trẻ bị biến mất do không có điều kiện phát triển đúng lúc. Dễ dàng nhận thấy ở lĩnh vực âm nhạc, hội họa, ngoại ngữ,… Dạy cho một học sinh tiểu học “học ngoại ngữ” dễ hơn dạy cho một người trưởng thành mà chưa biết ngoại ngữ nào. Dạy cho trẻ mới tập tễnh biết đi biết “bỏ rác vào thùng rác” dễ hơn nhiều dạy một sinh viên đại học chưa có thói quen đó.
Cuối thế kỷ 18, một mục sư người Anh tên là Carl Witer đã dày công nghiên cứu việc giáo dục từ sớm cho trẻ, ông cho rằng: “Việc giáo dục đối với trẻ con phải bắt đầu đồng thời với ánh bình minh trí lực của nó”. Ông tin rằng, đối với những đứa trẻ bình thường, chỉ cần giáo dục đúng cách sẽ có thể trở thành người phi thường. Vợ ông sinh con trai tháng 7 năm 1800, đặt tên là Carl Witer, trùng tên cha. Cậu bé lúc mới sinh có vẻ ngốc nghếch hơn bình thường, xóm giềng kháo nhau nó bị chứng đần độn. Người mẹ tỏ ra bi quan, không muốn bỏ công sức để giáo dục. Nhưng ông Witer cha vẫn không từ bỏ chủ trương giáo dục từ sớm của mình. Ông kiên nhẫn thực hiện từng chi tiết kế hoạch giáo dục thời kỳ đầu. Kết quả thật kinh ngạc. Witer con lên 9 tuổi đã có thể sử dụng 6 ngôn ngữ: Đức, Pháp, Italia, Anh, Hy Lạp, Latinh; thông hiểu động vật học, thực vật học, vật lý, hóa học; đặc biệt rất giỏi toán. Thi đậu Đại học Leipzig. Chưa đầy 14 tuổi được trao học vị Tiến sĩ Triết học, 16 tuổi được trao học vị Tiến sĩ Pháp học, 23 tuổi trở thành nhà Pháp học ưu tú. Witer con suốt đời dạy học, sống hạnh phúc và nổi tiếng, thọ 83 tuổi.
Ông Witer cha đã viết cuốn sách “Giáo dục Carl Witer” kể về quá trình giáo dục con từ lọt lòng đến 14 tuổi. Thời đó, người ta cho rằng thiên tài là do bẩm sinh chứ không phải do giáo dục. Vì vậy, cuốn sách không được mấy người quan tâm. Còn rất ít bản lưu hành đến ngày nay. Trong thư viện trường Đại học Harvard còn duy nhất một bản, được bảo quản hết sức nghiêm ngặt. Những ai may mắn đọc và làm theo phương pháp giáo dục từ sớm của Witer đều nuôi dưỡng thành công con cái trở thành những công dân cực kỳ ưu tú, và nhiều người đã viết thành sách để kể lại quá trình nuôi dạy con thành nhân tài.
Đầu thế kỷ 20, một học giả Nhật Bản tên Klimura Kyuichi đã nghiên cứu những thành tựu giáo dục từ sớm của Mỹ và phát triển thành học thuyết “Giáo dục thời kỳ đầu”. Năm 1916, ông xuất bản cuốn sách “Thiên tài và sự giáo dục sớm”, giới thiệu lý luận và phương pháp giáo dục của Witer cha và những người đã áp dụng phương pháp đó thành công. Học thuyết “Giáo dục thời kỳ đầu” đã ảnh hưởng sâu sắc đến tố chất người Nhật Bản, góp phần tạo nên sự phát triển thần kỳ của nước Nhật trong thế kỷ 20

Address

Ham Rong

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Giáo dục trẻ thông minh sớm Thanh Hóa posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share

Category