Hồ Gia Y Quán 胡家醫館

Hồ Gia Y Quán 胡家醫館

Share

Nhà thuốc gia truyền Cổ Nguyệt Đường Hải Phòng
【《Gia truyền 4 đời của cụ Lang Đẩu - Kiến Thụy》】

19/11/2025

HỒ GIA Y QUÁN - CỔ NGUYỆT ĐƯỜNG XIN THÔNG BÁO

Danh mục 7 bộ Tài liệu là bản dịch tiếng Việt mà Y quán đã dịch thuật như sau:

1. - "Mạch Kinh" của danh y Vương Thúc Hoà đời Tấn.
2. "Ôn Bệnh Điều Biện" của danh y Ngô Cúc Thông đời nhà Thanh.
3. "Lâm Chứng Chỉ Nam Y Án" của danh y Diệp Thiên Sĩ đời nhà Thanh.
4. "Ôn Dịch Luận" của danh y Ngô Hựu Khả đời nhà Minh.
5. "Ôn Nhiệt Luận" của danh y Diệp Thiên Sĩ đời nhà Thanh và "Thấp Nhiệt Điều Biện" của danh y Tiết Tuyết đời nhà Thanh.
6. "Ôn Nhiệt Kinh Vĩ" của danh y Vương Sĩ Hùng đời Thanh.
7. "Đan Khê tâm pháp" của danh y Chu Đan Khê đời Nguyên.

Qúy bằng hữu có nhu cầu đăng ký Tài liệu dịch, vui lòng chỉ liên hệ thông qua:

1. Hồ Xuân Đức – Điện thoại & Zalo: 034 797 6866

2. Tinh Hoa Xanh – Địa chỉ: Park 6 khu đô thị Times city, 458 Minh Khai, Vĩnh Tuy, Hà Nội - Điện thoại: 0943394756.

Xin trân trọng cảm ơn!

11/11/2025
Photos from Hồ Gia Y Quán 胡家醫館's post 10/07/2025

MẠN ĐÀM DANH PHƯƠNG “ÔN ĐỞM THANG” (溫膽湯)

Ngày trước, có một vị Bác sĩ từng đặt câu hỏi: 温胆汤是温胆之寒,还是清胆之热?(Ôn đởm thang là “ôn hàn của đởm” hay “thanh nhiệt của đởm”?).

1. Xuất xứ: Ôn đởm thang có xuất xứ bất nhất, có tài liệu ghi rằng được chép đầu tiên trong sách “Tập nghiệm phương” của danh y Diêu Tăng Viên thời Nam Bắc triều; có tài liệu ghi rằng được chép đầu tiên trong sách “Bị cấp thiên kim yếu phương” của danh y Tôn Tư Mạc đời Đường, có chỗ lại ghi được chép trong sách “Tam nhân cực nhất bệnh chứng phương luận” của Trần Vô Trạch đời Tống. Nguyên phương chép: Bán hạ chế, Trần bì, Phục linh, Cam thảo, Chỉ thực, Trúc nhự, thêm Khương, Táo. Công dụng: Lý khí hóa đàm, hòa vị lợi đởm. Chủ trị: Chứng đởm uất đàm nhiễu, đởm khiếp làm cho dễ kinh sợ, có các chứng đầu huyễn, tâm quý, tâm phiền mất ngủ, dễ mơ những điều quái dị, hoặc ẩu thổ, ách nghịch, huyễn vựng, điên giản, rêu lưỡi trắng, mạch huyền hoạt.

2. Y luận: Phương 90 Ôn đởm thang, quyển 5, sách “Ôn nhiệt kinh vĩ” của danh y Vương Mạnh Anh ghi lại lời chú rằng: La Đông Dật viết rằng: Đởm là chức quan trung chính, phủ thanh tĩnh, thích yên tĩnh, sợ phiền nhiễu, thích nhu hòa, không thích ủng uất. Nói chung, phương đông đức mộc, khí của thiếu dương ôn hòa đó vậy. Vì có hư phiền, kinh hãi, quan trung chính, bị nhiệt làm cho không yên tĩnh được, nôn mửa ra vị đắng. Phủ thanh tĩnh, bị uất lâu ngày mà không yên tĩnh, đàm khí nghịch lên, thấp nhiệt lại thừa cơ lấn át, mà mộc không được điều đạt. Như vậy thì đầu tiên nên thanh nhiệt, rồi đến giải lợi tam tiêu. Trong phương dùng Trúc nhự để thanh dương của vị quản, mà thần thì dùng Cam thảo, Quất, Bán thông vị để điều khí. Tá thì dùng Chỉ thực, trừ đảm ủng trệ ở khắp tam tiêu. Sứ thì dùng Phục linh để sấm tiết, để thanh khí của trung tiêu. Vừa dùng để khu tà, vừa dùng để dưỡng chính, tam tiêu bình thì thiếu dương bình, tam tiêu chính thì thiếu dương chính, đởm phủ được hòa đó vậy! Hòa, tức là ôn đó vậy, ôn, thực ra là lương đó vậy. Vương Tấn Tam cũng bảo rằng: Đởm khí thoái được nhiệt thì là ôn, không phải bảo đởm hàn mà ôn đâu vậy.
Vương Sĩ Hùng chú rằng: Phương đó bỏ Khương, Táo, gia Hoàng liên, trị thấp nhiệt đàm mà hóa ngược rất hay, cổ nhân cũng chưa biết đâu vậy.

3. Trích dẫn thư tịch cổ:
- “Diệp Thiên Sĩ - Ngoại cảm ôn nhiệt thiên” viết rằng: Lại luận khí bệnh thì có không truyền huyết phận, mà tà lưu ở tam tiêu, giống như thiếu dương bệnh ở trong thương hàn đó vậy. Tùy theo chứng mà biến pháp: Như ở gần thì dùng các vị Hạnh, Phác, Linh; hoặc như tính tẩu tiết của Ôn đởm thang. Hoặc khát mà thích uống nước nóng, tà tuy hóa nhiệt, mà đàm ẩm thịnh ở bên trong, nên dùng phương Ôn đởm thang gia Hoàng liên. Thấp nhiệt chứng: Ẩu thổ ra nước trong, hoặc có nhiều đàm, đó là do thấp nhiệt lưu tích ở bên trong, mộc hỏa thượng nghịch. Nên dùng các dược vị trong phương Ôn đởm thang gia Qua lâu.
- Mục “Ẩu thổ”, quyển 4, sách “Lâm chứng chỉ nam y án” của danh y Diệp Thiên Sĩ chép y án: 1. Họ Chu, vị phủ bất hòa, ăn vào thì ẩu thổ, do tức giận quá độ làm cho động can tạng mà phát bệnh. Trước tiên tất phải chế can tạng. Dùng phương Ôn đởm thang hợp với phương Tả kim hoàn, khứ Cam thảo, Phục linh, gia Khương chấp. 2. Họ Tôn, hàn uất hóa nhiệt, khí trong doanh vệ bị trất tắc, phát lở loét, ăn vào lập tức thổ ra, nhiệt tà thiêu đốt ở bên trong vị phủ. Nên kiêng dùng những loại thức ăn sống, có dầu mỡ. Trước tiên dùng phương Gia vị Ôn đởm thang (ẩu thương vị trung, tà nhiệt kiếp tân). Dùng tiên Trúc nhự 1 tiền rưỡi, Bán hạ 1 tiền rưỡi, kim Thạch hộc 3 tiền, Phục linh 1 tiền rưỡi, Quảng Trần bì bạch 1 tiền rưỡi, Chỉ thực 1 tiền, Khương chấp 1 thìa, hòa thêm vào.
- Mục “Ôn nhiệt”, quyển 5, sách “Lâm chứng chỉ nam y án” của danh y Diệp Thiên Sĩ chép y án: Họ Hóa 55 tuổi, miệng mũi hít phải khí bất chính, đi qua mộ nguyên, quấy nhiễu vị hệ, đã hết chứng hàn nhiệt vãng lai, nhưng vẫn còn không no, không đói, rìa lưỡi có sắc đỏ, ở giữa thì vàng. Dư tà chưa sạch, ăn uống vào làm cho đau nhức, là do tà nhiệt không thắng được cốc khí, dùng pháp Ôn đởm để làm cho hòa. Dùng một nửa phương Ôn đởm thang khứ Cam thảo, Phục linh, Chỉ thực, gia Uất kim, hắc Sơn chi.
Ngoài ra, trong các quyển 6, 7 sách “Lâm chứng chỉ nam y án” cũng chép trên 20 y án biến hóa dụng phương nữa: 1. Dùng phương Ôn đởm thang gia Sơn chi, Đan bì, Uất kim, Khương chấp, sao Hoàng liên. 2. Dùng phương Ôn đởm thang khứ Chỉ thực, gia Kim thạch hộc, gia thêm phương Cổn đàm hoàn 2 tiền 5 phân….

4. Hiện đại nghiên cứu: 王洪图教授运用温胆汤举验 Giáo sư Vương Hồng Đồ (王洪图) thường gia thêm 2 vị thuốc là: Sài hồ 8g, Hoàng cầm 12g mà thành phương Sài Cầm Ôn đởm thang. Không giới hạn chỉ là một phương thuốc “điều khí can đởm, thanh nhiệt hoá đàm”, Sài Cầm Ôn đởm thang được Vương tiên sinh biến hoá, sử dụng vô cùng linh hoạt, ứng dụng tại nhiều khoa bệnh trong y học cổ truyền, thu được những kết quả trị liệu vô cùng tuyệt diệu, ví dụ như: Mất ngủ, tâm phiền khó chịu, lo sợ, mộng nhiều, rụng tóc theo mảng, ức uất, phiền uất nhiều, liệt dương, polyp túi mật, phụ nữ tiền mãn kinh, động kinh, chứng tăng động, co giật ở trẻ em, đêm nằm kinh hãi la hét…vv (tham khảo Dương Gia Trang bút ký).

Đạt Tam Hồ Xuân Đức tổng hợp.

08/07/2025

DANH Y TUỆ TĨNH ĐÃ KẾ THỪA VÀ PHÁT HUY PHƯƠNG “BỔ ÂM HOÀN” CỦA ĐẠI DANH Y CHU ĐAN KHÊ

Trong bản dịch sách “THẬP TAM PHƯƠNG GIA GIẢM” của Đại danh y Tuệ Tĩnh, do Sơn Nam Hồng Cẩm Cư Sĩ sao lục, Lương y Lê Trần Đức dịch. Có đoạn chép: Phụ thêm “Bổ âm đơn” tân chế để chữa chứng âm hư sốt cơn, bốc nhiệt xuất huyết, phế hư ho lao.

PHỤ: BỔ ÂM ĐAN

Chủ trị các chứng tinh huyết hao tổn, âm hư hỏa động, hư lao sốt cơn, họ khan khạc ra máu, di tinh, mồ hôi trộm...

Nguyên phương: Thục địa 5 lạng, Quy bản, Tri mẫu, Hoàng bá đều 3 lạng, Thiên môn, Mạch môn, Kỷ tử, Bạch thược đều 2 lạng, Ngũ vị tử 1 lạng, Can khương 3 đồng cân.

Chế pháp: Các vị trên nên đun ở căn nhà thanh tĩnh, tán cây nhỏ, luyện với mật ong và tuỷ xương sống con Lợn, làm viên to bằng hạt ngô đồng, liều uống 20 viên, thang bằng rượu hâm nóng, uống lúc canh năm.

Gia giảm:
- Di mộng tinh gia: Mẫu lệ (nung tán nhỏ), Bạch truật, Sơn thù du, Sư căn bạch bì (cạo bỏ vỏ thô).
- Xích trọc gia: Hoàng liên, Bạch truật, Bạch linh, Sơn chi tử.
- Chân yếu ớt không có sức gia: Xuyên ngưu tất, Mộc qua, Phòng kỷ, Hổ hĩnh cốt (nung nóng rồi ngâm nước, làm 7 lần như thế, sao, giã dập mà dùng).
- Sán khí gia: Thương truật, Xuyên khung, Thanh bì, Ngô thù du, Sơn chi tử, Hoàng oanh (?), Mộc qua.
- Tì vị hư và đau dữ, sợ rét, ỉa chảy gia: Bạch truật, Can khương, Trần bì (bỏ xơ trắng).
- Khí hư gia: Bạch linh.
- Mắt mờ gia: Xuyên quy, Sài hồ, Hoàng liên, Tê giác, Cúc hoa, Mạn kinh tử.
- Mạch tả xích hư, hữu xích vi, dương sự bất cử gia: Hắc phụ tử, Nhục quế, Trầm hương.

Bài bổ âm hoàn với phép gia giảm tuỳ chứng trên đây là thuốc điều bổ tất cả các chứng ngũ lao, thất thương, hư tổn, già yếu, ốm lâu ngày, có công bồi bổ căn cốt bản rất lớn.

Nên xét mạch bộ xích bên tả hư yếu và bộ xích bên hữu nhỏ bé mà dương sự không nhạy thì mới gia các vị dương dược để tiếp bổ chân hoả. Nếu tì phế đều hư mà mạch các bộ thốn, quan bên hữu yếu, không có lực, thì gia Phục linh để bổ khí.

Hoàn Bổ âm trên đây là tuỳ chứng gia giảm gồm bổ tất cả các chứng lao thương hư tổn, mọi chứng suy yếu ở người già, bệnh đau nhức lâu ngày, đều có công năng bồi bổ căn bản.
Chu Đan Khê dạy rằng: “Dương thường hữu dư, âm thường bất túc”. Huống là đời nay phần nhiều tảo hôn trác táng, thiên quý chưa đến mà đã vội xài để khiến âm tinh đã kiệt mà lại trút túi nốt, cho nên chết non. Muốn được sống lâu, nhất thiết cần nên thanh tâm, tiết dục, bế tinh, dưỡng khí để bảo tồn nguyên thần, răn ngừa lòng tham, nén cơn tức giận, điềm đạm hư vô, để giữ vẹn chân khí ở bên trong. Vả lại thường xuyên cần có lao động nhẹ, vào mỗi buổi sáng sớm, hít thở khí trong lành, vận động thân thể tay chân, để rèn luyện thân hình ở ngoài, thì mới có thể hưởng thọ tuổi trời vậy.

(Nguyên phương Bổ âm hoàn, Quý độc giả vui lòng tìm đọc bản dịch bộ sách "Đan Khê tâm pháp).

Photos from Hồ Gia Y Quán 胡家醫館's post 08/07/2025

GIỚI THIỆU DANH Y "TIẾT TUYẾT" VÀ BẢN DỊCH TIẾNG VIỆT BỘ SÁCH "THẤP NHIỆT ĐIỀU BIỆN" CỦA ÔNG.
(Liên hệ Zalo 034 797 6866 - Để đăng ký)

Danh y Tiết Tuyết (薛雪), sinh năm 1681, mất năm 1770, tên tự là Sinh Bạch (生白), tên hiệu là Nhất Biều (一瓢), cũng có các tên hiệu là Tảo Diệp sơn nhân (掃葉山人), Ma kiếm đạo nhân (磨劍道人), Hòe Vân đạo nhân (槐雲道人), Mục ngưu lão hủ (牧牛老朽). Ông là người ở Ngô huyện, Giang Tô, Tô Châu, là một danh y đời Thanh, cùng thời với Diệp Thiên Sĩ (葉天士).

Ông hiếu học từ nhỏ, học rộng nhiều tài. Buổi thiếu thời học thi thư với danh nho Diệp Tiếp (葉燮) ở cùng quê của ông, sau lại học thêm các môn thư pháp, thư họa. Ông cũng thích võ công, tinh thông quyền thuật, kiếm thuật. Những năm đầu niên hiệu Càn Long, quan địa phương tiến cử ông đến Kinh thành tham dự khoa thi “Bác Học Hồng Từ 博學鴻詞”, nhưng hai lần thi đều không đỗ đạt. Do thân mẫu của ông hay mắc bệnh, ông bèn đổi hướng học y, ngồi học mười năm ở một căn lầu nhỏ, đọc rộng các sách, về sau ông tinh thông y thuật. Tính ông thích sống ẩn dật, không muốn giao thiệp nhiều, những người quyền qúy mời ông chẩn mạch, ông cũng ít khi chịu đi, tính ông phóng khoáng, chỉ thường hay cùng với một vài người bằng hữu ngâm thơ uống rượu.

Y thuật của ông cao siêu, chẳng những trị liệu tạp bệnh, mà còn chuyên trị bệnh thời khí (thời dịch). Năm thứ 20, niên hiệu Càn Long (1744), người đầu bếp của Viên Mai, tên Vương Tiểu Dư, bị bệnh dịch nguy kịch. Ông đến thăm bạn vào chiều tối, đốt nến xem bệnh, cười nói: “Tôi thích chống đối với con ma bệnh dịch, có thể thắng nó được”, bèn lấy ra một hoàn thuốc, bảo phu khiêng kiệu giã nát Thạch xương bồ lấy nước hòa thuốc, dùng đũa cạy miệng đổ cho uống, dặn rằng đến gà gáy thì người bệnh sẽ nói được. Quả đúng như lời ông nói, cho họ Vương uống hai lần thuốc nữa, bệnh bèn khỏi. Lại một lần, người hầu của Viên Mai, tên Trương Khánh phát cuồng, ăn vật gì vào thì đau như xé ruột, uống thuốc của nhiều thầy không hiệu nghiệm. Ông đến chơi, quan sát sắc mặt của họ Trương, rồi nói: “Đây là bệnh lãnh sa, cạo gió thì hết, không cần chẩn mạch”. Làm theo lời ông, thân người bệnh hiện lên những vết đen lớn bằng bàn tay, rồi lập tức bệnh khỏi.

Khoảng cuối thời nhà Minh, đầu thời nhà Thanh, bệnh ôn nhiệt bùng phát khắp cả nước. Một số y gia đương thời chịu ảnh hưởng tư tưởng học thuật của các danh y Tiết Kỷ và Trương Giới Tân, phần đông dùng thuốc ôn bổ nên trị liệu lầm chứng bệnh. Ông và Diệp Thiên Sĩ đồng ý với nhau về học thuyết “ôn bệnh và thấp nhiệt”, khai sáng phép trị mới, đạt được kết quả tốt, cho nên cả hai người đều nổi tiếng ở trong y lâm. Theo lời truyền lại, có một lần, hai họ Diệp và Tiết cùng chữa trị cho một người phát bệnh thủy thũng, Tiết thị nhận định là bệnh đã vào đến Cao hoang, từ chối chữa, Diệp thị biết được, đến khám lại nhận định là do thường hay cảm thụ độc từ ở nhang muỗi, điều trị một thời gian là khỏi bệnh. Từ việc đó sinh ra tức giận, thậm chí từ đó về sau không giao thiệp với nhau nữa, Tiết thị tự đặt tên ở trong nhà mình là Tảo Diệp trang (掃葉莊), Diệp thị biết được rất tức giận, liền đặt tên cho thư phòng của mình là Đạp Tuyết trai (踏雪齋). Về sau, có một lần khi thân mẫu của Diệp Thiên Sĩ mắc bệnh, ông ấy trị đã lâu mà không khỏi, rất lấy làm lo lắng, có người báo cho Tiết Tuyết hay bệnh tình. Ông nói rằng đó là bệnh độc dương minh kinh chứng, nếu không dùng “Bạch hổ thang 白虎汤” thì không thể dập tắt được lửa đang cháy rất mạnh, sinh Thạch cao cần phải dùng đến 2 cân thì phương mới có hiệu quả. Thiên Sĩ nghe được, lập tức tỉnh ngộ, lập tức dùng trọng tễ Bạch hổ thang, sau khi uống xong quả nhiên khỏi bệnh. Thiên Sĩ vô cùng bội phục y thuật của Tiết thị, chủ động đến tạ lỗi với ông, Tiết thị cũng vô cùng cảm động, lập tức cho tháo hoành phi Tảo Diệp trang xuống, từ đó hai người lại kính mến nhau như cũ. Về phương diện học thuật, ông có nhiều sáng kiến đối với bệnh thấp nhiệt, nên đã soạn quyển “Thấp nhiệt điều biện 濕熱條辨” để phân tích nguyên nhân gây bệnh thấp nhiệt, luận thuật biểu hiện lâm sàng của bệnh và phép chữa trị, đồng thời năm 1754, ông còn viết bộ sách “Y kinh nguyên chỉ 醫經原旨”, gồm có 06 quyển.

Về thành tựu y học của ông, ông cho rằng: Thấp nhiệt bệnh là do ngoại cảm trúng phải nhiệt bệnh, đó là do đã cảm thụ thấp tà, lại cảm thụ thử nhiệt tà, ắt thành thấp ôn bệnh đó vậy. Cũng có do thấp tà lưu phục lâu ngày mà hóa nhiệt, làm cho tà của thấp nhiệt kết tụ với nhau, mà làm thành bệnh thấp ôn. Ông còn cho rằng: Bệnh có liên quan mật thiết đến thời khí, từ Trưởng hạ cho đến đầu mùa thu, khí hậu ẩm ướt, lại có nắng nhiều, đã nóng lại còn có ẩm thấp, khi đó, con người thân thể nếu hư nhược thì sẽ rất dễ phát bệnh, mà phát thành bệnh thấp ôn. Bệnh thấp ôn, đã có thấp tà lại có nhiệt tà. Thấp tính niêm trệ, nhiệt tính viêm sí, cả hai tương hợp, thì tà nhiệt do có tính niêm trệ của thấp tà nên khó tiêu trừ được, thấp tà thì ắt do tính hay bốc lên của nhiệt tà mà di mạn khắp trên dưới, khiến cho bệnh tình thập phần nghiêm trọng. Chính vì thế, mà Tiết thị tổng kết lại rằng: “Nhiệt là khí của trời, thấp là khí của đất, nhiệt có thấp thì càng bốc lên, thấp có nhiệt thì càng hoành hành, thấp và nhiệt tách riêng, thì bệnh nhẹ mà từ từ, thấp nhiệt hợp lại, thì bệnh nặng mà nhanh chóng vậy”.

Tiết thị đối với thấp nhiệt bệnh quy nạp thành ba phương diện.
- Thứ nhất là có số ít bệnh nhân thì tà khí là từ ở bì mao xâm nhập vào. Quan điểm của Tiết thị không giống với Ngô Hựu Khả và Diệp Thiên Sĩ về quan điểm của ôn tà thượng thụ, vì chỉ cho rằng ôn tà từ ở miệng và mũi mà nhập vào vậy.
- Thứ hai, đại đa số người bệnh, tà khí là từ ở miệng và mũi mà nhập vào vậy, đó là quan điểm giống với các ôn bệnh học gia khác. Nói chung, ôn bệnh ắt là tà từ ở miệng mũi mà nhập vào, làm thương tổn tâm, phế tạng. Thấp nhiệt bệnh tà tuy cũng từ ở miệng và mũi mà nhập vào, nhưng sự thương tổn tạng, phủ ắt chủ yếu là ở tì và vị thôi vậy. Bởi vì tì thổ thuộc thái âm, chủ thấp mà lại sợ thấp, thấp tà rất dễ làm thương tì. Dương minh vị là tạng của dương thổ, là biển của thủy cốc, chủ táo mà lại sợ táo, thì rất dễ hóa hỏa. Nhân đó, bệnh biến nhiều thường ở lẽ đó.
- Thứ ba, tà khí từ ở trên mà cảm thụ vào, đã không ở tại tì tạng, lại cũng không ở tại vị phủ, mà là xâm phạm vào mạc nguyên. Tiết thị rất coi trọng sự thịnh suy của tì vị trong quá trình phát bệnh thấp nhiệt, ông chỉ điểm rằng: “Tì hư thấp thịnh” là điều kiện để sinh ra bệnh thấp nhiệt đó vậy.

Tiết thị nhận định bản chứng của thấp nhiệt thì chủ yếu có biểu hiện là: Ban đầu thì sợ lạnh, sau chỉ phát nhiệt mà không lạnh, ra mồ hôi, ngực bĩ tắc, lưỡi có sắc trắng hoặc vàng, miệng khát mà không muốn uống. Thấp nhiệt biểu chứng, Tiết thị chia làm ba loại, một là thấp tà thương biểu, một là thấp tà ở tại cơ nhục, đó là thấp nhiệt xâm phạm kinh lạc. Nếu nói thấp tà thương biểu, là chỉ thấp tà trở át ở vệ dương của thân thể. Có thể thấy các chứng trạng sợ lạnh, không có mồ hôi, người nặng nề, đầu đau nhức, hung bĩ, eo lưng đau nhức. Lúc đó, nên dụng pháp tán thấp tà ở tại biểu phận, cho nên dùng các vị như Hoắc hương, Hương nhu, Khương hoạt, Thương truật bì, Bạc hà, Ngưu bàng tử. Thấp tà thương tổn đến cơ nhục, dương minh kinh, thấy các chứng trạng như sợ lạnh, phát nhiệt, ra mồ hôi, người nặng nề, khớp xương đau nhức, hung bĩ, eo lưng đau nhức, trị pháp dùng các vị như Hoạt thạch, Đại đậu hoàng quyển, Phục linh bì, Thương truật bì, Hoắc hương diệp, tiên Hà diệp, Cát cánh. Nếu thấp tà xâm nhập vào kinh lạc của cơ thể, sẽ thấy tứ chi câu cấp, nặng ắt cảm thấy co rút lại, cấm khẩu, nên dùng các dược vị như tiên Địa long, Tần giao, Uy linh tiên, Hoạt thạch, Thương nhĩ tử, Ty qua lạc, Hải phong đằng, Hoàng liên sao rượu. Nếu như thuộc thấp tà thiên thịnh ở lý phận, lại chia ra các tình huống không giống nhau. Có thấp trệ ở dương minh kinh, thấy có rêu lưỡi biến thể trắng, miệng khát, nên dùng vị tân để khai thông, khiến cho thượng tiêu được thông lợi, tân dịch được hành, chọn dùng các vị như Hậu phác, Thảo qủa, Bán hạ, can Xương bồ. Lại có thấp tà vây khốn thái âm kinh, hiện các chứng trạng sợ lạnh, sắc mặt vàng, miệng không khát, thần chí mệt mỏi, chân tay rã rời, mạch trầm nhược, bụng đau nhức, hạ lợi, trị nên dùng pháp ôn tì dương, hóa thấp trọc, dụng các phương Súc tì ẩm, Đại thuận tán, Lai phục đan. Nếu thấp nhiệt trở át mạc nguyên, thấy có hàn nhiệt thác tạp như ngược tật, có thể dùng pháp sơ lợi mạc nguyên của Ngô Hựu Khả, giống như Đạt nguyên ẩm, Lục nhất tán. Nếu thấp nhiệt đều trong ở lý phận, thấy đầu lưỡi đỏ, gốc lưỡi có rêu trắng, nói rõ là thấp tà lưu trệ, chỉ hóa nhiệt từ từ, trị liệu có một phương diện là hóa thấp, một phương diện là thanh nhiệt. Đối với nhiệt tà thiên thịnh ở lý phận, ắt nên cấp dùng pháp thanh nhiệt tiết nhiệt, biện rõ nhiệt tà ở tại vệ khí, doanh huyết không giống nhau, thì dùng thêm pháp luận trị của Diệp Thiên Sĩ nữa vậy. Nếu thấp nhiệt đầy tràn khắp tam tiêu, là do thấp tính niêm trệ, dễ trở át khí cơ, cho nên theo tam tiêu phân chứng mà thi trị. Đối với thấp nhiệt tà làm cho thương âm, Tiết thị chọn dùng các dược vị như tiên Sinh địa, Lô căn, sinh Thủ ô, tiên Đạo căn, để phục hồi lại tân dịch trong vị phủ, lại có thể tiết nhiệt khư tà. Đối với thấp nhiệt tà làm cho dương hư, là do thử tà thương tổn nguyên khí, khiến cho phế khí bất túc, trước tiên sẽ phát các chứng trạng khái thấu, hơi thở ngắn, mệt mỏi, miệng khát, nhiều mồ hôi, mạch hư muốn tuyệt, có thể dùng các dược vị như Nhân sâm, Mạch đông, Ngũ vị tử để ích khí sinh mạch. Nếu trung khí bất túc, khiến cho thăng giáng thất thường, thấy bệnh sau vài ngày, có các chứng như ẩu thổ, tiết tả, tì khí đại hư, trung khí không chống đỡ được, có thể dùng các dược vị như sinh Mạch nha, Liên tử tâm, Biển đậu, Ý dĩ nhân, Bán hạ, Cam thảo, Phục linh để ôn trung kiện tì.

Nghiên cứu của Tiết Tuyết tiên sinh về "thấp nhiệt bệnh", đã làm nổi bật sự kết hợp giữa "thấp tà" và "nhiệt tà", nắm được điểm mấu chốt của hai loại tà có sự khinh, trọng khác nhau, phương pháp biện chứng đều kết hợp cả tạng phủ, tam tiêu, biểu lý, khiến cho dung hòa làm một thể, phân tích kỹ lưỡng về thấp nhiệt bệnh chứng, rất có lợi ích khi ứng dụng trên lâm sàng. Về pháp trị liệu trên, có các đại pháp ôn hóa, thanh tả, thanh nhiệt khư thấp, đồng thời lại có các pháp phối ngũ như bổ dương, ích khí, dưỡng âm, sinh tân, nhưng lúc dụng dược nên chú ý đến các phương diện “thanh nhiệt không ngại thấp, khư thấp bất trợ nhiệt, phù chính bất ngại khư tà, khư tà nên chú ý đến phù chính”. Khi trị liệu không câu chấp ở việc thành phương cố định, thể hiện được đặc điểm khi trị liệu thấp nhiệt bệnh, lập thành quy củ cho hậu thế khi trị liệu thấp nhiệt bệnh, tư tưởng học thuật của ông có sức ảnh hưởng rất sâu rộng đó vậy.

Hậu bối Hồ Xuân Đức, tự Đạt Tam,
khiêm đề tại Thư phòng Cổ Nguyệt Đường.

08/07/2025

ĐẠI DANH Y CHU ĐAN KHÊ
(THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP)

Đại danh y Chu Chấn Hanh (朱震亨), ông sinh năm 1281, mất năm 1358, tên tự là Ngạn Tu (彥修), người Vụ Châu, Nghĩa Ô thời nhà Nguyên (nay là huyện Nghĩa Ô, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc). Vì ông sống ở bên cạnh một dòng suối nhỏ có tên là “Đan Khê”, nên hậu thế gọi ông là “Đan Khê ông” (丹溪翁) hay “Đan Khê tiên sinh” (丹溪先生).

Chu Đan Khê từ nhỏ vốn đã thông minh, hiếu học, đọc qua sách là thuộc ngay, mỗi ngày ghi chép cả ngàn chữ. Lớn lên, tính ông phóng khoáng, ưa hành hiệp trượng nghĩa. Năm ông 36 tuổi, theo học với đệ tử đời thứ tư của danh nho Chu Hy (朱熹), tên là Hứa Khiêm (許謙) ở Bát Hoa sơn, Đông Dương, thuộc tỉnh Chiết Giang, để nghiên cứu lý học, học vấn của ông rất uyên bác. Về sau, ông đổi chí sang học Y, hằng mong tế thế cứu đời, lại thêm thầy Hứa Khiêm khi mắc bệnh nặng, nằm liệt giường, khuyên ông nên đổi hướng sang học Y để cứu người. Ông nhớ lại rằng, khi thân mẫu của ông mắc bệnh, lại gặp phải thầy thuốc kém cỏi không trị được bệnh mà còn làm bệnh càng nặng hơn, còn bản thân ông thì lại không thể làm được gì giúp cho thân mẫu, vì vậy ông đem toàn bộ sách vở lý học đốt hết đi, dứt tuyệt ý niệm khoa cử, từ đó dốc hết tâm sức cho sự nghiệp y học.

Trước kia, ông cũng đã từng đọc các sách “Tố vấn”, “Nạn kinh” nhưng không lý giải được nhiều, năm ông 40 tuổi, ông quyết định rời quê nhà đi tìm thầy học nghề Y. Trong năm năm liền ông đi qua nhiều nơi, cuối cùng gặp được danh y La Tri Đễ (羅知悌), tên tự là Tử Kính (子敬, có bản viết là: Kính Phu 敬夫), tên hiệu là Thái Vô (太無), là người ở Tiền Đường (ND: nay thuộc Hàng Châu, Chiết Giang, Trung Quốc), vốn là học trò của danh y Lưu Hoàn Tố (劉完素). Tuy nhiên, La Tri Đễ lại là người kiêu căng và bảo thủ, ông đã nhiều lần xin yết kiến nhưng đều bị cự tuyệt, trong đó có bảy lần bị mắng. Ông vẫn không nản lòng, mỗi ngày khoanh tay đứng ở bên cửa, không kể mưa to gió lớn, bền lòng chờ đợi suốt năm tháng. Sau đó, La Tri Đễ cảm động, nhận ông làm đệ tử duy nhất, lúc đó ông đã 44 tuổi. La Tri Đễ ngoài truyền thụ cho ông tinh hoa của Lưu Hoàn Tố, còn truyền dạy cho ông sở học của các vị danh y như Trương Tòng Chính (張從正), Lý Đông Viên (李東垣), Vương Hải Tàng (王海藏), khiến cho y thuật của ông tiến bộ vượt bậc. Dưới sự hướng dẫn của thầy, trải qua nhiều năm học tập khắc khổ, ông đã nắm vững được tri thức lý luận y học và kinh nghiệm điều trị lâm sàng của thầy. Học xong, ông trở về quê hương dùng y thuật của mình trị khỏi chứng bệnh liệt cho thầy cũ là Hứa Khiêm. Từ đó, ông nghiên cứu sâu rộng hơn và dùng phương pháp mới trị bệnh cho người khác, trị đâu khỏi đó, danh tiếng vang xa, ai cũng biết đến, số người đến xin trị bệnh rất đông.

Về mặt lý luận, ông chủ trương: “陽常有餘,陰常不足 - Dương thường hữu dư, âm thường bất túc”; đối với tạp bệnh, ông lấy khí (氣), huyết (血), đàm (痰), uất (鬱) để biện chứng, ông còn sáng lập các danh phương như Đại bổ âm hoàn, Việt cúc, Bảo hòa hoàn.

Để truyền dạy cho hậu thế, ông cần mẫn biên soạn không ngơi nghỉ. Ông đã biên soạn rất nhiều bộ sách, trong đó có các bộ sách “Cách trí dư luận 格致餘論”, “Cục phương phát huy 局方發揮”, “Kim qũy câu huyền 金匱鉤玄” và “Bản thảo diễn nghĩa bổ di 本草衍義補遺”. Đối với bộ sách “Đan Khê tâm pháp 丹溪心法”, ban đầu vốn do Chu Đan Khê khởi thảo, là tuyển tập ghi chép lại những tâm đắc trong cả đời ông trong việc hành nghề Y, nhưng về sau bộ sách này còn được các đệ tử chân truyền của ông là các vị Triệu Chấn Đạo (趙震道), Triệu Dĩ Đức (趙以德), Vương Lý (王履), Đới Nguyên Lễ (戴原禮) thu thập, chỉnh lý thêm mà tập thành, đặt tên là “Đan Khê tâm pháp 丹溪心法”.

Photos from Hồ Gia Y Quán 胡家醫館's post 03/07/2025

LÂM CHỨNG CHỈ NAM Y ÁN - ĐẠI DANH Y DIỆP THIÊN SĨ

[Chỉ có họ Diệp xứng đáng là bậc “tâm linh thủ xảo”, suy nghĩ kỹ càng hơn người, trị pháp ở trong sách “Y án” rất nhịp nhàng ăn khớp, có thể tinh giản lại được thì quả thực là rất tài giỏi đó vậy, chỉ tiếc là người thời nay lại không biết nổi một, hai phần.
Tuy nhiên, pháp trị lại nằm rải rác ở trong sách “Y án”, chương trình chưa định rõ, người học thức nông cạn khi đọc đến, chỉ biết than thở là: Quá rối loạn. Việc ấy cũng không có gì quái lạ, khi người học sau đi lên mà lại cảm thấy như vẫn không có chỗ để dựa vào được.
Cho nên bản luận chọn lấy việc trích dẫn lại để nói một cách chung chung, định sơ qua quy mô, để cho người học có con đường mà đi tìm, sẽ tinh diệu hơn rất nhiều, không phải là chép lại đầy đủ đâu vậy. Người học vẫn nên tham khảo thêm các bậc danh gia, cẩn trọng tìm tòi ở trong “Y án” của họ Diệp thì sau mới có thể giỏi hơn được].

Trích: Lời bình của Ngô Cúc Thông tiên sinh về bộ sách “Lâm chứng chỉ nam y án” của Diệp Thiên Sĩ tiên sinh, ghi chép ở trong sách “Ôn bệnh điều biện”.

(ND luận bàn: Quả thực, bộ “Lâm chứng chỉ nam y án” là tinh hoa cả đời của Diệp Thiên Sĩ tiên sinh, 10 quyển trong bộ này, từng câu Y luận, từng Y án đều hàm súc trí tuệ hơn người của Diệp tiên sinh, ẩn chứa công phu mấy chục năm, cho nên “không hề dễ hiểu”, nếu như chỉ nhìn vào Y án ngắn gọn như người đời vẫn nghĩ. Tôi vì muốn tự mình bước được một chân vào Diệp môn và Ngô môn, nên cất công dịch thuật các Y thư được coi là bí truyền của họ Diệp và họ Ngô. Tuy sách cơ bản đã dịch được vài năm, song để nghiên cứu và phát huy được nhiều hơn nữa, còn phải cần trí tuệ và công sức của rất nhiều độc giả nữa. Kính mong chư vị rộng lòng đón nhận).

Đạt Tam Hồ Xuân Đức khiêm bái.

Photos from Hồ Gia Y Quán 胡家醫館's post 30/06/2025

HÀNH TRÌNH BÁI SƯ HỌC ĐẠO CỦA ĐẠI DANH Y CHU ĐAN KHÊ

Tôi (ND: tức Chu Đan Khê) đi tìm kiếm khắp nơi, chỉ cần nghe chỗ nào có thầy giỏi tôi đều đến xin bái kiến. Đã từng đi qua nhiều quận, nhưng không có một ai cả. Sau đó đến Định Thành (ND: là địa danh cổ, nay thuộc Hoàng Xuyên, Tín Dương, Hà Nam, Trung Quốc), mới gặp được sách “Nguyên bệnh thức”, và phương cảo của Đông Viên, mới hiểu được những chỗ viển vông của Tử Hoà, nhưng cuối cùng cũng vẫn chưa đủ để bàn luận, bèn bảo rằng chưa gặp được bậc thầy ở Giang, Chiết.

Mùa hè năm Ất Sửu, niên hiệu Thái Định, đời Nguyên (ND: tức là năm 1325. Lúc này, Chu Đan Khê tiên sinh đã 45 tuổi, ông đã đến Ngô Trung, nay là Tô Châu, Giang Tô. Sau lại đến Uyển Lăng, nay là Tuyên Thành, An Huy; rồi lại đến Nam Từ, nay là Trấn Giang, Giang Tô; rồi đến Kiến Nghiệp, nay là Nam Kinh. Rồi sau mới gặp được thầy La Tri Đễ ở Hàng Châu), qua lời Trần Chi Nham (ND: ?) mới được nghe đến tiếng của La Thái Vô tiên sinh (ND: tức là danh y La Tri Đễ (羅知悌), tên tự là Tử Kính (子敬, có bản viết là: Kính Phu 敬夫), tên hiệu là Thái Vô (太無), là người ở Tiền Đường, nay thuộc Hàng Châu, Chiết Giang, Trung Quốc), vốn là học trò của danh y Lưu Hoàn Tố (劉完素 - 劉河間), bèn đến xin bái kiến. Bị quát mắng tận năm, bảy lần, chờ đợi tận ba tháng, rồi mới chịu tiếp.

Vì thấy La tiên sinh trị bệnh cho một nhà sư, cơ thể ốm yếu, mệt mỏi, La công chẩn bệnh, biết rằng vì ông là người đất Thục, xuất gia khi thân mẫu vẫn còn sống, rồi đến Chiết Giang đã hơn bảy năm. Đột nhiên một ngày, nghĩ về mẹ mà lòng không thể kìm chế được, muốn quay về ôm lấy mẹ, bèn quay về hướng tây mà khóc thương, từ đó sinh bệnh. Lúc này nhà sư mới 25 tuổi, La tiên sinh bèn ở lại túc trực bên cạnh, mỗi ngày đều cho ăn thịt bò, dạ dày lợn, đồ ngọt béo, nấu cho chín nhừ. Sau hơn nửa tháng, lại khuyên bảo an ủi. Nhà sư lại bảo: Tôi xin đưa 10 đĩnh tiền làm lộ phí, nhưng tôi không lấy, chỉ muốn cứu lấy mạng của nhà sư thôi! Nhận thấy tình trạng đã khá hơn đôi chút, bèn cho dùng phương Đào nhân thừa khí, mỗi ngày uống 3 thang, ngăn chặn được huyết khối và đàm tích. Sau đó chỉ cho ăn rau chín và cháo loãng, sau nửa tháng thì bình thường. Sau nửa tháng, ông được trả 10 đĩnh tiền rồi tiếp tục lên đường.

Vì đột ngột gặp phải sự công kích, thì người phải mạnh mẽ, khoẻ mạnh, thì mới chịu đựng được. Bằng không thì tà được trừ thì chính khí cũng bị thương tổn, bệnh nhỏ tất sẽ càng nặng, bệnh nặng thì tất sẽ chết.

Mỗi ngày thầy La đều có người đến xin trị bệnh, bắt tôi chẩn mạch rồi bẩm báo lại. Thầy chỉ nằm nghe, rồi đọc cho tôi cách dùng dược vị nào để trị bệnh nào, cách dùng dược vị nào để thống lĩnh, dùng dược vị nào để dẫn kinh. Trải qua 1 năm rưỡi, vẫn chưa có phương nào cố định. Đến như trong một phương, đều có cả công và bổ, cũng có trước công sau bổ, cũng có trước bổ sau công. Cho nên tôi hiểu ra, làm sao những phương thuốc cổ lại có thể phù hợp trị bệnh ngày nay được? Tuỳ theo thời mà dùng đúng, có phải là như vậy không? Lúc đó, thầy La cũng nói việc dùng cổ phương để trị bệnh ngày nay, giống như việc phá căn nhà cũ để lấy vật liệu xây căn nhà mới, đồ gỗ không tương thích, không qua bàn tay của người thợ mộc, thì làm sao có thể dùng được?

Do đó, tôi lại nghĩ đến lời của Hứa Học sĩ (ND: Ông có tên thật là Hứa Thúc Vi, ông sinh năm 1079, mất năm 1154, tên tự là Tri Khả, là người ở Bạch Sa, Chân Châu đời Tống, nay là Nghi Chinh, Giang Tô, Trung Quốc. Ông là danh y thời Nam Tống, từng giữ chức Hàn Lâm Học Sĩ. Ông có trứ tác các bộ sách như “Thương hàn bách chứng ca”, “Thương hàn phát vi luận”, “Thương hàn cửu thập luận”, “Loại chứng phổ tế bản sự phương”, “Trọng Cảnh Mạch pháp tam thập lục đồ”) rằng: 予讀仲景書用仲景之法然未嘗守仲景之方。 - Ta đọc sách của Trọng Cảnh, dùng pháp của Trọng Cảnh, nhưng chưa từng dựa vào phương của Trọng Cảnh.

Đó là chính đã có được tâm ý của Trọng Cảnh rồi đó vậy. Bèn lấy phương cảo của Đông Viên, chép tay lại.

Hiểu ra khi trị bệnh, nên như sau khi Hán Cao tổ trị quân Tần bạo ngược, Chu Vũ vương trị nhà Thương, nếu không ban bố ân đức (ND: tức là nhà vua ban phát tiền bạc, lương thực cho dân chúng), cùng “tam chương chi pháp” (ND: tức là 3 điều Luật. Sau khi nước Tần bị diệt, Hán Cao tổ Lưu Bang đã ban bố 3 điều luật với các bậc phụ lão ở Quan Trung: Kẻ giết người sẽ bị xử tử, kẻ làm bị thương và trộm cắp sẽ bị trừng phạt. Ta sẽ bãi bỏ mọi điều Luật của nhà Tần. Tuy nhiên, sau khi đất nước Trung Hoa thống nhất, ba điều luật trên không đủ để răn đe kẻ gian, nên Tiêu Hà đã khôi phục lại Luật của nhà Tần), thì khí đã bị thương tổn, người đã mệt mỏi làm sao có thể bình phục được. Cho nên mới định liệu là âm dễ bị thương tổn, dương dễ chống cự lại, phải cân nhắc kỹ lưỡng việc công kích (ND: tức là pháp công phạt), cần phải giữ gìn chính khí, lấy bộ sách “Cục phương” để làm răn dạy đó vậy!.

(Trích: mục “Luận về việc Trương Tử Hoà ghi chép pháp công kích”, sách “Cách Trí Dư Luận” của danh y Chu Đan Khê đời Nguyên. Bản dịch của Hồ Xuân Đức).

Photos from Hồ Gia Y Quán 胡家醫館's post 30/06/2025

Tại sao có người nói: Diệp Thiên Sỹ mới thực sự là người đọc hiểu bộ sách “Thương Hàn Luận”?

Gia tộc danh y Đông Hán Trương Trọng Cảnh có hơn 200 người, không đầy 10 năm đã chết hơn 2/3, trong đó chết do thương hàn chiếm 7/10, ông ấy đau lòng vì tang thương, mọi người vì chết yểu không cứu được, nên bắt đầu tìm cầu các phương pháp điều trị tốt để phổ độ chúng sinh, ông đã kế thừa và phát triển “Tố Vấn Nhiệt Luận thiên”, viết ra bộ sách “Thương hàn luận”, sáng lập Lục kinh biện chứng để điều trị thương hàn, Trương Trọng Cảnh vì thế được hậu thế tôn kinh xưng là Y thánh, các phương thuốc của ống ấy được gọi là kinh phương.
Trong Thương hàn luận, phát sốt ban đầu của thương hàn thông thường chỉ có 2 trường hợp: Phát sốt mà có mồ hôi là thái dương biểu hư, dùng Quế chi thang; phát sốt mà không có mồ hôi là thái dương biểu thực dùng Ma hoàng thang. Với địa vị y thánh của Trương Trọng Cảnh phương pháp này là quy định bất di bất dịch về sau. Trong Ma hoàng thang và Quế chi thang đều có Quế chi, các y gia hậu thế phát hiện rằng một số bệnh nhân ngoại cảm phát sốt sau dùng Ma hoàng và Quế chi thang không những không khỏi mà thậm chí bệnh còn nặng hơn hoặc tử vong vì thế rút ra kết luận “Quế chi hạ yết, dương thịnh tắc tệ”(uống Quế chi, dương thịnh thì chết), không một chút ý thức đến việc có một số bệnh nhân không phải là cảm thụ phong hàn, vốn không nên dùng Ma hoàng thang và Quế chi thang. Tình trạng này đến tận thời Tùy Đường cũng không có sự thay đổi một chút nào.
Đời Kim Nguyên thiên hạ đại loạn, tư tưởng con người vì vậy ít bị ràng buộc phong kiến, đồng thời chiến tranh liên miên, ôn dịch lưu hành nhưng lúc này rất nhiều y gia vẫn ngộ dụng Ma, Quế thang trị ngoại cảm phát sốt, tại sao dùng kinh phương của y thánh lại không hiệu quả? Trong thực tiễn và suy xét nhiều lần, Kim Nguyên tứ đại y gia, Lưu Hoàn Tố cho rằng vận khí lúc đó không còn giống vận khí thời kỳ Đông Hán, vì vậy “cổ phương kim bệnh bất tương năng”, ngoại cảm phát sốt bây giờ cảm thụ là phong hàn, nhưng dùng Ma Quế chữa không tốt, nguyên nhân là “lục khí giai tòng hỏa hóa”, ngoại hàn nhanh chóng hóa hỏa hoặc kết hợp với nội nhiệt, dưới sự hướng dẫn của lý luận này ông chế ra các phương “Biểu lý song giải tán, Lương cách tán…” để chữa ngoại cảm phát sốt, các phương thuốc này đều dùng Ma, Quế là các thuốc tân ôn giải biểu cộng thêm các thuốc thanh nhiệt tả hỏa, các lương dược này đã khắc chế được ôn tính của Ma, Quế vì vậy đối với nhiều bệnh nhân phát sốt đều hữu hiệu, Lưu Hoàn Tố cũng được tôn kính là nhân vật đại diện cho Hàn lương Phái, đương nhiên trở thành 1 trong Kim Nguyên tứ đại y gia. Kim Nguyên tứ đại y gia tại sao lại bắt đầu từ Hàn lương phái? Tiếp theo tại sao lại xuất hiện Chu Đan Khê thuộc Tư âm phái với luận điểm “Dương thường hữu dư, âm thường bất túc”? Các câu hỏi này đều đáng để chúng ta suy nghĩ, tư âm và hàn lương đều như nhau mặc dù theo khách quan đều là sự sửa chữa việc dùng các thuốc ôn táo và đan thạch quá độ, tuy nhiên thời kỳ này vẫn chưa có người nào dám đặt ra việc nghi ngờ lục kinh biện chứng điều trị ngoại cảm nhiệt bệnh có hoàn toàn chính xác hay không? Vì vậy sự phát triển ở trên mới chỉ về lượng, chứ chưa có sự thay đổi về chất.
Y gia đời minh Ngô Hữu Tính (Hựu Khả) viết bộ sách Ôn dịch luận, đề xuất bệnh tà khí ngoại cảm gây bệnh ngoại trừ phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa còn một loại nữa: “dịch lệ chi khí” đây là sự thay đổi về chất đầu tiên trên mặt lý luận - do tà khí gây ngoại cảm thay đổi vì thế không thể áp dụng Ma, Quế chữa thương hàn như trước kia. Trước thời kỳ này nhiều y gia lấy căn cứ là “kim phu thương hàn giả, giai nhiệt bệnh chi loại dã” (thương hàn thời nay, đều là nhiệt bệnh) trong Tố vấn Nhiệt luận thiên, từ đó cho rằng Trương Trọng Cảnh điều trị tất các ngoại cảm nhiệt bệnh bao gồm lục dâm, vì thế từ trước đến nay chưa ai hoài nghi về tính chính xác của việc dùng lục kinh biện chứng điều trị ôn bệnh.
Người đi đầu trong tứ đại gia ôn bệnh đời Thanh là Diệp Thiên Sĩ từng theo học 17 y sư qua thực tiễn lâm sàng lâu dài quan sát thấy tà khí gây ôn bệnh và thương hàn không giống nhau, con đường xâm nhập, truyền biến cũng không giống nhau, tuy nhiên đều là từ ngoài vào trong. Nhưng thương hàn truyền biến theo lục kinh, ôn bệnh lại truyền biến theo vệ khí dinh huyết, cuốn Ôn nhiệt luận, ông viết tuy chỉ có hơn vạn chữ nhưng đã đề xuất ra những câu nói kinh điển về ôn bệnh “Ôn tà thượng thụ, thủ tiên phạm phế, nghịch truyền tâm bào” (ý nghĩa câu này sẽ được giải thích trong bản dịch tiếng Việt của Hồ Xuân Đức), đồng thời sáng tạo phương pháp biện chứng Vệ khí doanh huyết, chỉ ra nguyên tắc điều trị “tại vệ hãn chi khả hĩ, đáo khí tài khả thanh khí, nhập dinh do khả thấu nhiệt chuyển khí, nhập huyết tựu khủng hao huyết động huyết, trực tu lương huyết tán huyết” (在卫汗之可矣,到气才可清气,入营犹可透热转气,入血就恐耗血动血,直须凉血散血)。 Đến đây mới thực sự làm rõ lục kinh biện chứng không thích hợp dùng cho ôn bệnh. Vì thế tôi cho rằng người đầu tiên thực sự đọc hiểu thương hàn luận lại có thể thoát khỏi thương hàn luận là Diệp Thiên Sĩ.
Đến đây phương pháp biện chứng cho bệnh ngoại cảm có vẻ đã rất đầy đủ, nhưng sau Diệp Thiên Sĩ, y gia ôn bệnh nổi tiếng khác là Ngô Cúc Thông lại tinh tế phát hiện được rằng: Do tà khí có đặc tính trọng trọc đi xuống, vì thế các loại thấp nhiệt trong ôn bệnh, trừ việc đi từ ngoài vào trong truyền biến hướng ngang theo vệ khí dinh huyết, còn đi từ trên xuống dưới (thượng tiêu- trung tiêu- hạ tiêu), nguyên tắc điều trị là “trị thượng tiêu như vũ, phi khinh bất cử; trị trung tiêu như hằng phi bình bất an; trị hạ tiêu như quyền, phi trọng bất trầm” từ đó sáng lập phương pháp biện chứng tam tiêu.

Bây giờ chúng ta lại xem lại một chút trên thực tế Trương Trọng Cảnh đã sớm có nhận thức về ôn bệnh; “thái dương bệnh phát nhiệt nhĩ khát, bất ác hàn giả vi ôn bệnh. nhược phát hãn dĩ, thân trác nhiệt giả, vi phong ôn.”(bệnh thái dương phát sốt mà khát nước không có sợ hàn thì là ôn bệnh, nếu đổ mồ hôi hết cảm thấy người nóng thì là phong ôn). Ông sớm nhận thức được ôn bệnh và thương hàn không phải cùng 1 loại bệnh không thể dùng Ma, Quế để phát hãn, thế mà hơn 1000 năm sau Trọng Cảnh nhiều người lại mù quáng cho rằng lục kinh biện chứng có thể điều trị tất cả ôn bệnh, thật ngao ngán.
Vì thế sự xuất hiện của Kim Nguyên tứ đại gia từ: Hàn lương, Tư âm phái và sự sáng tạo ra các phương pháp biện chứng vệ khí dinh huyết, tam tiêu, trên thực tế là sự phát triển tất yếu của YHCT.

Trích: Bài giảng Giáo sư Cao Thụ Trung.
Nguồn: Không nhớ của ai!

Want your school to be the top-listed School/college in Hai Phong?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Category

Telephone

Website

Address


Hai Phong