Lắng nghe-chia sẻ-tư vấn tuyển sinh uhd

Lắng nghe-chia sẻ-tư vấn tuyển sinh uhd

Share

Giáo dục con người trong thời đại công nghệ 4.0 đã khác hoàn toàn với việc đ

30/01/2024

Hội chợ trường THPT Nguyễn Văn Cừ

[GIỚI THIỆU GIAN HÀNG – CHI ĐOÀN 10I]

🎉Đến với hội chợ xuân của trường mình, trường THPT Nguyễn Văn Cừ . Chi đoàn lớp 10I đã rất hào hứng khi được góp mặt vào một trong số những gian hàng sáng tạo được bầy bán ở hội chợ xuân .🌸

Gian hàng sáng tạo của chúng tớ nằm ở vị trí số 27, mong được mọi người ủng hộ ạ .

Thú vị hơn nữa, khi đến với gian hàng sáng tạo ngay bên phải lối vào, các bạn có thể tham gia vào những trò chơi dân gian vô cùng thú vị: Chỉ với 10k các bạn sẽ được thỏa sức chơi những trò chơi dân gian Việt Nam. Ngoài ra lớp tớ còn đưa đến cho các cậu những sản phầm thú vị khác như pháo bông(8k/5 cây)🎇để giúp bầu không khí Tết thêm rộn ràng, những chậu hoa đá để trang hoàng cho ngày Tết thật nhiều sắc màu và một số chiếc lì xì đẹp mắt(hay những chiếc kẹp tóc đáng yêu giúp cho các bạn nữ trở nên xinh xắn yểu điệu hơn vào những dịp quan trọng,hay thường ngày.😍

🧧Không chỉ thế để thêm không khí Tết,lớp chúng tớ đã tổ chức gieo quẻ đầu năm để giúp cho không khí Tết thêm sôi động . Khi các bạn tham gia gieo quẻ lớp tớ đều sẽ nhận một phần quà bí mật của chi đoàn lớp 10I. 🧧

🍢Đến với gian hàng của chúng tớ, mọi ngưòi không chỉ có thể sắm Tết hay chơi những trò chơi dân gian đặc sắc mà có “chơi” đương nhiên phải có “ăn”. Và những món ăn vặt hết sức quen thuộc mà không kém phần ngon miệng được chúng tớ chuẩn bị bao gồm: Khoai chiên lắc phô mai, chả cá Hàn Quốc và món cóc xoài dầm chua cay mặn ngọt rất bắt miệng nha😉

🤗Các cậu còn chần chờ gì nữa mà không đến với 10I nhỉ ? Chúng tớ tin sẽ không làm cho các cậu thất vọng khi đến với gian hàng lớp 10I đâu 😝 . Hẹn gặp lại các cậu ở Hội chợ xuân tại trường THPT Nguyễn Văn Cừ ngày 3 tháng 2 này.🥰

--------------------------
🎁 Cách tính điểm
✨ Bài đăng: 2 điểm
✨ Lượt like share: 3 điểm
(50 – 100 like share: 1 điểm
101 – 200 like share: 2 điểm
201 – 300 like share: 3 điểm)

Photos from Lắng nghe-chia sẻ-tư vấn tuyển sinh uhd's post 20/05/2019

Bố mẹ hãy thưởng cho các con một chuyến dã ngoại sau một năm học vất vả đấy là điều nên làm các bậc bố, mẹ ạ. Hãy lựa chọn chuyến TRẢI NGHIỆM NÔNG TRẠI ERAHOUSE Hà Nội. Lịch xuất phát HẢI DƯƠNG- HÀ NỘI- HẢI DƯƠNG vào một ngày duy nhất CHỦ NHẬT 26/5/2019
🌺Đăng ký ngay hôm nay: điện thoại 0936430610
🌺 Chúng tôi Nhận ghép đoàn
😘Dành cho mọi lứa tuổi, đối với trẻ dưới 3 tuổi yêu cầu phụ huynh đi kèm.
MỨC GIÁ HẤP DẪN TRẺ EM LÀ 33Ok, NGƯỜI LỚN 360K
hân hạnh phục vụ!

28/12/2018

Mời mọi người về dự lễ hội đường phố tại Hải Dương

Photos from Lắng nghe-chia sẻ-tư vấn tuyển sinh uhd's post 08/11/2018

LOẠN 12 SỨ QUÂN của tác giả Đặng Thanh Bình .
Vị trí của Loạn 12 sứ quân trong lịch sử Việt Nam: Năm 880, Khúc Thừa Dụ chiếm giữ Phủ đô hộ, truyền qua Khúc Hạo, Khúc Thừa Mỹ. Năm 930, Nam Hán chiếm Tĩnh Hải Quân. Năm 931, Dương Đình Nghệ đánh đuổi quân Nam Hán, giữ Tĩnh Hải Quân. Năm 937, Kiều Công Tiễn sát hại Dương Đình Nghệ. Năm 938, Ngô Quyền giết Công Tiễn, đánh bại quân Nam Hán, giữ Tĩnh Hải Quân. Năm 944, Dương Tam Kha tiếm quyền. Năm 950, Ngô Xương Văn lật đổ Tam Kha. Năm 965, Xương Văn mất, Lã Xử Bình tiếm quyền. Năm 967, Đinh Bộ Lĩnh đánh bại Xử Bình. Năm 968, Bộ Lĩnh lên ngôi, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, rời Kinh ấp về Hoa Lư. Năm 980, Lê Hoàn lên ngôi.

Các bộ sử thời trung đại của Việt Nam, nhìn nhận thời kỳ Loạn 12 sứ quân diễn ra từ khi Ngô Xương Văn mất (năm 965) đến khi Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi (năm 968) và đều ghi chép rất rõ về 12 sứ quân.

“Mười Hai Sứ Quân:

Kiểu Tam Chế tên là Công Hãn chiếm giữ Phong Châu.
Nguyễn Thái Bình tên Khoan, một tên nữa là Ký, chiếm giữ Vũng Nguyễn Gia.
Trần Công Lãm tên là Nhật Khánh chiếm giũ Đường Lâm.
Đỗ Cảnh Công tên là Cảnh Thạc, chiếm giữ Đỗ Động .
Nguyễn Du Dịch tên là Xương Xí chiếm giữ Vương Cảo.
Nguyễn Lãng Công tên Khuê chiến, giữ Siêu.
Nguyễn Lịnh Công tên là Thủ Tiệp chiếm giữ Tiên Du.
Lữ Tả Công tên là Quánh chiếm giữ Tế Giang.
Nguyễn Hữu Công tên là Siêu, chiếm giữ Phù Liệt.
Kiểu Lệnh Công tên là Thuận giữ Hồi Hồ.
Phạm Phòng Át tên là Bạch Hổ chiếm giữ Đằng Châu.
Trần Minh Công tên Lãm chiếm giữ Giang Bố Khẩu.
Mười hai sứ quân nổi lên bắt đầu năm Ất Sửu (năm 965) và chấm dứt vào năm Đinh Mão (năm 967) gồm có 3 năm thì Đinh Tiên Vương (Đinh Bộ Lĩnh) mới thôn tính được hết cả” [Đại Việt sử lược – Khuyết danh]

Đồng thời với đó, các sử gia thời trung đại có cái nhìn về Đinh Bộ Lĩnh như sau: “Lê Văn Hưu nói: Tiên Hoàng nhờ có tài năng sáng suốt hơn người, dũng cảm mưu lược nhất đời, đương lúc nước Việt ta không có chủ, các hùng trưởng cát cứ, một phen cất quân mà mười hai sứ quân phục hết. Vua mở nước dựng đô, đổi xưng hoàng đế, đặt trăm quan, lập sáu quân, chế độ gần đầy đủ, có lẽ ý trời vì nước Việt ta mà lại sinh bậc thánh triết để tiếp nối quốc thống của Triệu Vương chăng ?” [Đại Việt sử ký toàn thư – Ngô Sĩ Liên]

Tuy nhiên bước sang thời hiện đại (tạm lấy mốc là Khâm định Việt sử thông giám cương mục) các nhà nghiên cứu lại có những góc nhìn khác về giai đoạn Loạn 12 sứ quân này. Chẳng hạn như:

“Họ chính thức có tên trong danh sách 12 sứ quân, nhưng không gây “loạn”. Sử sách không có một chữ nào thể hiện họ gây hấn với láng giềng, còn nói gì ý đồ bành trướng hay thôn tính ai. Họ chỉ lo giữ cơ nghiệp hiện có. Rốt cuộc, họ bị tấn công, bị tiêu diệt, chứ không hàng. Về nhân cách, họ rất cao cả nếu so với kẻ vô cớ tấn công họ (…)

Nguyên nhân thật sự là do Đinh Bộ Lĩnh … làm loạn: Hai con Ngô Quyền, sau khi truất phế Dương Tam Kha (…) lên làm vua, tuy có những chống đối nhưng không lớn, dễ dẹp (ví dụ Chu Thái). Lo nhất của hai vua là sự chống đối của Đinh Bộ Lĩnh. Nếu vậy, đây là vị sứ quân đúng nghĩa nhất, nổi dậy sớm nhất (khi 2 vua còn tại ngôi) và kéo dài nhất. Hai vua phải đích thân tiến đánh, nhưng không nổi. Hai vua mất sớm là cơ hội để Đinh Bộ Lĩnh chinh phạt, tấn công khắp nơi. Các nơi khác chỉ lo tự giữ và được gọi là sứ quân” [Loạn 12 sứ quân: cuộc nội chiến 20 năm – Nguyễn Ngọc Lanh]

“Tóm lại, từ những sử liệu vừa được trích dẫn, bài viết đã lần lượt thảo luận về vai trò của Đinh Bộ Lĩnh và bản chất cục diện của loạn sứ quân. Có thể nhận định như sau:

1 . Cục diện cát cứ dưới triều nhà Ngô đã bắt đầu từ năm 951 với Đinh Bộ Lĩnh ở Hoa Lư, và họ Đường-Nguyễn ở Thái Bình. Cát cứ là tình trạng chung của cả ba triều đại Ngô-Đinh-Tiền Lê ở mọi thời điểm. Các nhân sự cát cứ thường là các vọng tộc cũ thời Bắc thuộc, hay thuộc tướng lĩnh của các vị soái vương tiền nhiệm (đã mất), ngoài ra còn phải kể đến hàng loạt các man động của người thiểu số ở các miền trung du phía bắc và phía tây Ái Châu (Thanh Hóa ngày nay).

2. Cục diện “loạn 12 sứ quân” thực sự xảy ra toàn diện từ năm 965-967. Chúng tôi đề xuất nên nhìn “nhân sự” của cuộc động loạn này theo ba phe chính: Phe họ Ngô (gồm Đỗ Cảnh Thạc, con cháu họ Ngô cùng các sứ quân tự trị, tự giữ); phe các sứ quân nổi loạn (Đinh Bộ Lĩnh, Trần Lãm, Phạm Phòng Át) và phe tiếm quyền của Lã Xử Bình. Trên quan điểm đương triều (Ngô) để xác định chính tà thì phe Đỗ Cảnh Thạc không nên gộp nhập vào gọi là “sứ quân”; trong khi đó các sứ quân mới cần bổ sung trên bản đồ chính trị vào thời điểm này nên là Lã Xử Bình, Dương Huy và Đinh Bộ Lĩnh. Đây là con số cũng khá đẹp để bù lại ba nhóm Đỗ Cảnh Thạc, Ngô Xương Xí và Ngô Xương Văn.

3 . Cục diện “loạn 12 sứ quân” còn nên nhìn nhận lại trên bình diện “động thủ-tự giữ” của các nhóm thế lực. Với sử liệu hiện nay, có thể chia thành hai nhóm như sau:

a) Nhóm các thế lực động thủ tham chiến, gồm Đỗ Cảnh Thạc, Ngô phó sứ (Trần Lãm), Đinh Bộ Lĩnh, Phạm Phòng Át, Lã Xử Bình, Kiều Tam Chế;

b) Nhóm các thế lực tự trị-tự giữ (theo chế độ nhà Ngô và chờ thời thế) gồm Ngô Nhật Khánh, Ngô Xương Xí và một số sứ quân khác (hiện chưa xác định được). Một số hoạt động của các nhóm thế lực này được sử nhắc đến hầu như chỉ là việc tự giữ đất và xưng “Công” làm hùng trưởng (chứ không phải xưng Vương, làm quốc trưởng).

4. Đinh Bộ Lĩnh là sứ quân cát cứ và nổi dậy sớm nhất, tồn tại lâu nhất và cuối cùng đã đứng đầu lực lượng liên minh mạnh nhất đủ để đánh bại quân nhà Ngô và thống lĩnh các lực lượng quân sự khác. Ông cát cứ tại Hoa Lư từ năm 951 đến năm 965. Trong thời gian 15 năm này, ông đã tiến hành luyện quân và liên kết với sứ quân Trần Lãm để chuẩn bị cho những thời cơ mới. Từ năm 965 đến năm 967, thế tam phân trong cục diện chính trị đã diễn ra. Cuối cùng, năm 967, với hai, ba chiến thắng quan trọng trước Đỗ Cảnh Thạc (500 con cháu họ Ngô) và Lã Xử Bình (có thể thêm cả họ Kiều nữa), Đinh Bộ Lĩnh đã giành được thế thượng phong, đủ để chấm dứt sự tại vị của nhà Ngô, đồng thời buộc các sứ quân khác của nhà Ngô phải theo về dưới trướng của mình.

Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, xây dựng nhà nước đa giáo, trong đó Phật giáo là chủ lưu, đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt, đặt pháp hiệu của mình là Cồ Thành, đóng đô ở Hoa Lư, xưng tôn hiệu Đại Thắng Minh Hoàng Đế” [Đinh Bộ Lĩnh – Loạn sứ quân từ sử liệu tới sử thực – Trần Trọng Dương]

Đã có sự thay đổi về góc nhìn Loạn 12 sứ quân. Nếu các sử gia trung đại thấy các sứ quân làm loạn sau khi Ngô Xương Văn chết và Đinh Bộ Lĩnh đã đánh dẹp được các sứ quân, chấm dứt được loạn lạc. Thì các nhà nghiên cứu hiện đại lại thấy rằng: Không ai khác, chính Đinh Bộ Lĩnh là người làm loạn đầu tiên và thực sự là sứ quân cát cứ.

* Về tên gọi Loạn 12 sứ quân: Các bộ sử trung đại thường liệt kê 12 vị sứ quân cát cứ, tuy nhiên số lượng những người tham gia vào cuộc loạn này có thể kể được nhiều hơn 12 vị. Vậy vì sao các sử gia vẫn chỉ ghi nhận có 12 sứ quân ? Một ý kiến rất hay cho rằng: Đó là vì các sử gia đã dựa vào thông tin trong sách Tục tư trị thông giám trường biên của Lý Đảo (1115-1184): “Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ Ngô Xương Văn chết, tham mưu của Văn là Ngô Xử Bình, cùng Phong Châu Thứ sử Kiều Tri Hựu, Vũ Ninh châu Thứ sử Dương Huy, Nha tướng Đỗ Cảnh Thạc, bọn ấy cùng tranh lập. Mười hai châu của Giao Chỉ đại loạn, trộm cướp cùng dấy. Trước, Dương Đình Nghệ làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, sai Nha tướng Đinh Công Trứ nhiếp Hoan Châu Thứ sử. Công Trứ chết, con Bộ Lĩnh nối chức ấy. Khi đó, Bộ Lĩnh cùng con là Liễn cùng thống soái ba vạn người đánh phá bọn Xử Bình, đất ấy mới yên, bèn tự lập làm Vạn Thắng Vương, lấy Liễn làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ”.

Như vậy là rất có thể các sử gia đã tham khảo sử phương bắc, thế nhưng sử phương bắc chỉ nêu tên có vài sứ quân, vậy thì 12 vị sứ quân có họ tên đầy đủ và có vùng lãnh thổ cát cứ rõ ràng được các sử gia lấy từ đâu ? Thời kỳ Khúc – Dương – Ngô – Đinh là thời kỳ mà do sự ngăn cách giữa 2 miền nam bắc, nên sử phương bắc không biết nhiều và chi tiết, trong khi sử phương nam thì chưa được ghi chép. Chúng ta có thể bỏ con số 12 đi, để gọi thời kỳ này là Loạn sứ quân.

* Về nguyên nhân của Loạn sứ quân: Có một ý kiến rất thú vị của Trần Quốc Vượng: “Đến thế kỷ IX, triều đình nhà Đường đổ nát (…) thời cơ thuận tiện để nhân dân ta nổi dậy giành quyền tự chủ (…) vốn là một hào trưởng địa phương; lợi dụng sự trống chỗ của chức vụ Tiết độ sứ cai quản toàn An Nam, Khúc Thừa Dụ đã nổi dậy kéo quân về An Nam đô hộ phủ (…) và tự xưng Tiết độ sứ năm 905 (…) con là Khúc Hạo đã bắt tay cầm quyền trị nước, cải cách hành chính, đổi hương làm xã và đặt chức xã quan (củng cố chính quyền cơ sở), giảm tô thuế (…). [con Hạo là] Khúc Thừa Mỹ (…) vẫn không khống chế nổi các thế lực hào trưởng địa phương và ngoại bang (…) Chính quyền quân chủ trung ương nhà Đường suy tàn rồi biến mất, tạo ra một “khoảng trống quyền lực” ở đất Việt một cái “hẫng hụt trung ương” mà nhiều hào trưởng địa phương có tham vọng điền vào chỗ trống ấy. Do vậy, theo tôi, không nên nhìn thời kỳ “Thập nhị sứ quân” chỉ như một cuộc loạn sau khi Ngô Vương Quyền mất (năm 944).

Cái “loạn” ấy có mầm mống ngay sau năm 905 hay còn từ trước đó nữa như chúng tôi đã dẫn giải ở trên và không nên lấy làm lạ là trong số 12 sứ quân mà sử cũ chép ta thấy đến 2 ông sứ quân họ Kiều là cháu nội Kiều Công Tiễn ở Phong Châu, 2 ông sứ quân họ Ngô thuộc dòng dõi Ngô Quyền và các ông sứ quân họ Đỗ – Đỗ Cảnh Thạc – thì từ đời Đỗ Viện – Đỗ Tuệ Độ thế kỷ IV đã là một thế lực lớn ở Đỗ Động Giang” [Văn hoá Thăng Long – Hà Nội: Hội tụ và toả sáng – Trần Quốc Vượng]

Trần Quốc Vượng cho rằng: Cái loạn ấy có mầm mống từ khi nhà Đường không còn tồn tại ở Tĩnh Hải Quân, nên đã để lại “khoảng trống quyền lực” ở trung ương (Đô hộ phủ) dẫn đến sự cát cứ của các hào trưởng [Ý kiến này được Nguyễn Ngọc Lanh cho là: “Lý lẽ (…) nói chung là đúng. Nhưng (…) ít bổ ích”]. Tôi cho rằng: Ngược lại, chúng ta có thể phát triển ý kiến này của Trần Quốc Vượng.

Nhà Tần mất, Tây Hán và Nam Việt dựng. Vùng đồng bằng sông Hồng, gồm các cộng đồng người (Mol) sinh sống trong những vùng lãnh thổ riêng. Các cộng đồng người này có lúc thì trao đổi buôn bán, cũng có lúc xảy ra xung đột, chiến tranh với nhau. Vùng thành Cổ Loa, có thể là lãnh thổ của một cộng đồng nào đó. Các cộng đồng này đã được tổ chức. Khi người phương bắc chạy loạn, tiến xuống phương nam và định cư ở vùng đồng bằng sông Hồng. Có thể điểm đầu tiên là ở phía đông ngoại thành Hà Nội ngày nay. Những người ngụ cư này cũng hình thành cộng đồng, cũng được tổ chức nhưng lại mang đặc điểm của xã hội phương bắc. Những cộng đồng ngụ cư này, ngày càng đông, cũng có lúc trao đổi buôn bán với cộng đồng bản địa, cũng có lúc xung đột chiến tranh. Cho đến khi, cộng đồng ngụ cư này lớn mạnh, đồng thời với đó là sự xuất hiện của chính quyền phương bắc, đã dẫn đến sự hình thành 1 hệ thống tổ chức đặc biệt. Đó chính là một bộ phận của hệ thống chính quyền phương bắc được thiết lập tại vùng đồng bằng sông Hồng. Hệ thống này ban đầu được thiết lập trên những người phương bắc ngụ cư, trước đây những người ngụ cư từ phương bắc đến thiết lập những cộng đồng có tổ chức, nhưng những cộng đồng này vẫn riêng biệt, không có mối liên hệ với nhau. Tuy nhiên, khi chính quyền phương bắc xuất hiện, bằng nhiều phương thức mà hệ thống chính quyền phương bắc đã tập hợp và hệ thống được các cộng đồng người ngụ cư, thiết lập được một hệ thống có trật tự từ phương bắc tới phương nam. Sĩ Nhiếp chính là ví dụ.

Sự xuất hiện của hệ thống chính quyền phương bắc đặt ở phương nam, đã dẫn đến cuộc xung đột giữa hệ thống tổ chức tự nhiên của người bản địa với hệ thống tổ chức phương bắc đặt tại phương nam (Đô hộ phủ). Như vậy là ở phương nam tồn tại song hành (và xung đột) giữa 2 tổ chức cộng đồng, là tổ chức của người bản địa và tổ chức của chính quyền phương bắc. 2 hệ thống tổ chức này đại diện cho 2 nhóm lợi ích đối kháng là: nhóm lợi ích của người bản địa và tầng lớp hào trưởng với nhóm lợi ích của chính quyền phương bắc. Do phương bắc loạn thường xảy ra và cách xa An Nam, nên chính quyền không thể thiết lập được hệ thống đến từng cá nhân. Những gì phương bắc làm được là cố gắng duy trì một phủ đô hộ tại trung tâm đồng bằng sông Hồng, quản hạt vùng lân cận có người phương bắc cư ngụ hoặc những người phương nam bị đồng hoá. Có ảnh hưởng và buộc các vùng lãnh thổ xung quanh do các hào trưởng nắm giữ quy thuận.

Thế nhưng, những lớp người phương bắc sinh sống ở phương nam, bị Việt hoá, họ bắt đầu hình thành tư tưởng về sự tồn tại của một quốc gia độc lập ở phương nam. Chúng ta bắt gặp những dấu vết này ở anh em Lý Trường Nhân. Nhà Đường nỗ lực mở rộng lãnh thổ ở phương nam, kết quả là hình thành một địa thế quan trọng thứ 2 tại An Nam là Ái Châu. Sau cuộc khởi nghĩa của Đỗ Anh Hàn, Triệu Xương được cử làm Đô hộ. Xương thực hiện chính sách “chính quyền hoá địa phương” từ đây 2 hệ thống tổ chức xã hội đã có những điểm đồng bộ. Đó chính là việc các hào trưởng, một mặt vẫn là người đứng đầu trong tổ chức tự nhiên của người bản địa, mặt khác lại là người đứng trong hệ thống chính quyền phương bắc thiết lập tại An Nam với tên gọi Thứ sứ, quản lý đơn vị hành chính cấp quận (vùng lãnh thổ riêng của các hào trưởng trở thành quận trong hệ thống chính quyền phương bắc). Và chính việc này, đã khai mở cho những hào trưởng bản địa về cách tổ chức và quản lý một hệ thống tổ chức xã hội mới mẻ rất khác so với hệ thống tổ chức xã hội của người bản địa.

Bước ngoặt lịch sử khi nhân cuộc tấn công của Hoàng Sào vào Lĩnh Nam Đông Đạo năm 879, tại An Nam Khúc Thừa Dụ tổ chức cuộc binh biến chiếm giữ Đô hộ phủ năm 880. Như vậy, tại An Nam Khúc Thừa Dụ kế thừa hệ thống tổ chức chính quyền cơ sở của phương bắc, tuy nhiên lại không còn liên hệ phụ thuộc với chính quyền phương bắc. Thừa Dụ có kinh nghiệm tổ chức chính quyền từ quá trình làm việc trong hệ thống chính quyền của người phương bắc, lại được thừa hưởng một hệ thống tổ chức ở Giao Châu và các vùng lân cận do chính quyền phương bắc để lại, đồng thời có danh nghĩa là người được phương bắc sắc phong, đại diện cho phương bắc tại An Nam. Vì thế mà tình trạng cát cứ ở An Nam không có nhiều chuyển biến. Các hào trưởng vẫn quản hạt lãnh thổ của mình. Khúc Thừa Dụ trên thực tế chỉ là một hào trưởng có thế lực nhất, các hào trưởng khác phải quy thuận. Lúc này không còn xung đột giữa tầng lớp hào trưởng và dân bản địa với chính quyền phương bắc nữa, mà đã trở thành xung đột giữa các hào trưởng, giữa các vùng lãnh thổ tại An Nam.

Đến thời của Khúc Hạo và Khúc Thừa Mỹ, Giao Châu mở rộng quyền lực của mình xuống phía nam, tiếp tục công việc giang dở của chính quyền phương bắc là kiến thiết Ái Châu, theo mô phỏng hình mẫu Giao Châu, bằng chứng là việc trấn giữ của nha tướng Dương Đình Nghệ. Khi thế chỗ họ Khúc, làm chủ châu Giao, Nghệ tiếp tục công cuộc mở rộng ảnh hưởng xuống phía nam, thông qua việc cất cử Đinh Công Trứ làm thứ sử Hoan Châu. Tuy nhiên, những nỗ lực của Nghệ và Công Trứ không mang lại nhiều kết quả. Bằng chứng là qua sự kiện Ngô Quyền tiến đánh Kiều Công Tiễn và Nam Hán, không thấy nhắc tới vai trò của Đinh Công Trứ, hay như sự kiện Dương Tam Kha tiếm quyền nhà Ngô, cũng không thấy động tĩnh gì từ Hoan Châu và cuối cùng là Đinh Bộ Lĩnh, con trai của Công Trứ lại khởi binh từ căn cứ Hoa Lư chứ không phải từ Hoan Châu. Rõ ràng là Dương Đình Nghệ đã thất bại trong việc kiến thiết một Hoan Châu giống như Giao Châu và Ái Châu. Theo tôi những hành động của họ Khúc và họ Dương là những nỗ lực đầu tiên để tiến tới một An Nam thống nhất và là tiền đề cho cuộc nam tiến sau này. Có 2 nhiệm vụ trong việc kiến tạo một An Nam thống nhất của họ Khúc và họ Dương đó là: Bên ngoài cố gắng thoát ra khỏi sự lệ thuộc, đứng ngoài hệ thống chính quyền của phương bắc và bên trong tiếp tục di sản của chính quyền phương bắc buộc các hào trưởng cát cứ phải quy thuận và mở rộng sự ảnh hưởng xuống phương nam.

Năm 931, Dương Đình Nghệ đánh bại quân Nam Hán, giữ Giao Châu, cất cử Ngô Quyền giữ Ái Châu, Đinh Công Trứ giữ Hoan Châu. Năm 937, nha tướng (kiêm Thứ sử Phong Châu) Kiều Công Tiễn sát hại Dương Đình Nghệ. Năm 938, Ngô Quyền tiến quân ra bắc, đánh bại Công Tiễn, phá giặc Nam Hán ở cửa Bạch Đằng, lên ngôi vương. Ngô Vương cất cử Nguyễn Xương Xí giữ Ái Châu. Năm 944, Ngô Quyền chết giao quyền phụ tá cho Dương Tam Kha, vốn là con của Dương Đình Nghệ, là anh em vợ của Ngô Quyền. Xảy ra xung đột giữa Tam Kha và con trai cả của Ngô Vương là Xương Ngập. Xương Ngập thua, chạy trốn ở nhà Phạm Công Lệnh ở Nam Sách (Hải Dương). Như vậy là khi Tam Kha tiếm quyền, người có ý bất tuân là Phạm Công Lệnh. Tam Kha nhận con thứ của Ngô Vương là Xương Văn làm con nuôi. Tam Kha sai Xương Văn cùng Đỗ Cảnh Thạc và Dương Cát Lợi đánh 2 thôn Đường và Nguyễn. Vậy 2 thôn này cũng bất tuân chính quyền Cổ Loa. Thôn Đường (Lâm) do Trần Nhật Khánh giữ. Trong sự biến năm 944, Ái Châu và Phong Châu im lặng. Xương Văn bàn với Đỗ Cảnh Thạc và Dương Cát Lợi, quay về đánh úp, truất Tam Kha, tự lên ngôi năm 950. Đón anh Xương Ngập về cùng làm vương. Đem quân đánh dẹp Đinh Bộ Lĩnh ở động Hoa Lư (Ninh Bình) nhưng không thắng, bắt con của Bộ Lĩnh là Đinh Liễn về làm con tin. Năm 965, Xương Văn đánh 2 thôn Đường và Nguyễn bị chết, nha tướng Lã Xử Bình tự lập. Phong Châu thứ sử Kiều Tri Hựu [Theo An Nam chí lược thì thứ sử Phong Châu Kiều Công Tiễn bị Ngô Quyền giết nhưng đến khi Ngô Xương Văn mất, Thứ sử Phong Châu Kiều Tri Hựu tranh lập, từ đó cho thấy suốt từ thời Ngô Quyền, Dương Tam Kha, Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn, họ Kiều vẫn cát cứ Phong Châu và quy thuận (làm chức thứ sử) chính quyền Cổ Loan] Vũ Ninh Châu thứ sử Dương Huy, nha tướng Đỗ Cảnh Thạc (cùng con em họ Ngô) tranh lập. Kết cục Xử Bình thắng. Đỗ Cảnh Thạc và họ Ngô về giữ Đỗ Động Giang. Đinh Liễn trốn về Hoa Lư.

Vậy tổng quan giai đoạn này gồm các thế lực lớn (sứ quân) sau: Kiều Tri Hựu giữ Phong Châu; Lã Xử Bình giữ Cổ Loa; Đỗ Cảnh Thạc và họ Ngô giữ Đỗ Động Giang; Đinh Bộ Lĩnh giữ Hoa Lư; Nguyễn Xương Xí giữ Ái Châu [không rõ có phải là Thôn Nguyễn hay không ? Thôn Nguyễn bất tuân chính quyền Cổ Loa từ thời Tam Kha; Xương Xí là người rất được trọng vọng dưới thời Ngô Quyền, được cất cử giữ châu rất quan trọng, vậy mà trong sự tiếm quyền năm 944, Ái Châu lại không có động tĩnh gì ? Khi Xương Văn đi đánh dẹp lại ghi chung là loạn 2 thôn Đường-Nguyễn. Cũng hợp lý khi Thôn Nguyễn là Xương Xí vì cả 2 thôn này cùng nằm ở phía nam (Hoan Châu và Ái Châu)]; Trần Nhật Khánh giữ Đường Lâm.

Qua 2 chiến thắng lớn trước phương bắc, các hào trưởng cát cứ xung quanh Giao Châu buộc phải quy thuận 2 nhà Dương – Ngô. Hiện trạng của An Nam từ khi chính quyền phương bắc được thiết lập tại phương nam đến thời nhà Lý là Cát cứ – Quy thuận. Các hào trưởng cát cứ lãnh thổ riêng bắt nguồn từ tổ chức chính quyền tự nhiên của người bản địa. Các hào trưởng quy thuận Đô hộ phủ khi chính quyền phương bắc cố gắng nhập hệ thống tổ chức chính quyền tự nhiên của người bản địa vào hệ thống tổ chức chính quyền phương bắc. Và rõ ràng, mô hình tổ chức chính quyền phương bắc đã trở thành chủ đạo tại An Nam, vì đây là mô hình tổ chức chính quyền tất yếu của lịch sử. Điểm khác biệt là mô hình này được hình thành một cách tự nhiên hay là một cách bị cưỡng bức như An Nam.

Khi Xương Văn tiến đánh Đinh Bộ Lĩnh, cho thấy Bộ Lĩnh bất tuân chính quyền Cổ Loa, Bộ Lĩnh hẳn là phải có thế lực thì Xương Văn mới phải đem binh đi đánh (diệt mối hoạ) và qua việc không bắt được Bộ Lĩnh, thì đúng là Bộ Lĩnh có thực lực. Sau 15 năm tự dựng, thì hẳn là thế lực của Bộ Lĩnh lại càng mạnh, vậy thì vì sao Bộ Lĩnh lại còn sang đầu quân cho Trần Lãm ở Bố Hải Khẩu ? Đinh Bộ Lĩnh bất tuân chính quyền Cổ Loa, cho thấy chí khí của Lĩnh. Do vậy việc Bộ Lĩnh chịu dưới trướng của Trần Lãm là khó hiểu ? Nhất là khi Lĩnh có thực lực. Đây có thể là một dạng liên kết quân sự hay không ? Năm 967, Trần Lãm chết. Đỗ Cảnh Thạc cũng mất. Con em họ Ngô giữ Động Đỗ Giang tấn công Bố Hải Khẩu, bị Ngô phó sứ ở đất Ô Man đánh bại. Đinh Bộ Lĩnh đem quân hàng phục những đất này. Lĩnh tiến đánh Lã Xử Bình, lấy được Cổ Loa. Tự xưng Vạn Thắng Vương. Các thủ lĩnh cát cứ hàng phục. Bộ Lĩnh rất ưu ái Ngô Nhật Khánh ở phía nam. Đóng đô ở Hoa Lư.

Họ Khúc – Dương, nắm giữ được Giao Châu, được các hào trưởng cát cứ quy phục, nhưng vẫn tận dụng danh nghĩa và hệ thống tổ chức của chính quyền phương bắc. Ngô Quyền kiến lập, cố gắng độc lập An Nam khỏi phương bắc nhưng vì sức mạnh quân sự nên các hào trưởng cát cứ vẫn buộc phải quy thuận. Khi Dương Tam Kha tiếm quyền, thì xảy ra tình trạng bất tuân ra mặt của các hào trưởng cũng là dễ hiểu, đến thời Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn vẫn còn loạn cũng không có gì khó hiểu. Toàn bộ An Nam có phải là của họ Ngô hay không ? Hay chỉ cần đánh bại giặc phương bắc và tự xưng là Vương vậy là toàn bộ đất cõi An Nam là của họ Ngô ? Các hào trưởng đời đời hưng thịnh ở lãnh thổ riêng của họ quy thuận triều đình Cổ Loa, đâu có nghĩa là họ dâng đất ấy cho họ Ngô ? Cả ngàn năm trước đó, các hào trưởng quy thuận phủ đô hộ, nhưng vẫn tự giữ, tự quản lãnh thổ của họ. Nên việc Trần Nhật Khánh, Nguyễn Xương Xí, Đinh Bộ Lĩnh, Kiều Tri Hựu cát cứ, cũng chẳng qua là chủ nào giữ đất ấy. Về mặt lịch sử thì hành động của Ngô Xương Văn dẹp loạn, Đinh Bộ Lĩnh tranh lập, Lê Hoàn dẹp giặc chẳng qua cũng chỉ là tranh giành quyền lực và lãnh thổ, tất yếu dẫn tới kết quả là sự thống nhất An Nam.

Đinh Bộ Lĩnh rất ưu ái Trần Nhật Khánh ở Đường Lâm. Đường Lâm được các tác giả Trần Ngọc Vương, Trần Trọng Dương và Nguyễn Tô Lan (cũng theo các tác giả này thì khởi từ Lê Hải Nam và Tích Dã) xác định ở vùng Thanh – Nghệ. Tôi cho rằng: Hành động này của Bộ Lĩnh là tiếp nối những nỗ lực của họ Dương, mở rộng sự ảnh hưởng của Giao Châu xuống phương nam. Đinh Bộ Lĩnh và Đinh Liễn bị sát hại. Thập đạo tướng quân Lê Hoàn lên ngôi. Vẫn đóng đô ở Hoa Lư. Dưới thời Lê Hoàn, quân đội nước nam rất mạnh. Phía bắc đánh Tống, phía nam phạt Chiêm. Trong nước đánh dẹp các thế lực chống đối. Đến Lý Công Uẩn lên ngôi, đặt đô ở Thăng Long. Đại Việt chính thức thống nhất. Một hệ thống chính quyền tập trung, thống nhất và duy nhất được thiết lập. Một hệ thống giống phương bắc nhưng không còn là của người phương bắc. Cái hệ thống mà được chính quyền phương bắc mang đến, thiết lập ở An Nam, bây giờ được chính người Việt sử dụng trong xã hội của Việt.

Tiểu kết: Người bản địa phương nam có hệ thống tổ chức chính quyền tự nhiên, toàn bộ cộng đồng người Mol tại đồng bằng sông Hồng, sông Mã được cấu thành từ những cộng đồng nhỏ hơn chiếm cứ những vùng lãnh thổ riêng. Khi chính quyền phương bắc tới và thiết lập mô hình tổ chức chính quyền tại An Nam, đã dẫn tới sự xung đột, do đó làm rõ nét hơn tình trạng cát cứ của các hào trưởng. Với chính sách “chính quyền hoá địa phương” phương bắc đã hệ thống hoá được các vùng lãnh thổ cát cứ của các hào trưởng, sự quy thuận Đô hộ phủ trở nên rõ ràng hơn. Khi chính quyền phương bắc không còn tồn tại ở An Nam, đã để lại nhận thức về cách tổ chức chính quyền và một hệ thống tổ chức chính quyền, họ Khúc và sau đó là họ Dương đã nỗ lực kiểm soát và điều hành hệ thống tổ chức này thông qua việc tự xưng và nhận sắc phong Tiết độ sứ. Họ Dương đã khởi đầu tiến trình thống nhất An Nam và tạo cơ sở cho nam tiến thông qua việc cử Đinh Công Trứ làm thứ sử Hoan Châu. Tiến trình thống nhất được tiếp tục bởi họ Ngô – Đinh – Lê. Thời kỳ Khúc – Dương – Ngô – Đinh – Lê là thời kỳ đặc biệt trong lịch sử Việt Nam, đây là thời kỳ thực hiện 3 tiến trình: Tiến trình thống nhất; tiến trình độc lập và tạo cơ sở cho cuộc nam tiến.

Theo tôi chúng ta không những có thể bỏ số 12 trong Loạn 12 sứ quân mà có thể bỏ cả cụm từ Loạn sứ quân, lịch sử chỉ đơn giản như Ngũ đại sử của Âu Dương Tu (1007-1072) chép: Năm thứ 10 (tức năm Đại Hữu thứ 10 – 937), Giao Châu nha tướng Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ tự lập, tướng cũ của Đình Nghệ là Ngô Quyền đánh Giao Châu, Công Tiễn xin cứu viện. Nghiễm phong Hồng Thao tước Giao vương, xuất binh theo hướng Bạch Đằng tấn công. Còn Nghiễm thì đóng binh tại Hải Môn” và “Ngô Xương Văn ở Giao Châu chết, phụ tá của ông này là Lã Xử Bình cùng Phong Châu Thứ sử Kiều Tri Hựu tranh lập, Giao Chỉ đại loạn, Hoan Châu Đinh Liễn cử binh kích phá đám ấy”.

P/S: Nam Tiến. Nếu chúng ta nhìn nhận, lịch sử Việt Nam khởi đầu từ Kinh Dương Vương dựng nước Xích Quỷ, từ đó hình thành Bách Việt, quá trình Hán hoá diễn ra, nhưng Lạc Việt đã thoạt được và kiến tạo Đại Việt. Chúng ta sẽ rất tự hào về điều đó, nhưng nếu như Bách Việt chỉ là một khái niệm phân loại của người phương bắc thì sao ? Người thời Chu nhìn các tộc người phía nam sông Dương Tử là Ngô – Sở – Việt là dân man di. Đến khi nhà Tần thống nhất, người phương bắc tiến xuống Lĩnh Nam, những tộc người này có nét tương đồng với người nước Việt của Công Tiễn, nên người phương bắc liền gọi người Lĩnh Nam là Việt. Nhưng khi thực, người Lĩnh Nam gọi nhau là Âu Lạc (một từ mà dân bản địa vùng Lĩnh Nam tự xưng được người Hán ký âm). Người vùng Lĩnh Nam có những nét tương đồng về văn hoá là thông qua giao lưu, còn về nguồn gốc thì không cùng. Nhóm người ở vùng đồng bằng sông Hồng, sông Mã tạm gọi là người Đông Sơn. Người Đông Sơn là dân bản sứ, có cuộc sống sông nước. Khi người phương bắc (rất nhiều chủng tộc) chạy loạn xuống phương nam, đã hoà huyết với người bản địa tạo ra thế hệ lai, mức độ hoà huyết như nào thì rất khó xác định, không chỉ dừng lại ở hoà huyết, người phương bắc mang cả văn hoá xuống phương nam. Theo thời gian, dòng người phương bắc càng nhiều. Đến thế kỷ 10, những người phương nam kiến quốc, họ không chỉ nam tiến (chiếm đất của người Chăm) mà họ còn bắc tiến (chiếm đất của người Tày – Nùng) và Tây tiến (lấy đất của người Thái). Rõ ràng người Việt (Kinh) không hề mất đất, mà còn chiếm đất của các tộc người xung quanh. Sau 1000 năm, người Việt không bị Hán hoá ? Thực sự không phải như thế ? So với người Đông Sơn, người Việt (Kinh) không còn nhiều điểm chung. Tiếng Việt bây giờ cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều của tiếng Hán và tiếng Thái. Thực sự thì để tìm ra một điểm khác Hán đủ lớn ở người Việt là rất khó, vậy thì vì sao lại cho rằng: người Việt không bị Hán hoá ? Câu hỏi là: Hán hoá có thực sự xấu, có thực sự đáng sợ hay không ? Tộc người nào cũng kiến tạo những giá trị tốt đẹp và một tộc người để có thể tồn tại thì cần phải tiếp thu những giá trị tốt đẹp của các tộc người khác, tiếp thu càng nhiều càng tốt.

Nhìn lại lịch sử giải vô địch Đông Nam Á: 18 năm lấn… biển - Bongdaplus.vn 04/11/2018

Bóng đá-thứ trò chơi nhen lên ngọn lửa nhiệt tình, gây chấn động những quốc gia, có sức mạnh làm gián đoạn những khoá họp quốc hội...
Bóng đá-trò chơi đơn giản so với nhiều môn bóng khác nhưng thực sự đã chinh phục được trái tim toàn nhân loại

Nhìn lại lịch sử giải vô địch Đông Nam Á: 18 năm lấn… biển - Bongdaplus.vn Năm 1996, giải vô địch Đông Nam Á bắt đầu được AFF tổ chức nhằm giúp các ĐTQG trong khu vực tích lũy kinh nghiệm trận mạc để vươn ra những đấu trường lớn của châu Á và thế giới. Trải qua 9 lần tổ chức, Tiger Cup và nay là AFF Su...

03/11/2018

LỊCH SỬ TRƯỜNG BƯỞI - CHU VĂN AN
Sau khi ra lệnh đóng cửa trường Đông Kinh Nghĩa Thục năm 1907, Ngày 9 tháng 12/1908 Toàn quyền Đông Dương Klobukowski ra quyết định thành lập Collège du Protectorat (Trường Thành chung Bảo hộ - tương đương trường cấp II hiện nay)). Năm 1931, trường được nâng cấp thành một Lycée (tương đương trường cấp III hiện nay) - Lycée du Protectorat (Trường Trung học Bảo hộ). Tuy nhiên do trường được xây dựng trên đất làng Thụy Khuê (thời Hậu Lê là nơi đặt điện Thụy Chương) ở vùng Kẻ Bưởi, ven hồ Tây nên người dân vẫn gọi là trường Bưởi. Trường Bưởi là cái tên mà các học sinh có tinh thần phản kháng lại người Pháp dùng khi đề cập đến trường, nhằm không gọi cái tên chính thức người Pháp đặt.
Người Pháp mở trường Trung học bảo hộ, nhưng cả Bắc Kỳ khi đó chỉ có trường Bưởi là lycée dành cho học sinh người Việt, vì Lycée Albert Sarraut là của học sinh Pháp, họ lấy rất ít học sinh Việt (đây cũng là đối thủ chính của trường Bưởi trong thời gian này cả về thành tích học tập lẫn thể thao) và mãi sau mới thêm mấy trường trung học nữa ở Hải Phòng, Nam Định...
Vì vậy nơi đây đã là cái nôi của lớp trí thức trẻ người Việt, một năm trường tuyển ở cả Bắc Kỳ đúng 120 chỉ tiêu (và tỉ lệ học sinh của toàn Bắc Kỳ khi đó cũng thấp nhất nước, khoảng 1 học sinh/10.000 người dân), do đó đậu vào trường Bưởi trong thời gian này được gọi là cả một tự hào lớn lao ... Không chỉ có học sinh người Việt, trường Bưởi còn là nơi học tập của một số học sinh Lào và Campuchia. Học phí thời gian này chừng 4 đồng Đông Dương một tháng,
nên vấn đề giành học bổng để học tập là một vấn đề rất quan trọng
Cuối năm 1943 do Thế chiến thứ hai lan rộng, để tránh những cuộc không tập của phi cơ đồng minh (thả bom) trường phải sơ tán chia làm 3 nhóm : một phần về tu chủng viện Phúc Nhạc (Ninh Bình), một phần về Hà Đông và phần còn lại vào Thanh Hóa.
Quân Nhật chiếm đóng làm doanh trại ngay trên cơ sở trường; rồi lại quân Tàu Tưởng thay thế một thời gian, phá phách và lấy đi mất hầu hết những sách giáo khoa và học liệu.
Sau khi Nhật đảo chính Pháp, tháng 6 năm 1945 Giáo Sư Hoàng Xuân Hãn, Bộ Trưởng
Giáo Dục – Mỹ Thuật trong nội các Trần Trọng Kim đã đề nghị và ký nghị định xóa bỏ tên “Collège du Protectorat”, thay bằng tên mới là Quốc lập Trung học hiệu Chu văn An (Trường Trung Học Chu Văn An) và cử giáo sư Nguyễn Gia Tường làm Hiệu trưởng, đây là Hiệu trưởng người Việt đầu tiên của Trường Bưởi. Cùng với việc cho dựng bảng trường Chu Văn An, ông ban hành việc học và thi Tú Tài bằng tiếng Việt, dùng tiếng Việt trong trường học và công văn chính thức.
Chu Văn An là vị sư biểu được tôn kính trong lòng dân tộc. Tưởng cũng cần ghi thêm là Năm Canh Tuất 1070, Triều Lý cho xây dựng Khổng Miếu, gian chính giữa đặt tượng và bài vị Khổng Phu Tử là danh nho sư tổ của Đạo Nho.
Năm Ất Mão 1075, Lý Thánh Tông cho mở mang các khoa thi và mở rộng Khổng Miếu thành Quốc Tử Giám tức là Viện Đại Học tiên khởi của Việt Nam. Đến đời Vua Trần Nghệ Tông, năm 1371 đưa thêm tượng và bài vị Chu Văn An vào nhà Quốc Học để tôn thờ ngang hàng với Khổng Phu Tử. Xem như thế, thật vô cùng danh giá thêm cho những ai được xuất thân từ mái trường mang tên Chu Văn An, vị sư biểu đã được tôn kính trong lòng dân tộc.
Trong những năm 1947-1954 Hà Nội bị tạm chiến, nhà trường bị binh đoàn xe tăng Pháp chiếm đóng, nên thầy và trò phải tạm trú tại trường nữ sinh Đồng Khánh (nay là trường Trưng Vương) ở phố Hàng Bài, sau lên Cửa Bắc sáp nhập với trường Cao đẳng Tiểu học Đỗ Hữu Vị (mang tên gọi Trường Nguyễn Trãi từ 1945 nay là trường Phan Đình Phùng ) năm 1950 lại tách ra CVA & Ng Trãi – nhưng mãi đến tháng 10 năm 1954, trường Chu Văn An – Hanoi mới lại trở về địa điểm ban đầu ở cạnh hồ Tây.
Mùa hè 1947, trường CVA tại Hanoi bắt đầu quy tụ học sinh học dang dở và tuyển sinh mới từ các tỉnh, khai giảng trở lại. Nếu tính những mầm non lớp đệ thất, năm đầu tiên bậc trung học từ mùa hè năm 1947 đến tháng 7 năm 1954 là ngày Hiệp định Genève chia đôi đất nước, thì những trang thiếu niên này vừa hoàn tất xong bậc Tú Tài II toàn phần. Vị Hiệu Trưởng ngay lúc đó là Giáo Sư/Thầy Vũ Ngô Xán (từ 1951) và hầu hết các giáo sư đang giảng dạy đều theo trường Chu Văn An di chuyển từ Hà Nội vào Sài Gòn (tháng 7/1954). Niên học 1954 - 1955 nơi trường sở mới chân ướt, chân ráo nhưng đã được khai giảng kịp thời, không bị gián đoạn. Được biết kỳ thi trung học và Tú Tài hè 1955, sĩ số tốt nghiệp đỗ đạt vẫn khả quan.
Ngôi trường CVA tại Saigon nguyên là một phần thuộc Trường Pétrus Ký, trước đây là khu ký túc xá, bao gồm một dãy nhà hai tầng lầu, và một dãy nhà một tầng, lúc đó được dựng một hàng rào kẽm mắt cáo ngăn riêng giũa hai trường : Cổng trường Chu Văn An đi lối đường Trần Bình Trọng, còn trường Pétrus Ký đi phía đường Cộng Hòa. Thời gian những năm đầu các lớp Đệ Nhất A, B, C có thâu nhận các nữ sinh Tú Tài I học từ bên ngoài, hoặc phần nhiều từ trường Trưng Vương chuyển qua. Đến năm 1961, trường Chu Văn An di chuyển đến cơ sở mới xây cất rộng rãi và khang trang trên góc đường Minh Mạng - Triệu Đà, ChợLớn.
Nói tóm lại Chu Văn An là một trường trung học lâu đời nhất của Việt Nam, như là trung tâm quốc gia giáo dục, sinh tồn với thời gian dài hơn một trăm năm, nên đã quy tụ được rất nhiều giáo sư trí thức uyên bác, mang nặng tâm huyết và hoài bão xây đắp tuơng lai xứ sở, bởi vậy đã gầy dựng được một lớp nhân sự tuổi trẻ đầy đủ trí năng, nhân cách, xứng danh Bưởi - Chu Văn An. Dù bất cứ thời gian hay không gian nào, những hình ảnh của các giáo sư đáng kính vẫn được lưu truyền nhắc nhở đến tên tuổi.
Những vị Hiệu Trưởng, từ thời thuộc địa Pháp là các Giáo Sư :
Paul Mus (1908), Dounadieu (1915), Lihonet (1920), Lomberger Bovet(1825), Houlié (1931),
Léon Autigeon (1937), Perruca (?) Paech (?)
Đến năm 1945 vai trò Hiệu trưởng được chuyển qua người Việt Nam là những Giáo sư :
Hoàng Cơ Nghị, Nguyễn Gia Tường, Dương Quảng Hàm, Trần Văn Khang, Mai văn Phương,
Đỗ Văn Hoán, Phạm Xuân Độ, Vũ Ngô Xán (1951), Trần Văn Việt (1957), Nguyễn Hữu Văn (1963), Đàm Xuân Thiều (1963), Bùi Đình Tấn (1964), Dương Minh Kính (1965),
Nguyễn Xuân Quế (1968-1975)
Thời gian Hiệu trưởng Ghi chú
1914 - 1918
Muss
1925 - 1926
Lombriger
1936 - 1939
Léon Autigeon
1940 - 1945
Perruca
1944 - 1945
Dizes Giám học phân hiệu Chu Văn An sơ tán ở Phú Nhạc
Tháng 6 – 8/ 1945
Nguyễn Gia Tường
Hoàng Cơ Nghị Hiệu trưởng người Việt đầu tiên thuộc Pháp (NBình)
Được bổ nhiệm sau khi Nhật đảo chính Pháp (Hanoi)
Tháng 8 – 9/ 1945
Dương Quảng Hàm
Hiệu trưởng do Việt Minh bổ nhiệm
1948-1951
Phạm Xuân Độ Hiệu trưởng Chu Văn An tại Hà Nội thuộc Pháp
1951-1953
Vũ Ngô Xán Hiệu trưởng Chu Văn An tại Hà Nội thuộc Pháp
1953-1954
Mai Phương Hiệu trưởng Chu Văn An tại Hà Nội thuộc Pháp
(*) Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, 1 phần trường Chu Văn An chuyển về Đào Giã - Phú Thọ do thầy giáo Trần Văn Khang làm hiệu trưởng (từ 1945-1947) thuộc Việt minh.
Kế tiếp là các Giáo Sư giảng dạy:
Dufresme (Cụ Phèn), Patris, Foulon, De Rozario,
- Nguyễn Viết An, Trần Đức An, Vũ Văn Anh, Vũ Ngọc Ánh, Lê Thái Ất, Vũ Bảo Ấu,
- Nguyễn Gia Bảo, Đặng Vũ Biền, Vũ Tô Bình.
- Hà Tường Cát, Thẩm Nghĩa Căn, Cao Quang Cận, Ngô Duy Cầu,
Nguyễn Ngọc Cầu, Hà Xuân Châu, Vũ Hoàng Chương, Vũ Lai Chương,
Vũ Văn Chuyên, Nguyễn Chuyết, Nguyễn Ngọc Cư, Nguyễn văn Kỷ Cương,
Huỳnh Kim Cương, Đặng Đức Cường, Lương Trác Cường
- Nguyễn Văn Dậu, Nguyễn Ngọc Diễm, Nguyễn Thị Dung, Nguyễn Văn Dũng,
Đào Xuân Dương, Thái Thị Ngọc Duyên, Đặng Ngọc Dư
- Vũ Ngọc Đạm, Nguyễn Đăng Đại, Đào Mạnh Đạt, Đinh Mạnh Đễ,
Lê Đình Điểu, Đặng Văn Định, Nguyễn Văn Đỉnh, Bùi Đồng, Tô Đồng,
Nguyễn Thị Đức, Nguyễn Huy Đương, Trần Thanh Giản,
- Nguyễn Đình Hách, Trần Xuân Hải, Đinh Văn Hải, Trần Mộng Hải, Nguyễn Hanh,
Nguyễn Văn Hàm, Nguyễn Lệ Hằng, Bùi Duy Hiển, Nguyễn Thế Hiển,
Trần Thế Hiển, Nguyễn Đức Hiếu, Đỗ Khánh Hoan, Phan Minh Hoàng,
Võ Kim Huê, Hoàng Minh Hùng, Nguyễn Hữu Hưng, Phạm Thế Hùng,
Bùi Quang Huy, Đặng Thị Chiêu Huyên, Lê Ngọc Huỳnh,
- Nguyễn Hữu Kế, Trần Duy Khang, Phạm Văn Khánh, Nguyễn Khắc Kham,
Lưu Trung Khảo, Lê Văn Khiết, Linh Mục Trần Thanh Khiết, Vũ khắc Khoan,
Phan Ngọc Khuê, Bùi Khương, Nguyễn Xuân Kỳ,
- Nguyên Sa Trần Bích Lan, Nguyễn Thị Ngọc Lan, Vũ Ngọc Lan,
Lê Mộng Lân, Nguyễn Hữu Lãng, Trần Quang Lãng, Lê Văn Lâm,
Lưu Ngọc Linh, Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Khánh Long, Nguyễn Văn Long,
Linh Mục Trần Phúc Long, Phạm Tiến Lợi, Trần Đức Lợi, Nguyễn Văn Luận,
Phạm Xuân Lương, Trần Trung Lương, Phan Văn Lượng,
- Hồ Đình Mai, Trần Văn Mại, Nguyễn Hữu Mai, Đinh Đức Mậu,
Linh Mục Trần Văn Hiến Minh, Trần Đình Minh, Nguyễn Can Mộng,
Nguyễn Văn Mùi,
- Phạm Huy Ngà, Bạch Văn Ngà, Nguyễn Ngạc, Nguyễn Xuân Nghiên,
Đặng Văn Nhân, Nguyễn Đình Nhàn, Nguyễn Văn Nhì, Lê Trung Nhiên,
Nguyễn Bích Như, Chu Đức Nhuận, Nguyễn văn Ngọc, Lê Văn Ngụ,
Trương Đình Ngữ, Nguyễn Văn Nguyên,
- Vũ Tiến Phái, Đoàn Văn Phi, Nguyễn Văn Phong, Trần Quang Phong,
Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Phúc, Lê Hữu Phụng, Thiên Phụng, Võ Văn Phước,
- Nguyễn Đức Quang, Nguyễn Văn Quang, Trần Thanh Quang, Chung Quân,
Nguyễn Xuân Quế, Nguyễn ngọc Quỳnh,
- Nguyễn Văn Sâm, Chu Phạm Ngọc Sơn,
- Đỗ Anh Tài, Cung Nhật Tân, Lê Thanh Tân, Bùi Đình Tấn, Bùi Thế Tập, Nguyễn Sĩ Tế,
Cung Đình Thanh, Hoàng Đình Thanh, Trần Đình Thám, Nguyễn Thăng, Đỗ Thận,
Đặng Ngọc Thiềm, Nguyễn Dương Thoại, Lê Mậu Thống, Lê Văn Thu, Trần Thị Lệ Thu,
Cao Đức Thư, Nguyễn Thư, Phạm Biển Thước, Nguyễn Đăng Thường, Vũ Văn Tiên,
Nguyễn Văn Tiến, Phan Văn Tính,Phan Huy Tùng, Vũ Đình Triều, Trần Quốc Thước,
Nguyễn Chung Tú, Thái Văn Tùng, Trần Văn Từ, Lê Thị Trà, Vũ Hoài Trân,
Lương Duyên Trinh, Bùi Thái Trừu,
- Nguyễn Trọng Văn, Nguyễn Văn Viện, Lê Thành Việt, Đinh Thế Vinh,
Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, Trần Xuân Vụ, L.M. Trần Thúc Vỵ,
- Trần Đình Ý.
(Bùi Huy Đỉnh - Tổng hợp từ nhiều bài viết về Trường Bưởi – Chu văn An)
Ghi chú :
*Giai đoạn chiến tranh 1943 -1944 cũng gây nhiều tranh cãi vì trường Bưởi phải di tản về 3 nơi : Ninh Bình ( chủng viện Phúc Nhạc với cụ Hiệu trưởng Nguyễn Gia Tường), Hà Đông và Thanh Hóa. Về sau cả ba nhánh tập trung về Việt Nam Đại Học Xã (1946), mới lấy tên chính thức là Chu Văn An. Khoảng 1950, Chu Văn An lại tách làm hai là Chu Văn An và Nguyễn Trãi, rồi 1954 Chu Văn An di cư vào Sài Gòn với đầy đủ ban Giáo sư, giám thị...
*Từ niên khóa 1943-1944, để tránh oanh tạc của phi cơ đồng minh[10], trường dời Hà Nội, chia ra ba nơi[11]:
- Ban Cao đẳng tiểu học chuyển vào Phúc Nhạc (Ninh Bình), dạy tại Tiểu Chủng Viện Phúc Nhạc với Cụ Hiệu trưởng Nguyễn Gia Tường
- Ban trung học cổ điển Viễn Đông (đệ nhất và đệ nhị cấp), và ban trung học cận đại (cycle secondaire moderne) đệ nhị cấp chuyển vào Sầm Sơn, Thanh Hóa.
- Ban trung học cận đại đệ nhất cấp được dạy tại Hà Đông, cùng với ban trung học đệ nhất cấp của trường Albert Sarraut.
Sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9-3-1945, Hoàng Xuân Hãn[12], bộ trưởng bộ giáo dục trong chính phủ Trần Trọng Kim, đổi tên là Trường Trung Học Chu Văn An. Hiệu trưởng đầu tiên là giáo sư Hoàng Cơ Nghị[13], tốt nghiệp cử nhân lý hóa tại Paris.
Từ niên khóa 1945-1946, trường dời về Hà Nội, học trò học tại trường Félix Faure, trước là một trường nữ cao đẳng tiểu học Pháp.
Niên khóa 1948-1949, trụ sở của trường là Trường nữ tiểu học Phố Hàng Cót.
Niên khóa 1949-1950, trường dời đến trường nữ sinh Đồng Khánh khi trước.
Từ niên khóa 1950-1951 cho đến năm 1954, trụ sở đặt tại Cửa Bắc : Trường cao đẳng tiểu học Đỗ Hữu Vị (từ 1945 đã có tên là Nguyễn Trãi). Hiệu trưởng CVA cuối cùng ở Hà Nội là Vũ Ngô Xán. (Sáp nhập 2 trường từ khi dời về Hanoi và lại tách ra làm 2 từ 1950)
Sau hiệp định Genève 1954, trường Chu Văn An di chuyển vào Sàigòn, tọa lạc tại đường Trần Bình Trọng, sau lưng trường Pétrus Ký. Vũ Ngô Xán tiếp tục làm hiệu trưởng. Trường Chu Văn An này tồn tại đến năm 1975
Trong 90 năm, từ 1886 đến 1975, trường Chu Văn An đã thay đổi không ngừng, từ danh xưng, trụ sở đến chương trình giáo dục để thích ứng với nhu cầu và hoàn cảnh Việt Nam. Tên chính thức lần lượt là Ecole d’Interprètes de Hanoi (1986-1904), Ecole Complémentaire de Hanoi (1904-1908), Collège du Protectorat (1908-1929), Lycée du Protectorat (1929-1945), Trường Trung Học Chu Văn An (1945-1975). Hai chữ Trường Bưởi chỉ được dùng trong dân gian, có lẽ từ năm 1908 đến năm 1945. Người ta dùng bốn chữ "Trung Học Bảo Hộ" dịch từ Collège du Protectorat hoặc Lycée du Protectorat.
Trường Cao Đẳng Tiểu Học Nam Định hay Trường Thành Chung Nam Định, tên chính thức là Ecole primaire supérieure de Nam-Dinh, được thành lập do nghị định ngày 27-4-1904 của Toàn quyền Đông Dương, có tên là Collège Jules Ferry. Hoạt động được 4 năm thì đóng cửa vì được sáp nhập vào Trường Trung Học Bảo Hộ tại Hà Nội. Năm 1920 trường được tái lập, lấy tên là Cours Complémentaires de Nam Đinh, Năm 1924 đổi tên là Ecole Complémentaire de Nam Đinh [sở dĩ đổi tên từ Cours complémentaires sang Ecole compémentaire vì trường tuyển 80 học sinh cho lớp 2 đệ thất (từ 2 lớp trở lên thì được gọi là Ecole), thay vì 40 học sinh cho một lớp (chỉ được gọi là Cours)]. Năm 1928 lại đổi tên thành Ecole primaire supérieure de Nam-Dinh. Sau ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp, trường đổi tên là Trường Trung Học Nguyễn Khuyến, với vị hiệu trưởng đầu tiên là Phan Thế Roanh (Đặng Hữu Thụ, sđd, trang 163-165).
*QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP TRƯỜNG NGUYỄN TRÃI
Tiền thân trường PTTH Nguyễn Trãi là trường École Normale Supérieure được thành lập năm 1923, đặt tại cửa Bắc Hà Nội. Năm 1930 đổi thành trường Cao đẳng Tiểu học École Normale Supérieure Đỗ Hữu Vị. Đây là một trường lớn có thể sánh ngang các trường Bưởi (Lycée du Protectorat) và trường Đồng Khánh thời bấy giờ. Từ khi thành lập đến năm 1945, hiệu trưởng của trường đều là người Pháp.
Từ năm 1945, trường được mang tên vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi. Lúc này, hiệu trưởng của trường là một người Việt Nam. Đó là ông Đỗ Trí Lễ (Cử Nhân Khoa Học). Ông là người Việt Nam đầu tiên làm hiệu trưởng trường Nguyễn Trãi. Trường thu nhận học sinh nam cả hai cấp: Trung học đệ nhất cấp (cấp 2) và Trung học đệ nhị cấp (cấp 3).
Năm 1954, trường được di chuyển vào Nam và vẫn mang tên Nguyễn Trãi. Vì không có trụ sở riêng nên trường phải học nhờ tại trường Tiểu học Trương Minh Ký (nay là trường Nguyễn Thái Học) đường Trần Hưng Đạo (Sài Gòn) sau đó chuyển về trường Tiểu học Lê Văn Duyệt (nay là trường Trần Văn Ơn). Đến năm 1964 mới chuyển về địa điểm bây giờ.
Các bài đọc thêm :
VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ 90 NĂM TRƯỜNG BƯỞI – CHU VĂN AN
Trường THPT Chu Văn An hiện nay, ban đầu là trường Trung học Bảo hộ, được người Pháp thành lập ngày 18/12/1908, nhằm đào tạo những người sẽ thu hút vào các ngành học chuyên môn cho bộ máy chính quyền của họ ở Đông Dương.
Vì không muốn thừa nhận tính mục đích đào tạo thể hiện ngay trong tên ấy nên một học trò nào đó làng Bưởi đã gọi trường mình học là trường Bưởi. Về sau bè bạn, rồi mọi người gọi mãi thành tên. Vì thật ra nhà trường không ở trên đất làng Bưởi mà là trên đất chùa Chân Lâm mà người Pháp dời đi để lập nên nhà in Schneider. Rồi lại dời nhà in này về Hàng Bông thành nhà in Trung Bắc Tân Vân sau này (Công ty in Thống Nhất hiện nay) để nhường khu đất rất đẹp (của làng Thuỵ Chương, đến đời Tự Đức mới đổi thành Thuỵ Khuê) này cho trường.
Trường được dạy bằng tiếng Pháp, theo chương trình và sách giáo khoa từ Pháp đưa sang, gồm hai cấp: Cao đẳng tiểu học và cao đẳng trung học, học trong 5 năm, kết thúc bằng thi Thành chung. Việt văn và chữ Hán bị coi là môn phụ. Các thầy hầu hết là người Pháp, một số ít là người Việt. Cách dạy phổ biến là “nhồi sọ”, buộc học sinh phải học vẹt. Nhưng nhờ đa số học sinh có tinh thần hiếu học, biết giúp đỡ nhau học trong các nhóm, tìm thầy Việt Nam giỏi ở các trường khác để học thêm, và nhất là khả năng tự học (qua việc đọc sách) mà tích luỹ được kiến thức cho mình. Một số thầy giáo giỏi Việt Nam như Lê Thước, Dương Quảng Hàm, Trần Văn Khang, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Xiến, Nguyễn Văn Huyên… được “bổ” vào dạy (trong đó có một số thầy vốn là học sinh trường Bưởi) đã tạo điều kiện cho học sinh mở rộng, trau dồi, đi sâu vào kho tàng kiến thức, thể hiện qua các kỳ thi, nhất là vấn đáp, đến các thầy người Pháp cũng phải nể phục. Điều đáng nói là các thầy đã nhen nhóm, thổi bùng lên lòng tự trọng cá nhân, lòng tự tôn dân tộc và ý thức phản kháng; bước đầu là sự phản đối thái độ miệt thị người Việt Nam, đề cao lịch sử và văn học Việt Nam là diễn kịch về đề tài lịch sử Việt Nam. Rồi phong trào đòi ân xá Phan Bội Châu, để tang Phan Chu Trinh. Khi không được nhà trường chấp nhận đã tổ chức bãi khoá, sau đó một số học sinh bị đuổi học, đã bỏ học, đi làm cách mạng …
Vì Bưởi là trường Trung học lớn nhất, có tiếng nhất dành cho người “bản xứ” ở Đông Dương – có HS Lào và Cao Miên, nên nhà trường đã thu hút đông đảo học sinh có năng khiếu vào học. Rất nhiều học sinh sau này trở thành những người có tên tuổi,
Máy bay đồng minh ném bom Hà Nội. Trường phải “chạy loạn”. Khối tú tài đi về Thanh Hoá. Khối cao đẳng về tu viện Phúc Nhạc (Ninh Bình). Trường thành nơi đóng quân của Nhật. Nhật đảo chính Pháp, thầy trò kéo nhau về Thủ đô, đặt một trạm liên lạc ở Đông Dương học xá. Sau đó một thời gian, trường chính thức tự tên Trung học Bảo hộ để mang tên Chu Văn An, danh sư Quốc tử Giám. Sau khi quân Nhật đầu hàng, Trường phải học tạm ở thị xã Hà Đông vì quân Tưởng đã thay quân Nhật đóng ở trường. Sau tết 1946, trường chuyển về Việt Nam học xá (tức Đông Dương học xá trước đó, nay là Đại học Bách khoa). Sau kỳ nghỉ hè 1946, trường về học ở trường nữ trung học Pháp (Đại sứ quán Liên bang Nga bây giờ).. Thời kỳ kháng chiến, một số rất đông thầy giáo và học sinh tản cư ra vùng tự do theo kháng chiến rồi tập hợp lại ở Đào Giã Phú Thọ, theo quyết định của Bộ Giáo dục lập ra trường Trung học Kháng chiến Chu Văn An do thầy Trần Văn Khang làm hiệu trưởng. Tuy chỉ tồn tại có 3 năm trong hoàn cảnh vô cùng thiếu thốn, khó khăn, nhưng trường đã kịp thực hiện một mô hình giáo dục mới ở bậc trung học nước ta : Học chuyên ban, theo chương trình của Việt Nam cộng với hai ngoại ngữ (Anh và Pháp). Khi khu học xá Trung ương được lập ra ở Nam Ninh (Trung Quốc) thì trường ngừng dạy, kết thúc nhiệm vụ lịch sử của mình…Tất cả các thầy và một số sang học tiếp ở khu học xá. Một số vào các trường: võ bị, y khoa,…
Trong vùng tạm chiếm (Hanoi), cuối 1948 trường mới mở lại vẫn với tên Chu Văn An. Nhưng vì trường cũ lại trở thành doanh trại quân Pháp nên phải học nhờ ở trường tiểu học Thanh Quan (Hàng Cót). Năm học 1949 – 1950 lại dọn về trường Đồng Khánh cũ (PTCS Trưng Vương bây giờ). Năm học sau thì dọn về chỗ trường Phan Đình Phùng (phố Cửa Bắc bây giờ).
Sau hiệp định Geneve (tháng 7/1954) thầy trò mới được trở lại trường cũ. Một số thầy trò vì nhiều lý do đã di cư vào Nam . Nhưng vẫn muốn giữ mãi truyền thống hiếu học của trường và danh tiếng Chu Văn An nên lại lập ra một trường trung học cũng mang tên Chu Văn An

Want your school to be the top-listed School/college in Hai Duong?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Telephone

Website

Address


Lô F13 LiLama, Khu 15 Phường Bình Hàn Thành Phố Hải Dương
Hai Duong