20/03/2022
GIAO DỊCH LIÊN KẾT
Khi đề cập đến giao dịch liên kết (gọi tắt là: GDLK), thì hầu hết mọi người đều nghĩ ngay đến hoạt động CHUYỂN GIÁ, và cho rằng GDLK chỉ liên quan đến các DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Do vậy, các DN Việt Nam thường không quan tâm đến GDLK, và không thuộc đối tượng cần tuân thủ quy định về Quản lý thuế đối với các DN có GDLK.
Nhưng! Hiện nay, với các quy định về quản lý thuế đối với GDLK, các giao dịch thông thường của DN Việt Nam, tưởng chừng như không có liên quan, dính dáng gì đến việc CHUYỂN GIÁ, trên thực tế phải chịu sự quản lý của quy định pháp luật về GDLK theo Nghị định số 132/2020/NĐ-CP ngày 05/11/2020.
————
KHI NÀO THÌ XÁC ĐỊNH LÀ DN CÓ GIAO DỊCH LIÊN KẾT?
DN được xác định có GDLK là khi DN CÓ PHÁT SINH với các bên CÓ QUAN HỆ LIÊN KẾT (gọi tắt là: QKLK).
=> Nghĩa là A và B sẽ được xác định là có GDLK nếu đáp ứng cả 2 điều kiện sau:
- Một là: A và B có Quan hệ liên kết.
- Hai là: Trong kỳ tính thuế A và B có PHÁT SINH giao dịch với nhau.
# VẬY, thế nào là CÁC BÊN CÓ QUAN HỆ LIÊN KẾT?
Ở đây ta lấy ví dụ: A nắm giữ ít nhất 25% vốn chủ sở hữu của B, hoặc A và B cùng do 1 cá nhân điều hành, … thì tổng cộng có 11 trường hợp cụ thể để xác định là các bên có QUAN HỆ LIÊN KẾT được quy định tại Khoản 2, Điều 5, Nghị định 132/2020.
# Còn việc PHÁT SINH giao dịch, thì giao dịch ở đây có thể là: Mua, bán, thuê, cho thuê, dịch vụ; vay, cho vay, … được quy định chi tiết tại Khoản 2, Điều 1, Nghị định 132/2020.
# Trong bài viết này, chúng ta chỉ bàn về các DN có GDLK trong phạm vi VAY & CHO VAY mà trong kinh doanh các DN Việt Nam thường gặp thôi nhé!
Có 2 trường hợp đi vay dẫn đến được xác định là có GDLK:
- [MỘT]: DN này vay một DN khác hoặc được một DN khác bảo lãnh để vay với điều kiện khoản vốn vay ÍT NHẤT bằng 25% VỐN CHỦ SỞ HỮU và chiếm TRÊN 50% tổng giá trị CÁC KHOẢN NỢ TRUNG và DÀI HẠN của DN đi vay.
** LƯU Ý!
Trong khoản [MÔT] có đoạn văn “khoản vốn vay ít nhất bằng 25% vốn chủ sở hữu và chiếm trên 50% tổng giá trị các khoản nợ trung và dài hạn”.
Chữ “VÀ” này ta hiểu rằng: Nếu vay của DN bằng 25% vốn chủ sở hữu trở lên, NHƯNG chiếm không quá 50% tổng giá trị các khoản nợ trung và dài hạn thì CHƯA ĐƯỢC XÁC ĐỊNH là DN có GDLK. Hoặc ngược lại: Khoản vay chiếm trên 50% tổng giá trị các khoản nợ trung và dài hạn, NHƯNG chưa đến mức 25% vốn chủ sở hữu thì cũng chưa được xác định là có GDLK.
- [HAI]: DN vay của cá nhân điều hành, kiểm soát DN hoặc vay của cá nhân thuộc một trong các mối quan hệ ( (3 đời nội, ngoại Á!) được quy định tại Điểm g, Khoản 2, Điều 5, Nghị định 132/2020 như: Vợ, chồng, cha mẹ, con cái, anh em … ÍT NHẤT 10% vốn chủ sở hữu tại thời điểm phát sinh giao dịch trong kỳ tinh thuế.
# TÓM LẠI: Nếu DN đi vay [MỘT] trong [HAI] trường hợp nêu trên thì được xác định là có GDLK và sẽ bị KHỐNG CHẾ chi phí lãi vay được trừ trong kỳ tính thuế TNDN.
# Ví dụ 1:
DN A vay của Ngân hàng thì có được xác định là có GDLK hay không? Hay phải vay của DN khác thì mới được xem là có GDLK?
** Về Ngân hàng: Căn cứ vào khoản 1, điều 4, Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010 thì: “Tổ chức tín dụng là DN thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân. Do đó ngân hàng cũng là DN và thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định 132/2020.
=> VẬY: Nếu DN A vay của ngân hàng khoản tiền ít nhất bằng 25% vốn chủ sở hữu và chiếm trên 50% tổng giá trị các khoản nợ trung và dài hạn thì được xác định là DN có GDLK.
# Ví dụ 2:
Trong kỳ tính thuế, DN-B vay từ 3 tổ chức X, Y, Z. Khoản vay của từng tồ chức X, Y, Z riêng rẽ, chưa đạt mức ít nhất bằng 25% vốn chủ sở hữu và chiếm trên 50% tổng giá trị các khoản nợ trung và dài hạn. Nhưng tổng vay từ 3 tổ chức X, Y, Z cộng lại thì đạt mức quy định đó thì DN B có được xác định là có GDLK không? Ở đây, ta sẽ xem xét khoản vay của từng đối tượng X, Y, Z riêng lẽ, không phải xét các tổng khoản vay của các đối tượng X, Y, Z cộng lại, nên DN-B và 3 tổ chức X, Y, Z không có Quan hệ liên kết.
# Ví dụ 3:
Trong kỳ tính thuế, DN-C vay của DN-D nhưng chia ra nhiều lần vay, nếu xét các khoản vay từng lần riêng lẻ thì chưa đủ mức xác định là có GDLK, nhưng nếu tổng dư nợ của các lần vay trong kỳ đạt mức quy định thì DN-C vẫn được xác định là có GDLK.
# Ví dụ 4:
Trong kỳ tính thuế, DN-C vay của DN-D chia ra nhiều lần vay, nhưng vay khoản nào trả khoản đó, xong mới vay tiếp, thì lúc này sẽ xét trên từng khoản vay để xác định là có GDLK hay không?
# Ví dụ 5:
DN-E vay tiền của giám đốc DN-E thì có phải là có GDLK hay không? Giám đốc là cá nhân điều hành, kiểm soát DN-E, nên nếu như DN vay Giám đốc một khoản tiền ÍT NHẤT 10% vốn chủ sở hữu tại thời điểm phát sinh giao dịch vay trong kỳ tính thuế thì DN-E sẽ được xác định là có GDLK.
# LƯU Ý!
1- “Mượn tiền” hay “Vay không trả lãi”, hoặc “Vay với lãi suất 0%” vẫn được xác định là có GDLK nếu thuộc khoản [MỘT] trong [HAI] trường hợp nêu trên.
2- Việc so sánh khoản vốn vay có ít nhất bằng 25% vốn chủ sở hữu hay không? Thì dựa trên số liệu vốn chủ sở hữu tại thời điểm phát sinh khoản vay.
3- Việc so sánh khoản vốn vay có chiếm trên 50% tổng giá trị các khoản nợ trung và dài hạn hay không? Thì dựa trên số liệu Nợ trung và dài hạn trên Bảng cân đối kế toán tại thời điểm khoá sổ kế toán (thời điểm lập BCTC của DN) để làm căn cứ so sánh.
Theo Thông tư 200/2006 thì: Nợ dài hạn “là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị các khoản nợ dài hạn của DN, bao gồm những khoản có thời hạn thanh toán còn lại từ 12 tháng trở lên, hoặc trên một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường tại thời điểm bán cáo” như: Khoản phải trả người bán dài hạn, vay và nợ thuê tài chính dài hạn …
4- DN có GDLK thì phải xác định chi phí lãi vay được trừ trong kỳ theo quy định tại điểm a, Khoản 3, điều 16, Nghị định 132/2020 như sau:
“Tổng lãi tiền vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay phát sinh trong kỳ của NNT được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN không vượt quá 30% của tổng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trong kỳ cộng lãi tiền vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay phát sinh trong kỳ cộng chi phí khấu hao phát sinh trong kỳ của NNT”.
** [Tổng lợi nhuận thuần + (Chi phí lãi vay - lãi tiền gửi -lãi cho vay) + Chi phí khấu hao] được gọi tắt là EBITDA.
# CÔNG THỨC tính Tổng lãi vay được trừ với DN có GDLK như sau: “TỔNG LÃI TIỀN VAY ĐƯỢC TRỪ TỐI ĐA = 30% * EBITDA.”
* Ví dụ công thức:
Năm 2021, DN-A được xác định có GDLK, tính chi phí lãi vay được trừ với số liệu như sau:
(1) Doanh thu bán hàng và CCDV: 500.000
(2) Giá vốn hàng bán: 250.000
(3) Chi phí bán hàng: 60.000
(4) Chi phí quản lý DN: 140.000
(5) Chi phí khấu hao (đã nằm trong chi phí bán hàng và Chi phí quản lý DN): 5.000
(6) Doanh thu hoạt động tài chính: 6.000
(7) - Trong đó: Lãi tiền gửi, lãi cho vay: 5.000
(😎 Chi phí hoạt động tài chính: 35.000
(9) - Trong đó: Chi phí lãi vay: 30.000
(10) Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh (1+6-2-3-4-8): 21.000
(11) Tính EBITDA (tổng lợi nhuận thuần + Chi phí lãi vay - Lãi tiền gửi - Lãi cho vay + Chi phí khấu hao) =10 (21.000)+9 (30.000) - 7 (5.000) + 5 (5.000) = 51.000
(12) Tổng chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay được trừ (