08/07/2025
GIỚI THIỆU DANH Y "TIẾT TUYẾT" VÀ BẢN DỊCH TIẾNG VIỆT BỘ SÁCH "THẤP NHIỆT ĐIỀU BIỆN" CỦA ÔNG.
(Liên hệ Zalo 034 797 6866 - Để đăng ký)
Danh y Tiết Tuyết (薛雪), sinh năm 1681, mất năm 1770, tên tự là Sinh Bạch (生白), tên hiệu là Nhất Biều (一瓢), cũng có các tên hiệu là Tảo Diệp sơn nhân (掃葉山人), Ma kiếm đạo nhân (磨劍道人), Hòe Vân đạo nhân (槐雲道人), Mục ngưu lão hủ (牧牛老朽). Ông là người ở Ngô huyện, Giang Tô, Tô Châu, là một danh y đời Thanh, cùng thời với Diệp Thiên Sĩ (葉天士).
Ông hiếu học từ nhỏ, học rộng nhiều tài. Buổi thiếu thời học thi thư với danh nho Diệp Tiếp (葉燮) ở cùng quê của ông, sau lại học thêm các môn thư pháp, thư họa. Ông cũng thích võ công, tinh thông quyền thuật, kiếm thuật. Những năm đầu niên hiệu Càn Long, quan địa phương tiến cử ông đến Kinh thành tham dự khoa thi “Bác Học Hồng Từ 博學鴻詞”, nhưng hai lần thi đều không đỗ đạt. Do thân mẫu của ông hay mắc bệnh, ông bèn đổi hướng học y, ngồi học mười năm ở một căn lầu nhỏ, đọc rộng các sách, về sau ông tinh thông y thuật. Tính ông thích sống ẩn dật, không muốn giao thiệp nhiều, những người quyền qúy mời ông chẩn mạch, ông cũng ít khi chịu đi, tính ông phóng khoáng, chỉ thường hay cùng với một vài người bằng hữu ngâm thơ uống rượu.
Y thuật của ông cao siêu, chẳng những trị liệu tạp bệnh, mà còn chuyên trị bệnh thời khí (thời dịch). Năm thứ 20, niên hiệu Càn Long (1744), người đầu bếp của Viên Mai, tên Vương Tiểu Dư, bị bệnh dịch nguy kịch. Ông đến thăm bạn vào chiều tối, đốt nến xem bệnh, cười nói: “Tôi thích chống đối với con ma bệnh dịch, có thể thắng nó được”, bèn lấy ra một hoàn thuốc, bảo phu khiêng kiệu giã nát Thạch xương bồ lấy nước hòa thuốc, dùng đũa cạy miệng đổ cho uống, dặn rằng đến gà gáy thì người bệnh sẽ nói được. Quả đúng như lời ông nói, cho họ Vương uống hai lần thuốc nữa, bệnh bèn khỏi. Lại một lần, người hầu của Viên Mai, tên Trương Khánh phát cuồng, ăn vật gì vào thì đau như xé ruột, uống thuốc của nhiều thầy không hiệu nghiệm. Ông đến chơi, quan sát sắc mặt của họ Trương, rồi nói: “Đây là bệnh lãnh sa, cạo gió thì hết, không cần chẩn mạch”. Làm theo lời ông, thân người bệnh hiện lên những vết đen lớn bằng bàn tay, rồi lập tức bệnh khỏi.
Khoảng cuối thời nhà Minh, đầu thời nhà Thanh, bệnh ôn nhiệt bùng phát khắp cả nước. Một số y gia đương thời chịu ảnh hưởng tư tưởng học thuật của các danh y Tiết Kỷ và Trương Giới Tân, phần đông dùng thuốc ôn bổ nên trị liệu lầm chứng bệnh. Ông và Diệp Thiên Sĩ đồng ý với nhau về học thuyết “ôn bệnh và thấp nhiệt”, khai sáng phép trị mới, đạt được kết quả tốt, cho nên cả hai người đều nổi tiếng ở trong y lâm. Theo lời truyền lại, có một lần, hai họ Diệp và Tiết cùng chữa trị cho một người phát bệnh thủy thũng, Tiết thị nhận định là bệnh đã vào đến Cao hoang, từ chối chữa, Diệp thị biết được, đến khám lại nhận định là do thường hay cảm thụ độc từ ở nhang muỗi, điều trị một thời gian là khỏi bệnh. Từ việc đó sinh ra tức giận, thậm chí từ đó về sau không giao thiệp với nhau nữa, Tiết thị tự đặt tên ở trong nhà mình là Tảo Diệp trang (掃葉莊), Diệp thị biết được rất tức giận, liền đặt tên cho thư phòng của mình là Đạp Tuyết trai (踏雪齋). Về sau, có một lần khi thân mẫu của Diệp Thiên Sĩ mắc bệnh, ông ấy trị đã lâu mà không khỏi, rất lấy làm lo lắng, có người báo cho Tiết Tuyết hay bệnh tình. Ông nói rằng đó là bệnh độc dương minh kinh chứng, nếu không dùng “Bạch hổ thang 白虎汤” thì không thể dập tắt được lửa đang cháy rất mạnh, sinh Thạch cao cần phải dùng đến 2 cân thì phương mới có hiệu quả. Thiên Sĩ nghe được, lập tức tỉnh ngộ, lập tức dùng trọng tễ Bạch hổ thang, sau khi uống xong quả nhiên khỏi bệnh. Thiên Sĩ vô cùng bội phục y thuật của Tiết thị, chủ động đến tạ lỗi với ông, Tiết thị cũng vô cùng cảm động, lập tức cho tháo hoành phi Tảo Diệp trang xuống, từ đó hai người lại kính mến nhau như cũ. Về phương diện học thuật, ông có nhiều sáng kiến đối với bệnh thấp nhiệt, nên đã soạn quyển “Thấp nhiệt điều biện 濕熱條辨” để phân tích nguyên nhân gây bệnh thấp nhiệt, luận thuật biểu hiện lâm sàng của bệnh và phép chữa trị, đồng thời năm 1754, ông còn viết bộ sách “Y kinh nguyên chỉ 醫經原旨”, gồm có 06 quyển.
Về thành tựu y học của ông, ông cho rằng: Thấp nhiệt bệnh là do ngoại cảm trúng phải nhiệt bệnh, đó là do đã cảm thụ thấp tà, lại cảm thụ thử nhiệt tà, ắt thành thấp ôn bệnh đó vậy. Cũng có do thấp tà lưu phục lâu ngày mà hóa nhiệt, làm cho tà của thấp nhiệt kết tụ với nhau, mà làm thành bệnh thấp ôn. Ông còn cho rằng: Bệnh có liên quan mật thiết đến thời khí, từ Trưởng hạ cho đến đầu mùa thu, khí hậu ẩm ướt, lại có nắng nhiều, đã nóng lại còn có ẩm thấp, khi đó, con người thân thể nếu hư nhược thì sẽ rất dễ phát bệnh, mà phát thành bệnh thấp ôn. Bệnh thấp ôn, đã có thấp tà lại có nhiệt tà. Thấp tính niêm trệ, nhiệt tính viêm sí, cả hai tương hợp, thì tà nhiệt do có tính niêm trệ của thấp tà nên khó tiêu trừ được, thấp tà thì ắt do tính hay bốc lên của nhiệt tà mà di mạn khắp trên dưới, khiến cho bệnh tình thập phần nghiêm trọng. Chính vì thế, mà Tiết thị tổng kết lại rằng: “Nhiệt là khí của trời, thấp là khí của đất, nhiệt có thấp thì càng bốc lên, thấp có nhiệt thì càng hoành hành, thấp và nhiệt tách riêng, thì bệnh nhẹ mà từ từ, thấp nhiệt hợp lại, thì bệnh nặng mà nhanh chóng vậy”.
Tiết thị đối với thấp nhiệt bệnh quy nạp thành ba phương diện.
- Thứ nhất là có số ít bệnh nhân thì tà khí là từ ở bì mao xâm nhập vào. Quan điểm của Tiết thị không giống với Ngô Hựu Khả và Diệp Thiên Sĩ về quan điểm của ôn tà thượng thụ, vì chỉ cho rằng ôn tà từ ở miệng và mũi mà nhập vào vậy.
- Thứ hai, đại đa số người bệnh, tà khí là từ ở miệng và mũi mà nhập vào vậy, đó là quan điểm giống với các ôn bệnh học gia khác. Nói chung, ôn bệnh ắt là tà từ ở miệng mũi mà nhập vào, làm thương tổn tâm, phế tạng. Thấp nhiệt bệnh tà tuy cũng từ ở miệng và mũi mà nhập vào, nhưng sự thương tổn tạng, phủ ắt chủ yếu là ở tì và vị thôi vậy. Bởi vì tì thổ thuộc thái âm, chủ thấp mà lại sợ thấp, thấp tà rất dễ làm thương tì. Dương minh vị là tạng của dương thổ, là biển của thủy cốc, chủ táo mà lại sợ táo, thì rất dễ hóa hỏa. Nhân đó, bệnh biến nhiều thường ở lẽ đó.
- Thứ ba, tà khí từ ở trên mà cảm thụ vào, đã không ở tại tì tạng, lại cũng không ở tại vị phủ, mà là xâm phạm vào mạc nguyên. Tiết thị rất coi trọng sự thịnh suy của tì vị trong quá trình phát bệnh thấp nhiệt, ông chỉ điểm rằng: “Tì hư thấp thịnh” là điều kiện để sinh ra bệnh thấp nhiệt đó vậy.
Tiết thị nhận định bản chứng của thấp nhiệt thì chủ yếu có biểu hiện là: Ban đầu thì sợ lạnh, sau chỉ phát nhiệt mà không lạnh, ra mồ hôi, ngực bĩ tắc, lưỡi có sắc trắng hoặc vàng, miệng khát mà không muốn uống. Thấp nhiệt biểu chứng, Tiết thị chia làm ba loại, một là thấp tà thương biểu, một là thấp tà ở tại cơ nhục, đó là thấp nhiệt xâm phạm kinh lạc. Nếu nói thấp tà thương biểu, là chỉ thấp tà trở át ở vệ dương của thân thể. Có thể thấy các chứng trạng sợ lạnh, không có mồ hôi, người nặng nề, đầu đau nhức, hung bĩ, eo lưng đau nhức. Lúc đó, nên dụng pháp tán thấp tà ở tại biểu phận, cho nên dùng các vị như Hoắc hương, Hương nhu, Khương hoạt, Thương truật bì, Bạc hà, Ngưu bàng tử. Thấp tà thương tổn đến cơ nhục, dương minh kinh, thấy các chứng trạng như sợ lạnh, phát nhiệt, ra mồ hôi, người nặng nề, khớp xương đau nhức, hung bĩ, eo lưng đau nhức, trị pháp dùng các vị như Hoạt thạch, Đại đậu hoàng quyển, Phục linh bì, Thương truật bì, Hoắc hương diệp, tiên Hà diệp, Cát cánh. Nếu thấp tà xâm nhập vào kinh lạc của cơ thể, sẽ thấy tứ chi câu cấp, nặng ắt cảm thấy co rút lại, cấm khẩu, nên dùng các dược vị như tiên Địa long, Tần giao, Uy linh tiên, Hoạt thạch, Thương nhĩ tử, Ty qua lạc, Hải phong đằng, Hoàng liên sao rượu. Nếu như thuộc thấp tà thiên thịnh ở lý phận, lại chia ra các tình huống không giống nhau. Có thấp trệ ở dương minh kinh, thấy có rêu lưỡi biến thể trắng, miệng khát, nên dùng vị tân để khai thông, khiến cho thượng tiêu được thông lợi, tân dịch được hành, chọn dùng các vị như Hậu phác, Thảo qủa, Bán hạ, can Xương bồ. Lại có thấp tà vây khốn thái âm kinh, hiện các chứng trạng sợ lạnh, sắc mặt vàng, miệng không khát, thần chí mệt mỏi, chân tay rã rời, mạch trầm nhược, bụng đau nhức, hạ lợi, trị nên dùng pháp ôn tì dương, hóa thấp trọc, dụng các phương Súc tì ẩm, Đại thuận tán, Lai phục đan. Nếu thấp nhiệt trở át mạc nguyên, thấy có hàn nhiệt thác tạp như ngược tật, có thể dùng pháp sơ lợi mạc nguyên của Ngô Hựu Khả, giống như Đạt nguyên ẩm, Lục nhất tán. Nếu thấp nhiệt đều trong ở lý phận, thấy đầu lưỡi đỏ, gốc lưỡi có rêu trắng, nói rõ là thấp tà lưu trệ, chỉ hóa nhiệt từ từ, trị liệu có một phương diện là hóa thấp, một phương diện là thanh nhiệt. Đối với nhiệt tà thiên thịnh ở lý phận, ắt nên cấp dùng pháp thanh nhiệt tiết nhiệt, biện rõ nhiệt tà ở tại vệ khí, doanh huyết không giống nhau, thì dùng thêm pháp luận trị của Diệp Thiên Sĩ nữa vậy. Nếu thấp nhiệt đầy tràn khắp tam tiêu, là do thấp tính niêm trệ, dễ trở át khí cơ, cho nên theo tam tiêu phân chứng mà thi trị. Đối với thấp nhiệt tà làm cho thương âm, Tiết thị chọn dùng các dược vị như tiên Sinh địa, Lô căn, sinh Thủ ô, tiên Đạo căn, để phục hồi lại tân dịch trong vị phủ, lại có thể tiết nhiệt khư tà. Đối với thấp nhiệt tà làm cho dương hư, là do thử tà thương tổn nguyên khí, khiến cho phế khí bất túc, trước tiên sẽ phát các chứng trạng khái thấu, hơi thở ngắn, mệt mỏi, miệng khát, nhiều mồ hôi, mạch hư muốn tuyệt, có thể dùng các dược vị như Nhân sâm, Mạch đông, Ngũ vị tử để ích khí sinh mạch. Nếu trung khí bất túc, khiến cho thăng giáng thất thường, thấy bệnh sau vài ngày, có các chứng như ẩu thổ, tiết tả, tì khí đại hư, trung khí không chống đỡ được, có thể dùng các dược vị như sinh Mạch nha, Liên tử tâm, Biển đậu, Ý dĩ nhân, Bán hạ, Cam thảo, Phục linh để ôn trung kiện tì.
Nghiên cứu của Tiết Tuyết tiên sinh về "thấp nhiệt bệnh", đã làm nổi bật sự kết hợp giữa "thấp tà" và "nhiệt tà", nắm được điểm mấu chốt của hai loại tà có sự khinh, trọng khác nhau, phương pháp biện chứng đều kết hợp cả tạng phủ, tam tiêu, biểu lý, khiến cho dung hòa làm một thể, phân tích kỹ lưỡng về thấp nhiệt bệnh chứng, rất có lợi ích khi ứng dụng trên lâm sàng. Về pháp trị liệu trên, có các đại pháp ôn hóa, thanh tả, thanh nhiệt khư thấp, đồng thời lại có các pháp phối ngũ như bổ dương, ích khí, dưỡng âm, sinh tân, nhưng lúc dụng dược nên chú ý đến các phương diện “thanh nhiệt không ngại thấp, khư thấp bất trợ nhiệt, phù chính bất ngại khư tà, khư tà nên chú ý đến phù chính”. Khi trị liệu không câu chấp ở việc thành phương cố định, thể hiện được đặc điểm khi trị liệu thấp nhiệt bệnh, lập thành quy củ cho hậu thế khi trị liệu thấp nhiệt bệnh, tư tưởng học thuật của ông có sức ảnh hưởng rất sâu rộng đó vậy.
Hậu bối Hồ Xuân Đức, tự Đạt Tam,
khiêm đề tại Thư phòng Cổ Nguyệt Đường.