Học văn cùng cô Tuyên

Học văn cùng cô Tuyên

Share

1. Chinh phục mọi kì thi với điểm văn 8+
2. Rèn kỹ năng đọc hiểu văn bản, luyện viết chuyên sâu, phát triển tư duy ngôn ngữ và sáng tạo.
3. Hotline: 0936.246.808🥰

Liên tục tuyển sinh các lớp văn 6.7.8 9.
4. Ôn thi vào 10, bám sát cấu trúc đề mới nhất.

25/12/2025

[ĐỀ SỐ 31] 🎄🎄🎄
Đề bài: Viết bài văn nghị luận xã hội 600 chữ về chủ đề: Bước ra khỏi vùng an toàn hay mở rộng vùng an toàn?

Bài làm
Trong cuộc sống, mỗi người đều tồn tại trong “vùng an toàn” - nơi ta cảm thấy thoải mái, quen thuộc và ít rủi ro. Nhưng cũng chính nơi ấy có thể trở thành bức tường vô hình giam hãm con người trong sự trì trệ. Vì thế, câu hỏi đặt ra là: ta nên bước ra khỏi vùng an toàn hay mở rộng vùng an toàn? Đây không chỉ là lựa chọn của tư duy mà còn là cách mỗi người đối diện với sự phát triển của chính mình.
“Bước ra khỏi vùng an toàn” là hành động dám rời bỏ những điều quen thuộc để đối diện với thử thách, rủi ro và những điều chưa biết. Trong khi đó, “mở rộng vùng an toàn” không hẳn là rời bỏ hoàn toàn nơi ta đang đứng, mà là dần dần học hỏi, thích nghi để vùng an toàn ấy ngày một rộng hơn. Sự khác biệt giữa hai cách không nằm ở điểm đến, mà ở cách con người trưởng thành trong quá trình vượt qua giới hạn của mình. Điều cốt lõi không phải là rời đi hay ở lại với những sự lựa chọn ít rủi ro, mà là phát triển chính mình. Vì thế có lẽ ta nên học cách kết hợp: dám bước ra khỏi vùng an toàn để mở rộng chính vùng an toàn của mình.
Trong thực tế, không phải ai cũng đủ dũng cảm để bước ra khỏi vùng an toàn của chính mình. Nhiều người trẻ ngày nay đang sống trong tâm thế an phận, ngại va chạm và sợ thất bại. Họ chọn những công việc ổn định, lối sống an toàn, ngại thử thách và sợ thay đổi. Chính nỗi sợ bị đánh giá, sợ rủi ro khiến họ dừng lại ở vùng an toàn của bản thân, dù trong lòng luôn có khát vọng vươn lên. Ngược lại, cũng có những bạn trẻ đang từng ngày nỗ lực phá bỏ giới hạn ấy, dám thử thách bản thân ở những môi trường mới, chấp nhận khó khăn để học hỏi và trưởng thành.
Nhiều người trẻ vẫn bị “giam cầm” trong sự an toàn quen thuộc. Họ ngại thay đổi, sợ thất bại, chọn công việc ổn định dù không phù hợp, chọn im lặng thay vì thể hiện quan điểm. Tuy nhiên, cũng có những người chọn cách đối diện và tiến lên từng bước nhỏ. Họ không nhất thiết phải rời bỏ tất cả, mà biết cách biến điều mới mẻ thành điều quen thuộc, biến sợ hãi thành năng lực, bước ra ngoài “sự ổn định” của bản thân để tiếp tục phát triển chính mình. Steve Jobs – người sáng lập Microsoft đã từng bỏ học, mạo hiểm đi theo niềm đam mê công nghệ trong thời điểm mà không ai tin tưởng. Chính nhờ dám bước ra khỏi vùng an toàn của một sinh viên đại học, ông đã mở ra kỷ nguyên mới của sáng tạo và công nghệ. Hay như vận động viên Nguyễn Thị Oanh, cô gái “vàng” của điền kinh Việt Nam đã dám thử sức ở nhiều nội dung khác nhau, vượt qua giới hạn thể lực và nỗi sợ thất bại để khẳng định năng lực của mình trên đấu trường khu vực. Những con người ấy không chỉ bước ra khỏi vùng an toàn, mà còn từng bước mở rộng nó bằng nỗ lực, bản lĩnh và niềm tin.
Bước ra khỏi vùng an toàn không có nghĩa là mù quáng rời bỏ mọi thứ; điều quan trọng là mở rộng nó một cách có định hướng. Khi ta học thêm một kỹ năng, dấn thân vào một dự án mới, hay thử nói lên suy nghĩ thật của mình, vùng an toàn ấy đã được mở rộng. Một người khôn ngoan sẽ lựa chọn mở rộng vùng an toàn của mình một cách có chiến lược: từ tích lũy tri thức, trau dồi kỹ năng, học cách thích nghi với thay đổi. Chính quá trình đó mới giúp con người trưởng thành mà không đánh mất sự cân bằng. Giống như con chim non, nó cần nhảy khỏi tổ để tập bay, nhưng phải đủ lông đủ cánh mới có thể chạm đến bầu trời. Ngày nay, khi xã hội biến động không ngừng, con người càng phải học cách thích nghi, linh hoạt và dấn thân. Nếu chỉ mãi ở trong vùng an toàn, ta sẽ bị tụt lại phía sau. Nhưng nếu biết chủ động mở rộng giới hạn ấy, ta sẽ biến vùng an toàn của hôm nay thành nền tảng cho những bước tiến ngày mai.
Với riêng bản thân tôi, mỗi lần đối diện với điều mới, đối diện với một thử thách, một cơ hội, hay thậm chí là một nỗi sợ tôi đều tự nhủ: “Hãy thử một bước thôi.” Chính những bước nhỏ ấy giúp tôi nhận ra, vùng an toàn không phải là ranh giới cố định, mà là nơi chúng ta cần có lòng dũng cảm. Bởi chỉ khi dám đi, ta mới đến đích; chỉ khi dám khác, ta mới trưởng thành. Mỗi khi đối diện với thử thách, tôi không còn xem đó là việc “bước ra” để rời bỏ, mà là “bước lên” để mở rộng bản thân.
Cuộc sống không ngừng thay đổi, và con người chỉ thực sự trưởng thành khi biết dịch chuyển ranh giới an toàn của chính mình. Dù là “bước ra” hay “mở rộng”, điều quan trọng nhất vẫn là không để nỗi sợ kìm hãm ta quá lâu. Bởi đôi khi, một bước dấn thân cũng đủ mở ra cả chân trời mới của cuộc đời.
ST

Photos from Học văn cùng cô Tuyên's post 15/12/2025

Hsg tp HP

24/11/2025

🌷Bước 1: Đọc qua ngữ liệu một lượt
-Đánh dấu những hình ảnh, câu thơ gây ấn tượng hoặc lặp lại nhiều lần.
-Xác định: bài nói về ai, việc gì, cảm xúc chính là gì.
-Mẹo nhỏ:
Nhìn vào nhan đề + câu mở đầu và câu kết → thường là trọng tâm tư tưởng.
🌷Bước 2: Gạch các hình ảnh, từ ngữ, biện pháp nghệ thuật nổi bật
-Chú ý các từ lặp lại → có thể là điệp ngữ, nhấn mạnh cảm xúc.
-Hình ảnh mang tính biểu tượng
-Dấu hiệu của các biện pháp như: ẩn dụ, nhân hóa, đối lập, so sánh, nói giảm nói tránh…
-Mẹo nhỏ:
Nếu không nhớ tên biện pháp, vẫn có thể cảm nhận tác dụng (ví dụ: “câu thơ lặp lại nhiều lần tạo cảm xúc day dứt”).
🌷Bước 3: Nhận xét giọng điệu và cảm xúc
-Giọng thơ: tha thiết, đau thương, ngợi ca, tự hào, lặng lẽ, trang nghiêm…
-Cảm xúc: thương xót, biết ơn, tự hào, nuối tiếc, hy vọng…
-Mẹo nhỏ:
Cảm xúc thường đi kèm với từ ngữ, dấu câu ….
🌷Bước 4: Tóm gọn thông điệp , ý nghĩa mà tác phẩm truyền tải
-Bài thơ gửi gắm điều gì?( uống nước nhớ nguồn , sống yêu thương, giữ gìn bản sắc…)
Mẹo nhỏ:- Để ý câu chữ , nội dung, hình ảnh
-Hãy thử đặt câu hỏi: “Tác giả muốn nhắn nhủ gì với người đọc?”

18/10/2025

QUY TRÌNH VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI 200 CHỮ

🧿Bước 1. Dẫn dắt + Nêu vấn đề
• Mở đầu bằng 1–2 câu dẫn gợi mở, định hướng chủ đề.
• Viết câu chủ đề rõ ràng, trực diện, nêu thẳng nội dung cần bàn luận.
🔹Ví dụ: Trong cuộc sống, tinh thần đoàn kết giữ vai trò then chốt giúp con người và cộng đồng vươn tới thành công.
🧿Bước 2. Giải thích
• Giải thích khái niệm, bản chất hoặc ý nghĩa của vấn đề.
🔹Ví dụ: Đoàn kết là sự gắn bó, đồng lòng của nhiều cá nhân cùng hướng tới mục tiêu chung, chia sẻ khó khăn và cùng nhau vượt qua thử thách.
🧿Bước 3. Bàn luận (Triển khai luận điểm chính)
Có thể triển khai theo:
• Cách 1 – Liệt kê: Thứ nhất…, Thứ hai…, Thứ ba…
• Cách 2 – Mạch phát triển tự nhiên: Trước tiên…, Bên cạnh đó…, Mặt khác…, Thực tế là…
🔹Ví dụ:
• Thứ nhất, đoàn kết tạo nên sức mạnh tập thể vượt lên giới hạn cá nhân.
• Thứ hai, đoàn kết giúp cộng đồng vững vàng trước khó khăn, thử thách.
• Thứ ba, đoàn kết kiến tạo môi trường nhân văn, nơi không ai bị bỏ lại phía sau.
🧿Bước 4. Dẫn chứng
• Nêu một số dẫn chứng cụ thể, tiêu biểu, gần gũi.
🔹Ví dụ: Nhờ đoàn kết, dân tộc Việt Nam đã giành thắng lợi trong các cuộc kháng chiến; hay trong thời bình, toàn dân đồng lòng chống dịch Covid-19.
🧿Bước 5. Phản đề
• Nêu biểu hiện sai lệch/đối lập để khẳng định thêm.
Ví dụ: Ngược lại, nếu thiếu đoàn kết, tập thể dễ chia rẽ, cá nhân dễ rơi vào cô lập và khó đi đến thành công.
🧿Bước 6. Bài học và kết đoạn
• Rút ra nhận thức, hành động cho bản thân và cộng đồng.
• Kết thúc bằng câu khẳng định, nhấn mạnh.
🔹Ví dụ: Mỗi người hãy nuôi dưỡng tinh thần đoàn kết trong học tập, lao động và đời sống để cùng nhau tạo dựng một xã hội văn minh, nhân ái
ST

Photos from Học văn cùng cô Tuyên's post 18/10/2025

Kiến thức ôn GKI văn 6 Cánh Diều và Kết nối

15/10/2025

CÁC THỂ THƠ
1. Thể thơ bốn chữ
Trong các loại thể thơ của nước ta, thể thơ bốn chữ có thể được xem là một trong những thể thơ đơn giản nhất. Quy luật sử dụng thể thơ này cũng tuân theo luật bằng trắc như các thể thơ khác: Chữ thứ 2 và chữ thứ 4 trong câu thơ có sự luân phiên giữa T – B hoặc B – T.
Về cách nhận biết, ta có thể xem xét số lượng chữ trong một câu thơ và quy luật bằng trắc. Đây là thể thơ mà mỗi câu chỉ có 4 chữ. Thể thơ này không giới hạn số lượng câu trong một bài.
Thể thơ bốn chữ có cách gieo vần rất linh hoạt. Tùy theo dụng ý, mục đích của mình mà người viết có thể gieo vần chéo, vần bằng, vần liền, vần chân, hay vần lưng… Điều này sẽ tạo nên điểm nhấn về nhịp điệu trong từng câu thơ.
Một số tác phẩm văn học tiêu biểu có sử dụng thể thơ bốn chữ là:
“Mùa xuân đi rồi
Nhiều hoa vắng mặt
Như chị hoa đào
Ra đi trước nhất
(Hoa cỏ – Tế Hanh)
“Em bước vào đây
Gió hôm nay lạnh
Chị đốt than lên
Để em ngồi cạnh.”
(Chị em – Lưu Trọng Lư)
“Chú bé loắt choắt,
Cái xắc xinh xinh,
Cái chân thoăn thoắt,
Cái đầu nghênh nghênh,
Ca-lô đội lệch,
Mồm huýt sáo vang,
Như con chim chích,
Nhảy trên đường vàng…”
(Lượm – Tố Hữu)
2. Thể thơ năm chữ
Tương tự như thể thơ bốn chữ, thể thơ năm chữ có quy luật sử dụng tuân theo luật bằng trắc: Chữ thứ 2 và chữ thứ 4 trong mỗi câu thơ đều có sự luân phiên giữa T – B hoặc B – T.
Để nhận biết thể thơ năm chữ, ta dựa vào số lượng chữ và luật bằng trắc trong mỗi câu thơ. Thể thơ năm chữ không giới hạn cụ thể về số lượng câu trong một bài thơ. Dung lượng của bài thơ tùy thuộc vào ý đồ của người viết.
Về cách gieo vần, thể thơ này giống với thể thơ bốn chữ. Bạn có thể gieo vần linh hoạt như: Vần chéo, vần bằng, vần liền, vần chân, vần lưng… Ngoài ra, bạn cũng có thể kết hợp nhiều cách gieo vần khác nhau ngay trong một bài thơ.
Một số tác phẩm văn học tiêu biểu có sử dụng thể thơ năm chữ là:
“Trên đường hành quân xa
Dừng chân bên xóm nhỏ
Tiếng gà ai nhảy ổ:
“Cục… cục tác cục ta”
Nghe xao động nắng trưa
Nghe bàn chân đỡ mỏi
Nghe gọi về tuổi thơ”
(Tiếng gà trưa – Xuân Quỳnh)
“Anh đội viên nhìn Bác
Càng nhìn lại càng thương
Người Cha mái tóc bạc
Đốt lửa cho anh nằm…”
(Đêm nay Bác không ngủ – Minh Huệ)
“Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc,
Ơi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng”
(Mùa xuân nho nhỏ – Thanh Hải)
3. Thể thơ sáu chữ
Trong các loại thể thơ, thể thơ sáu chữ được nhiều người yêu thích vì có âm điệu nhẹ nhàng, dễ gieo vần và rất dễ thuộc. Về quy luật nhận biết, ta dựa vào quy luật bằng trắc tương tự với thể thơ bốn chữ và năm chữ.
Về cách nhận biết, thể thơ sáu chữ chỉ bao gồm 6 chữ trong mỗi câu thơ. Thể thơ này cũng không giới hạn về số lượng câu trong cả bài thơ, nên được nhiều người lựa chọn để sáng tác.
Cách gieo vần trong thể thơ sáu chữ là vần ôm hoặc vần chéo. Bạn cũng có thể kết hợp cả hai cách gieo vần này để tạo nên nhịp điệu cho bài thơ.
Một số tác phẩm văn học tiêu biểu có sử dụng thể thơ sáu chữ là:
“Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay”
(Quê hương – Đỗ Trung Quân)
“Khi hôn lên câu thơ hay
Ấp trang sách vào mái ngực
Em nghe tim mình thổn thức
Thương người làm thơ đã mất
Trái tim giờ ở nơi đâu?”
(Anh đừng khen em – Lâm Thị Mỹ Dạ)
4. Thể thơ bảy chữ
Thể thơ bảy chữ cũng rất phổ biến trong các loại thể thơ của dân tộc. Đây là một thể thơ khá đơn giản. Về quy luật sử dụng, ta có thể dựa vào quy luật bằng trắc linh hoạt, tương tự như thể thơ bốn chữ, năm chữ và sáu chữ.
Về cách nhận biết thể thơ bảy chữ, ta dựa vào số lượng chữ trong từng câu thơ. Các câu đều có bảy chữ và cả bài thơ không bị giới hạn về số lượng câu cụ thể.
Cách gieo vần của thể thơ bảy chữ cũng rất linh hoạt. Bạn có thể kết hợp nhiều cách hiệp vần khác nhau như vần chân, vần ôm, vần lưng,…
Một số tác phẩm văn học tiêu biểu có sử dụng thể thơ bảy chữ là:
“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng”
(Tràng giang – Huy Cận)
“Vô tình để gió hôn lên má
Bẽn lẽn làm sao, lúc nửa đêm!…
Em sợ lang quân em biết được
Nghi ngờ tới cái tiết trinh em..”
(Bẽn lẽn – Hàn Mặc Tử)
5. Thể thơ tám chữ
Trong thể thơ tám chữ, mỗi câu thơ chỉ bao gồm 8 chữ. Tương tự với các thể thơ nêu trên, thể thơ tám chữ không giới hạn về số lượng câu trong một bài. Quy luật sử dụng thể thơ này là theo luật bằng – trắc: Tiếng cuối và tiếng thứ 3 có vần trắc thì tiếng thứ 5 và tiếng thứ 6 là vần bằng. Ngược lại, nếu tiếng cuối và tiếng thứ 3 có vần bằng thì tiếng thứ 5 và tiếng thứ 6 phải có vần trắc.
Cách nhận biết thể thơ tám chữ vô cùng đơn giản. Ngoài số lượng chữ trong câu, bạn có thể dựa vào quy luật bằng trắc ở trên để phân biệt với thể thơ khác.
Về cách gieo vần, thể thơ tám chữ sử dụng các loại vần như: Vần ôm, vần tiếp và vần chéo.
Một số tác phẩm văn học tiêu biểu có sử dụng thể thơ tám chữ là:
“Ta rắp nâng lời chào ngày mới mẻ,
Vì Đông, Thu, hay Hạ cũng như Xuân;
Cũng có tình riêng với lòng thi sĩ.
Ta vui ca trông ngày tháng xoay vần.”
(Khúc ca hoài xuân – Thế Lữ)
“Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!
Tôi sẽ trách – cố nhiên, nhưng rất nhẹ
Nếu trót đi, em hãy gắng quay về…
Tình mất vui khi đã vẹn câu thề
Ðời chỉ đẹp những khi còn dang dở
Thư viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ
Cho nghìn sau… lơ lửng… với nghìn xưa…”
(Ngập ngừng – Hồ Dzếnh)
6. Thể thơ tự do
Trong các loại thể thơ, thể thơ tự do được xem là thể thơ hiện đại và được nhiều bạn đọc yêu thích. Lý do là vì thể thơ thể hiện được sự phong cách, cái tôi cá nhân, vượt ra mọi khuôn khổ trong thi ca. Quy luật sử dụng cũng rất linh hoạt. Người viết có thể tự do sáng tạo, bày tỏ quan điểm, cảm xúc cá nhân mà không bị gò bó bởi luật bằng – trắc, hiệp vần như nhiều thể thơ khác. Trong thể thơ tự do không giới hạn cụ thể về số chữ trong một câu và số lượng câu trong cả bài thơ.
Về cách nhận biết thể thơ này, bạn có thể quan sát dung lượng chữ và dung lượng câu. Một bài thơ tự do không có tính quy luật cụ thể, số lượng chữ trong các câu có thể không giống nhau.
Về cách hiệp vần, tùy theo mục đích và cảm xúc của người viết mà trong bài thơ đó có thể kết hợp nhiều cách gieo vần khác nhau (vần lưng, vần chân, vần chéo,…) hoặc không có vần.
Một số tác phẩm văn học tiêu biểu có sử dụng thể thơ tự do là:
“Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,
Ta say mồi đứng ánh trăng tan,
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn,
Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới,
Đâu những cảnh bình minh nắng gội
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng,
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng,
Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới.”
(Nhớ rừng – Thế Lữ)
“Tiếng địch thổi đâu đây.
Cớ sao mà réo rắt?
Lơ lửng cao đưa tận lưng trời xanh ngắt.
Mây bay, gió quyến, mây bay…
Tiếng vi vu như khuyên van như dìu dặt
Ánh chiều thu
Lướt mặt hồ thu.
Sương hồng lam nhẹ tan trên sóng biếc.
Rặng lau già xao xác tiếng reo khô,
Như khuấy động nỗi nhớ nhưng thương tiếc.
Trong lòng người đứng bên hồ.”
(Tiếng trúc tuyệt vời – Thế Lữ)
7. Thể thơ lục bát
Trong các loại thể thơ của Việt Nam, lục bát được xem là một trong những thể thơ được sử dụng phổ biến nhất. Đây cũng là thể thơ lâu đời nhất của dân tộc. Quy luật sử dụng thể thơ lục bát được xét dựa trên các thanh bằng (B), trắc (T) ở các câu thơ:
• Câu 1, 3 và 5: Tự do về thanh
• Câu 2, 4 và 6: Câu lục phải tuân theo quy luật luật B – T – B, câu bát phải tuân theo luật B – T – B – B
Cách nhận biết thể thơ lục bát rất đơn giản: Bạn chỉ cần nhìn vào số lượng chữ trong từng câu thơ và quy luật gieo vần. Các câu lục và câu bát sẽ đan xen với nhau tạo thành một đoạn thơ, hoặc bài thơ hoàn chỉnh.
Thể thơ lục bát có cách gieo vần vô cùng linh hoạt. Khi viết, người ta có thể gieo vần bằng ở tiếng cuối câu lục. Tiếng cuối này lại hiệp vần với tiếng thứ sáu của câu bát. Sau đó, tiếng cuối của câu bát này lại hiệp với tiếng cuối của câu lục tiếp theo. Ta tiếp tục lặp lại cách gieo vần như vậy cho đến hết bài thơ.
Một số tác phẩm văn học tiêu biểu có sử dụng thể thơ lục bát là:
“Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
“Cày đồng đang buổi ban trưa,
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Ai ơi, bưng bát cơm đầy,
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần!”
(Ca dao)
“Mình về mình có nhớ ta?
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.”
(Việt Bắc – Tố Hữu)
8. Thể thơ song thất lục bát
Thể thơ song thất lục bát là một thể thơ độc đáo. Đây là thể thơ do dân tộc ta sáng tạo nên. Về quy luật sử dụng, thể thơ này có những nét khác biệt so với thơ lục bát:
• Câu 7 chữ ở trên: Chữ thứ 3, 5 và 7 sẽ tuân theo quy luật T – B – T
• Câu 7 chữ ở dưới: Đối lập với câu ở trên, chữ thứ 3, 5 và 7 sẽ tuân theo quy luật B – T – B
Cách nhận biết thể thơ này là dựa vào số lượng chữ trong từng câu thơ của mỗi đoạn thơ. Cấu trúc mỗi đoạn thơ sẽ bao gồm hai câu 7 chữ kết hợp với một cặp lục – bát. Thể thơ này không giới hạn số lượng câu trong một bài thơ.
Cách gieo vần của thể thơ song thất lục bát như sau: Tiếng cuối của câu 7 chữ ở trên sẽ hiệp vần với tiếng thứ 5 của câu 7 chữ ở dưới. Tiếng cuối của câu 7 chữ ở dưới tiếp tục hiệp vần với tiếng thứ 6 của câu lục. Tiếng cuối của câu lục hiệp vần với tiếng thứ 6 của câu bát. Tương tự, tiếp tục gieo vần cho đến hết bài thơ.
Một số tác phẩm văn học tiêu biểu có sử dụng thể thơ song thất lục bát là:
“Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.
Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”
(Chinh phụ ngâm – Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm)
“Có hoa nào qua mùa không héo?
Có tiếng nào giàu đẹp hơn không?
Mắt em là một dòng sông
Thuyền anh bơi lội giữa dòng mắt em.”
(Đôi mắt – Lưu Trọng Lư)
“Em nhớ mãi chiều thu lá đổ
Mình bên nhau cạn tỏ nguồn cơn
Chạnh lòng anh vọng lời thương
Xa xa vẳng tiếng nghe dường nỉ non.”
(Thuyền neo bến đậu – Hoàng Mai)
9. Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật
Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật là một thể thơ ra đời vào thế kỉ XII vào thời nhà Đường ở Trung Quốc, sau đó du nhập vào Việt Nam. Trong thể thơ này, mỗi bài thơ sẽ có 4 câu, mỗi câu lại có 7 chữ. Về quy luật sử dụng, thứ tự của bốn câu thơ trong bài phải tuân theo kết cấu: Khai, thừa, chuyển, hợp. Trong thể thơ này, tiếng thứ 2 của câu thứ nhất sẽ quy định luật cho cả bài thơ. Ví dụ: Nếu tiếng thứ 2 ở câu thứ nhất có thanh bằng thì luật của cả bài sẽ là luật B.
Cách để nhận biết thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật đó là dựa vào số lượng chữ trong một câu thơ và số lượng câu trong bài, kết hợp với quan sát quy luật sử dụng của cả bài thơ.
Đây là một trong những thể thơ Đường luật có cách gieo vần được quy định rõ ràng và chi tiết. Thể thơ này có thể chỉ dùng một vần duy nhất (độc vận) cho toàn bài, hoặc kết hợp nhiều vần (liên vận). Đan xen là các thanh bằng – trắc. Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật về luật niêm và vần như sau:
Về niêm: Các câu theo hàng dọc phải niêm với nhau (giống nhau về thanh)
Về gieo vần: Các câu 1, 2, 4 hoặc câu 2 và 4 trong bài sẽ hiệp vần với nhau ở chữ cuối
Một số tác phẩm văn học tiêu biểu có sử dụng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật là:
“Nam quốc sơn hà Nam Đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.”
(Nam quốc sơn hà – Lý Thường Kiệt)
“Một nửa vầng trăng rụng xuống cầu
Đôi mình cách trở bởi vì đâu
Canh tàn khắc lụn hồn tê tái
Đối bóng đèn khuya nuốt lệ sầu.”
(Hoàng Thứ Lang)
10. Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật
Thất ngôn bát cú Đường luật là thể thơ mà mỗi bài có 8 câu, mỗi câu chỉ có 7 chữ. Thể thơ này xuất hiện rất sớm tại Trung Quốc, đến thời nhà Đường thì mới được đặt tên gọi và quy định cụ thể. Đây cũng là thể thơ được sử dụng để tuyển chọn nhân tài dưới các triều đại phong kiến.
Về quy luật sử dụng, thể thơ này tuân theo quy luật bằng – trắc như sau: “Nhất, tam, ngũ bất luận. Nhị, tứ, lục phân minh” và xen kẽ nhau. Nghĩa là nếu tiếng thứ 2 là thanh bằng thì tiếng thứ 4 là thanh trắc, tiếng thứ 6 thanh bằng, và ở câu thơ tiếp theo thì ngược lại. Cấu trúc của một bài thơ là: Đề, Thực, Luận, Kết.
Cách nhận biết thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật là dựa vào số lượng chữ trong câu, số lượng câu trong một bài và cách sắp xếp các thanh bằng – trắc theo quy luật như trên.
Về cách gieo vần, thất ngôn bát cú Đường luật được quy định chặt chẽ về niêm và vần. Các tiếng ở cuối các câu 1, 2, 4, 6 và 8 sẽ hiệp vần bằng với nhau.
Một số tác phẩm văn học tiêu biểu có sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật là:
“Bước tới đèo Ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông rợ mấy nhà.
Nhớ nước, đau lòng con cuốc cuốc,
Thương nhà, mỏi miệng cái da da.
Dừng chân đứng lại: trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng, ta với ta.”
(Qua đèo Ngang – Bà Huyện Thanh Quan)
“Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên, hai nợ, âu đành phận,
Năm nắng, mười mưa, dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không!”
(Thương vợ – Trần Tế Xương)
11. Thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt Đường luật
Thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt Đường luật là thể thơ chỉ có 4 câu thơ, mỗi câu gồm 5 chữ. Về quy luật sử dụng, thể thơ này tuân theo cấu trúc Đề, Thực, Luận, Kết tương tự với thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Trong một bài thơ sẽ có sự luân phiên giữa các thanh bằng – trắc, hoặc bằng – bằng, trắc – trắc ở tiếng thứ 2 và tiếng thứ 4.
Về cách nhận biết thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt Đường luật, ta dựa vào số lượng câu chữ trong bài thơ và quy luật bằng trắc, gieo vần của cả bài.
Về cách gieo vần: Các câu 1, 2, 4 hoặc câu 2 và 4 sẽ hiệp vần với nhau ở chữ cuối. Ta sử dụng độc vận (một vần duy nhất) cho cả bài thơ, cùng với phương thức gieo vần ôm hoặc vần chéo.
Một số tác phẩm văn học tiêu biểu có sử dụng thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt Đường luật là:
“Ngàn năm bên lối nhỏ
Trút niềm đau muộn phiền
Ngàn năm mang hơi thở
Dìu vợi trời tam thiên.”
(Hạt bụi – Sưu tầm)
“Đoạt sáo Chương Dương độ,
Cầm Hồ Hàm Tử quan.
Thái bình tu nỗ lực,
Vạn cổ thử gian san.”
(Tụng giá hoàn kinh sư – Trần Quang Khải)
- Tài liệu tổng hợp -

07/10/2025

Phân tích nhân vật cậu bé trong truyện ngắn “Đóa hoa thơm nhất” của tác giả Nguyễn Thị Thư
ĐÓA HOA THƠM NHẤT.
Thời gian có mặt ở khắp nơi nhưng chẳng ai nhìn thấy nó cả. Họ chỉ thấy dấu tích thời gian để lại khi nó đã qua rồi. Ví như đứa trẻ ngày nào bì bõm tập nói giờ đã thành một cậu bé cao bằng cái tủ lạnh, cậu thường đứng đo và rồi gật gù. Thời gian đi nhanh quá! Thời gian ôn hòa nhón gót đều đều từng nhịp nhưng ai cũng thấy thật mau, vừa hôm qua còn lạnh như cắt, hôm nay đã ấm áp dưới nắng xuân. Cậu bé giở tờ lịch trên bàn khẽ nhẩm:
- Sắp đến mùng 8 tháng 3 rồi, mình nên tặng mẹ món quà gì nhỉ?
- Một bông hoa thơm nhất chẳng hạn! - Thời gian ghé ngang cửa sổ gợi ý.
Cậu bé cảm ơn thời gian rồi bắt đầu đi gặp hoa hồng nhưng nó lắc đầu, bởi nó không phải loài hoa thơm nhất. Hoa nhài, hoa linh lan đều nhún vai bảo cậu đi tìm hoa khác. Cậu tự gia hạn cho mình một năm để kiếm tìm loài hoa đặc biệt ấy. Nhưng thời gian lặng lẽ qua đi, cậu lại tự hứa năm sau nữa sẽ cố gắng tìm được. Trên đường đi, khi thì cậu ngủ quên, lúc lại mải hái những thứ quả đẹp mắt, ngon ngọt trên đường hoặc dừng lại xem những con gà đấu chọi. Và cậu lại lần nữa bởi mùng 8 tháng 3 năm nào chẳng có.
Hôm nay, cậu bé nhìn thấy thời gian phủ lên mái tóc mẹ những điểm bạc trắng, chẳng biết từ bao giờ cậu mới giật mình nhớ về lời hứa năm nào còn chưa làm được. Cậu đã hái tất cả những bông hoa mà trên đường cậu gặp, nhưng về đến nhà chúng đều héo rũ.
- Cậu có thể dừng bước chân để mẹ tôi không già nữa và bông hoa được thơm mãi không? – Cậu bé hỏi thời gian.
- Vạn vật đều thay đổi. Đây vốn dĩ là quy luật của tự nhiên. Thay đổi để thích nghi, để trưởng thành, để nhận ra sự quý giá của giây phút hiện tại. Nếu tôi dừng lại thì sẽ khiến cuộc đời này trở nên vô nghĩa . Tôi luôn bên cậu, còn cậu quên tôi để mải cuồng quay và đắm chìm vào những dục vọng không đáng có. Cậu và mẹ cậu chẳng còn trẻ nữa thì bông hoa kia sao thơm mãi được.
Cậu rơi nước mắt chạy đến bên người mẹ và chắp tay như búp sen:
- Con tặng mẹ đóa hoa này – Bàn tay cậu từ từ ngả về hai bên – Đây là đóa hoa sen thơm con nuôi dưỡng từ bấy lâu mà con lại cứ mải chơi và kiếm tìm nơi xa, đề mẹ phải vất vả vì con. Từ nay, hãy để con chăm sóc mẹ nhé, mẹ ơi
Thời gian mỉm cười, đây mới là bông hoa thơm nhất mà cậu luôn tìm kiếm.
(Nguyễn Thị Thư - Ninh Cầm, Tân Dân, Sóc Sơn, Hà Nội)
(In trên tạp chí Văn học và tuổi trẻ số tháng 3 năm 2021,trang 32)
Bài viết tham khảo:
MB:
Nhận xét về vai trò của nhân vật trong truyện ngắn, nhà văn Tô Hoài khẳng định: “Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác.” Quả thực như vậy, nhân vật cậu bé trong tác phẩm Đóa hoa thơm nhất của Nguyễn Thị Thư trở thành điểm tập trung mọi giá trị tư tưởng và cảm xúc mà tác giả muốn gửi gắm. Cậu bé không chỉ là hình ảnh của sự ngây thơ mà còn là biểu tượng của quá trình trưởng thành, của nhận thức về sự quý giá của thời gian và tình cảm gia đình.
TB:
Nguyễn Thị Thư nổi bật với các tác phẩm viết về cuộc sống thường nhật, xoáy sâu vào những giá trị nhân văn và tình cảm gia đình. Phong cách sáng tác giản dị nhưng đầy sâu sắc, luôn phản ánh những vấn đề xã hội và con người với những thông điệp nhẹ nhàng nhưng mạnh mẽ với những tác phẩm mang đậm hơi thở của cuộc sống, gần gũi và dễ cảm nhận. Câu chuyện Đóa hoa thơm nhấtkể về hành trình của một cậu bé trong việc tìm kiếm món quà cho mẹ nhân ngày 8 tháng 3. Qua đó, tác phẩm gửi gắm thông điệp sâu sắc về sự quý giá của thời gian, sự trưởng thành và tình yêu thương vô điều kiện giữa mẹ và con. Cậu bé là nhân vật quan trọng, góp phần làm nổi bật lên chủ đề của tác phẩm. Nhân vật cậu bé đã khiến tôi không thẻ rời trang sách bởi những vẻ đẹp gần gũi mà đáng quý vô ngần: sự ngây thơ non nớt, ham chơi, chưa nhận ra sự quý giá của thời gian và tâm hồn trong sáng đặc biệt là tình yêu dành cho mẹ. Những phẩm chất này được thể hiện qua hành động mải mê tìm kiếm hoa tặng mẹ, những suy nghĩ chân thành về tình cảm gia đình. Chính cậu bé đã làm sáng bừng lên giá trị của tác phẩm, khiến người đọc phải suy ngẫm về sự quý giá của thời gian và những khoảnh khắc bên người thân yêu.
Trước hết, nhân vật cậu bé trong "Đóa hoa thơm nhất" của Nguyễn Thị Thư để lại ấn tượng sâu sắc trong người đọc về sự ngây thơ non nớt, ham chơi, chưa nhận ra sự quý giá của thời gian.Đặc điểm này được thể hiện qualời thoại của cậu bé khi hỏi Thời gian: “Cậu có thể dừng bước chân để mẹ tôi không già nữa và bông hoa được thơm mãi không?”. Câu hỏi ngây ngô này cho thấy cậu bé chưa hiểu được rằng thời gian là thứ không thể nắm bắt, không thể dừng lại, mà chúng ta chỉ có thể sống trong khoảnh khắc hiện tại. Hành động và lời nói của cậu bé thể hiện sự hồn nhiên và lòng mong muốn tìm kiếm một điều gì đó hoàn hảo, ví dụ như bông hoa thơm nhất để tặng mẹ. Cậu bé không nhận ra rằng thời gian đang trôi qua từng ngày, và thay vì trân trọng những giây phút bên mẹ, cậu lại mải mê tìm kiếm một điều gì đó xa vời. Hành động và lời nói này thể hiện sự ngây thơ non nớt của một đứa trẻ.
Mặc dù vậy, cậu bé vẫn có một tâm hồn trong sáng và luôn dành tình yêu tha thiết cho mẹ.Vẻ đẹp này được thể hiện qua hành động và lời nói của cậu bé khi cậu quyết định tặng mẹ một bông hoa, không phải là hoa hồng hay hoa nhài, mà là một đóa hoa sen thơm. Cậu “chắp tay như búp sen”và nói: “Đây là đóa hoa sen thơm con nuôi dưỡng từ bấy lâu mà con lại cứ mải chơi và kiếm tìm nơi xa, đề mẹ phải vất vả vì con.” Lời nói và hành động này thể hiện rõ nhận thức của cậu về tình yêu thương và trách nhiệm đối với mẹ. Việc làm của cậu không chỉ là lời xin lỗi vì những lúc mải chơi mà quên mất lời hứa, quên cả mẹ đang già đi, mà còn thể hiện sự trưởng thành trong nhận thức, khi cậu nhận ra rằng những gì mình tìm kiếm ở bên ngoài thật sự không quan trọng bằng việc chăm sóc và yêu thương người mẹ đã vất vả nuôi dưỡng mình. Cậu bé mong muốn trở thành người chăm sóc mẹ, thể hiện sự quan tâm sâu sắc và lòng biết ơn đối với những gì mẹ đã hy sinh cho mình. Đây là một khoảnh khắc rất cảm động, phản ánh một sự thay đổi lớn trong tâm hồn cậu bé, từ sự ngây thơ, mải chơi thành một đứa trẻ trưởng thành, biết quan tâm thấu hiểu mẹ, biết trân trọng hiện tại và những gì gần gũi quanh mình.
Truyện được kể ở ngôi thứ ba, giọng kể nhẹ nhàng và đầy cảm xúc, đem lại sự gần gũi và lắng đọng cho tác phẩm. Nhân vật cậu bé được xây dựng chủ yếu thông qua hành động, suy nghĩ và lời nói của mình, trong tình huống cậu đi tìm bông hoa thơm nhất để tặng mẹ. Cùng với ngôn ngữ giản dị, trong sáng, sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các phương thức biểu đạt khiến cho nhân vật càng trở nên gần gũi, sống động như giữa đời thực. Nhân vật là đại diện cho tình yêu thương trong sáng và sự trưởng thành dần dần của một đứa trẻ. Xây dựng nhân vật cậu bé, nhà văn ngầm gửi gắm thông điệp về thời gian và những gì quý giá trong cuộc sống, đồng thời ngợi ca tình mẹ thiêng liêng. Thông qua hành trình tìm kiếm và cuối cùng nhận ra giá trị của tình yêu, người đọc càng hiểu sâu sắc hơn về tài năng cũng như tấm lòng của tác giả.
KB:
Nhân vật cậu bé trong tác phẩm "Đóa hoa thơm nhất" đã để lại trong em cảm xúc sâu sắc về tình yêu thương chân thành. Nhân vật cậu bé không chỉ là một đứa trẻ ngây thơ, mơ mộng mà còn là hình ảnh của sự nhận thức và trách nhiệm đối với mẹ. Qua nhân vật cậu bé, em nhận được bài học về sự trân trọng thời gian, về tình mẹ thiêng liêng và về sự quan trọng của những giá trị hiện tại trong cuộc sống.
LỚP VĂN CÔ HÀ TUYÊN- ST

Want your school to be the top-listed School/college in Hai Duong?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Category

Website

Address


Hai Duong