Khoa Y - VTTU

Khoa Y - VTTU Fanpage Khoa Y -VTTU là nơi giao lưu, chia sẻ tri thức, kinh nghiệm

09/02/2024

Chúc Anh chị, các Bạn đồng nghiệp, cùng các bạn đồng nghiệp tương lai năm mới Vạn sự như ý, Thành công - Chào mừng năm mới 2024.

29/12/2023

Xin chúc mừng các Tân Bác sĩ.

Chúc các bạn thành công.

💉GÃY XƯƠNG CẲNG TAY: TRIỆU CHỨNG, CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ💉----------------------------------------------Gãy xương cẳng tay...
16/12/2023

💉GÃY XƯƠNG CẲNG TAY: TRIỆU CHỨNG, CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ💉
----------------------------------------------
Gãy xương cẳng tay là một chấn thương phổ biến xảy ra ở cả trẻ em và người lớn. Sau khi bị gãy xương, nếu không xử trí, điều trị đúng phương pháp ngay từ đầu có thể sẽ dẫn tới các biến chứng đe dọa tính mạng, gây tàn phế suốt đời.

1. Nguyên nhân và cơ chế:
- Thường do té ngã, đánh nhau, tai nạn lưu thông.
- Cơ chế trực tiếp: Ngã đập cẳng tay xuống mô đất cứng, giơ tay cản đỡ đòn đánh trực tiếp vào cẳng tay; thường gãy ngang 1 hoặc cả 2 xương ở cùng vị trí.
- Cơ chế gián tiếp: Ngã chống tay khuỷu duỗi làm uốn bẻ gập 1 hoặc 2 xương gây nên gãy chéo, xoắn, gãy bậc thang. Hai xương thường gãy ở hai vị trí khác nhau. Xương trụ gãy thấp, xương quay gãy cao.
- Cơ chế hỗn hợp: Vừa trực tiếp vừa gián tiếp, gây ra các kiểu gãy phức tạp: gãy 2 tầng, gãy có mảnh thứ 3...(đánh giá khả năng di lệch nhiều hay ít).

2. Các thể lâm sàng
- Theo vị trí: chia làm 3 thể (gãy 1/3 trên, 1/3 giữa và gãy 1/3 dưới).
- Theo tuổi:
+Gãy xương ở người lớn.
+Gãy xương ở trẻ em: Gãy tạo hình thì xương quay bị cong không thấy đường gãy và gãy cành tươi thì xương chỉ gãy một bên vỏ xương, vỏ còn lại chỉ bị uốn cong.
​- Gãy kín hoặc gãy hở.

3. Dấu hiệu gãy xương cẳng tay
- Đau chói tại vị trí xương gãy, đau tăng khi cử động.
- Sưng đau
- Bầm tím
- Cẳng tay biến dạng, cổ tay cong lại...
- Không thể cử động cẳng tay như bình thường
- Có những cử động lạ tại vị trí gãy.

4. Chụp Xquang cẳng tay: để chẩn đoán gãy xương và đánh giá mức độ di lệch xương gãy

5. Nguyên tắc điều trị:
- Xử trí cấp cứu: Giảm đau, chống sốc (nếu có), nẹp cố định xương gãy.
- Điều trị đặc hiệu: tùy theo thể lâm sàng, độ tuổi...
- Điều trị bảo tồn: Nắn chỉnh, bó bột, nẹp cố định. Chỉ định các trường hợp gãy rạn, ít di lệch, hoặc không có chỉ định phẫu thuật.
- Phẫu thuật can thiệp trực tiếp kết hợp xương: xuyên đinh, đinh nội tủy, nẹp vis, bất động khung cố định ngoài với nhưng trường hợp có chỉ định phẫu thuật.
​- Phục hồi chức năng: Tập sớm theo chỉ định của bác sĩ với các hoạt động đơn giản phù hợp, lượng giá tầm vận động khớp khuỷu, sấp ngửa cẳng tay, cổ sau điều trị.
- Khi bị gãy xương cẳng tay điều quan trọng là phải được cấp cứu kịp thời, tránh những biến chứng xấu xảy ra với bệnh nhân và tình trạng tổn thương kéo dài có thể ảnh hưởng đến quá trình hồi phục giải phẫu cẳng tay.
(Hình ảnh X-Quang 2 xương cẳng tay trước và sau phẫu thuật kết hợp xương)
===========================




Nguồn: BS. Đào Xuân Vũ

📌HỘI CHỨNG NGÓN TAY LÒ XO 📌----------------------------------------👉 Ngón tay lò xo là tình trạng viêm bao gân của các g...
16/12/2023

📌HỘI CHỨNG NGÓN TAY LÒ XO 📌
----------------------------------------
👉 Ngón tay lò xo là tình trạng viêm bao gân của các gân gấp các ngón tay gây chít hẹp bao gân. Một số trường hợp gân gấp bị viêm xuất hiện cục viêm xơ, làm di động của gân gấp qua vùng ngón tay bị cản trở. Mỗi lần gấp hay duỗi ngón tay rất khó khăn, bệnh nhân phải cố gắng mới bật được ngón tay ra hoặc phải dùng tay bên lành kéo ngón tay ra như kiểu ngón tay có lò xo.

🎯NGUYÊN NHÂN:
– Thường gặp ở nữ, đặc biệt ở phụ nữ mang thai, cho con bú, tiền mãn kinh.
– Các bệnh lý về khớp như: viêm khớp dạng thấp, gout.
– Đái tháo đường.
– Chấn thương vùng cổ – bàn tay lặp lại.
– Bệnh nghề nghiệp cần sử dụng đến cổ – ngón tay nhiều.
– Không rõ nguyên nhân.

🎯CHẨN ĐOÁN
– Dựa vào triệu chứng lâm sàng tại chỗ.
– Đau ngón tay có thể bị kẹt ở tư thế gấp vào lòng bàn tay hoặc duỗi thẳng.
– Khám ngón tay có thể có sưng.
– Có thể sờ thấy cục viêm xơ trên gân gấp ngón tay ở vị trí khớp đốt bàn ngón tay. Cục viêm xơ di động khi gấp duỗi ngón tay.
– Ngoài ra, sử dụng siêu âm với đầu dò tấn số 7,5 – 20 NHZ có thể thấy gân dày lên và có dịch bao quanh.
– Không cần thiết phải làm xét nghiệm máu đặc biệt cũng như không cần chụp xquang. Tuy nhiên cần phải xét nghiệm cơ bản trước khi cho thuốc hay trước khi điều trị.

🎯ĐIỀU TRỊ
Tùy thuộc vào giai đoạn của bệnh có thể lựa chọn các phương pháp phù hợp:
– Nghỉ ngơi, giữ ấm, vật lý trị liệu.
– Bất động bằng nẹp ngón.
– Thuốc NSAID toàn thân, tại chỗ.
– Tiêm steroid vào bao gân.
– Phẫu thuật giải phóng ròng rọc A1.
===========================





Nguồn: Ths.Bs. Nguyễn Văn Thoan – Khoa Điều trị theo yêu cầu, Bệnh viện HN Việt Đức

🚨BỎNG (Phần 3)🚨-----------------------------------------------III. ĐIỀU TRỊ BỎNG🎯 ĐIỀU TRỊ TỨC THÌA. TƯỚI NƯỚC LẠNH- Nên...
16/12/2023

🚨BỎNG (Phần 3)🚨
-----------------------------------------------
III. ĐIỀU TRỊ BỎNG

🎯 ĐIỀU TRỊ TỨC THÌ
A. TƯỚI NƯỚC LẠNH
- Nên tưới ngay lập tức lên vết thương bỏng. Nước lạnh dễ có, làm giảm nhiệt độ tốt, dập tắp lửa, lấy đi những hóa chất. Trong trường hợp gần những vật có điện thì cần tránh. Ngoài nước lạnh, có thể dùng những cách dập lửa khác như: trùm lên bệnh nhân bằng chăn mền, bao tải, rèm cửa; cho bệnh nhân lăn xuống đất cát, cuộn trong tấm thảm; xịt bằng vòi cứu hỏa. Nước lạnh đã được dùng từ lâu. Sau vì sợ nhiễm trùng, nên bị lãng quên. Ngày nay, người ta cho rằng: chấp nhận một tổn thương bỏng nông bị bội nhiễm ở bề mặt còn hơn là cố giữ thật vô trùng cho một tổn thương bỏng sâu, vì thật ra chỉ sau vài ngày nó cũng sẽ bị nhiễm trùng. Nếu dùng nước máy, sự nguy hiểm làm nhiễm trùng vết thương là không đáng kể.

- Tiếp tục làm mát cho bệnh nhân từ 10-15 phút bằng cách: đắp và thay đổi gạc ướt, tắm bằng vòi nước lạnh (hình 3), ngâm chi bị bỏng vào trong bồn nước. Những phần không bị bỏng cần được giữ ấm (đắp chăn) và cho bệnh nhân uống đồ nóng… Làm mát càng sớm càng tốt, tuy nhiên nó vẫn còn tác dụng trong khoảng 30-45 phút sau tai nạn. Nhờ làm mát, nỗi đau đớn của bệnh nhân giảm nhiều, phù sẽ nhẹ hơn và chậm hơn; hệ tuần hoàn và tổng trạng của bệnh nhân cũng ít bị ảnh hưởng hơn. Bỏng rộng cũng cần được làm mát. Trong nhóm những bệnh nhân bỏng nặng, người ta đã chứng minh được: tỉ lệ tử vong sẽ giảm, nếu bệnh nhân được làm mát sớm và đủ.

B. NHỮNG VIỆC CẦN LÀM NGAY KHI BỆNH NHÂN BỎNG NHẬP VIỆN:
1. Cởi bỏ quần áo cho bệnh nhân và đặt họ nằm trên phương tiện vô trùng.
2. Đâm kim truyền dịch và cho chảy nhanh Ringer lactat (không nhỏ giọt).
3. Thuốc giảm đau đường tĩnh mạch.
4. Đánh giá độ rộng và độ sâu của vết bỏng.
5. Tính toán lượng dịch truyền cho 24 giờ đầu tiên: bệnh nhân bỏng từ độ 2a trở lên có nhu cầu dịch truyền như sau:
- 4ml Ringer lactat x Kg trọng lượng cơ thể x % Diện tích bỏng
(Trong đó, một nửa truyền ngay trong 8 giờ đầu)
6. Những ống thông sẽ để lâu cho những trường hợp bỏng trên 30% diện tích và bỏng do điện.
7. Xét nghiệm máu: Hct, dự trữ kiềm hoặc pH, BUN và Creatinin, K+, Na+, glucose, nhóm máu, Hemoglobin, bạch cầu, tiểu cầu, đạm huyết, COHemoglobin.
8. Xét nghiệm nước tiểu: Na+ và K+, trọng lượng riêng, đạm, đường, Hemoglobin và Myoglobin.
9. Những vết thương phối hợp? Có cần mổ cấp cứu không?
10. Làm sạch vết thương, rạch lớp vỏ cứng (nếu cần).
11. Mời các chuyên khoa khám.
12. Tiêm phòng uốn ván.
13. Tiên lượng:
TuổI (năm) + Diện tích BỎNG (%) = 100 → tiên lượng rất xâu
≥ 80 → nguy hiểm tính mạng
< 80 → có thể qua được
14. Xây dựng kế hoạch điều trị hoặc chuyển bệnh nhân đi tuyến trên.

🎯 ĐIỀU TRỊ VẾT THƯƠNG BỎNG
A. ĐIỀU TRỊ BỎNG NÔNG
1. Bỏng bể mặt da (2a):
Những trường hợp này không cần mổ, để cho lành tự nhiên; nhưng cũng cần được điều trị và theo dõi một cách hợp lý.
a. Phương pháp băng bằng gạc tẩm thuốc mỡ (phương pháp “ướt”):
– Vết thương cần được rửa sạch, phá các mụn nước; vì đây là môi trường giàu chất dinh dưỡng rất thuận lợi cho vi trùng phầt triển (vi trùng còn sống sót trong các lỗ chân lông, các tuyến tiết nhờn…). Sau đó đắp gạc tẩm thuốc mỡ hoặc thuốc mỡ có kháng khuẩn. Ở ngoài là một lớp bông vô trùng dầy 5cm để hút dịch. Ngoài nữa là băng thun, để tạo một áp lực nhẹ giữ các lớp bông, băng. Thay băng lần thứ nhất vào ngày thứ 5: lấy bỏ lớp bông thấm nước. Nếu lớp gạc tẩm thuốc mỡ sạch, không có mủ, không mùi… thì chỉ cần để một lớp bông thấm nước vô trùng độ 2cm, rồi băng lại. Thay băng lần thứ 2 vào ngày thứ 10: nếu gạc tẩm thuốc mỡ sạch, ta chỉ cần thay lớp bông thấm nước vô trùng mỏng hơn… Ngày thứ 15, cho bệnh nhân nằm vào bồn tắm, các lớp băng sẽ b**g ra một cách dễ dàng. Chỗ tổn thương bỏng đã lên da non màu hồng. Không cần băng ép, vì lớp da non này không tạo thành sẹo lồi. Nhưng màu sắc có những biến đổi nhẹ nên ta vẫn cổ thể nhận ra vùng bị tổn thương sau nhiều tháng.

– Cách theo dõi vết thương: nếu thấy băng thấm dịch nhiều, bệnh nhân sốt, đau nhức, chỗ băng có mùi… phải thay băng lại toàn bộ. Lấy bỏ cả lớp gạc tẩm thuốc mỡ; rửa lại vết thương thật sạch và băng lại từ đầu… Nếu không theo dõi sát, để vết thương bị nhiễm trùng, bỏng độ 2 sẽ tiến triển thành những độ sâu hơn.

– Một vài loại thuốc mỡ: bạc Sulfadiazin; ở ta có Maduxin, B76…

b. Những phương pháp khác
Phương pháp để nằm trần (phương pháp “khô”): sau khi làm sạch vết thương, bôi bạc Nitrat 10%, rồi để trần.

Đắp các màng sinh học: màng ối đông khô, da heo đã được xử lý…

2. Bỏng da sâu (2b):
Tổn thương loại bỏng này tuy còn khả năng tự lành, nhưng hay để lại những sẹo lớn; nhất là đối với trẻ em và người trẻ tuổi. Bởi thế, nếu có điều kiện và tổn thương ở những vùng quan trọng về mặt chức năng và thẩm mỹ, người ta có thể áp dụng phương pháp mổ “hớt dần từng lớp”.

a. Phương pháp mổ “hớt dần từng lớp”:
Mổ “hớt dần từng lớp” gồm hai phần: hớt bỏ những phần hoại tử và việc đóng kín vết thương ngay bằng ghép da. Ưu tiên những phần quan họng về chức năng và thẩm mỹ: hai bàn tay, mặt, các khớp… cần máu nhiều, gây mê kéo dài, lấy da nhiều gây nên một biến động dịch thể quan trọng sau mổ, vì thế cần phải cân nhắc.

b. Điều trị bằng thuốc mỡ kháng khuẩn:
Những trường hợp vì lý do gì đó mà sau hơn một tuần vết bỏng vẫn chưa được mổ, hoặc trên bề mặt vết bỏng lớn có nhiều độ nông-sâu khác nhau; hoặc bệnh nhân già yếu hay có bệnh đi kèm, thì không nên mổ kiểu “hớt dần từng lớp”; mà cần được điều trị bằng thuốc mỡ kháng khuẩn. Những bệnh nhân này sẽ được thay băng, làm sạch vết thương hàng ngày bằng vòi nước vô trùng, lấy đi những chất cặn bã của thuốc mỡ, của dịch xuất tiết và những phần da hoại tử đã b**g ra. Sau đó được bôi một lớp thuốc có kháng sinh thích hợp dầy độ 1-2mm; thêm một lớp bông thấm nước mỏng để giữ thuốc. Với trẻ con có thể thay băng 2 ngày/1 lần, vì thay băng ở trẻ con thường phải gây mê và vì vết thương ở trẻ con thường dễ lành hơn người lớn.

B. ĐIỀU TRỊ BỎNG SÂU
1. Bỏng toàn bộ lớp da (3a)
Những trường hợp bỏng toàn bộ lớp da (3a) mà diện tích rộng, người ta sẽ xử trí theo những nguyên tắc của bỏng độ 3 sâu.

2. Bỏng độ 3 sâu (3b)
Trong bỏng độ 3 sâu (3b), tùy theo từng vị trí tổn thường, người ta có thể chọn lựa những phương pháp sau:

– Mổ “hớt dần từng lớp thường chỉ áp dụng trong những trường hợp bị bỏng ở mặt. Vì mặt có tầm quan trọng về mặt thẩm mỹ lớn và vùng này sự lưu thông máu thường rất tốt. Ngoài ra, còn có thể áp dụng ở hai bàn tay và ở các khớp. Mỗi lần mổ vào khoảng 5% diện tích cơ thể.

– Mổ cắt lọc sâu tới tận lớp cân: thích hợp đối với chân và tay. Có thể mổ sau giai đoạn choáng bỏng, vào ngày thứ 3. Nhấc chi cao lên và dùng băng cao su quấn để dồn máu từ ngọn chi tới gốc; rồi ga rô ở gốc chi. Nhờ vậy, có thể lột bỏ lớp “vỏ cứng” của bỏng cùng lớp mỡ dưới da một cách nhanh chóng, mà không bị mất máu nhiều.

– Phương pháp “giật đi cả mảng”, là một phương pháp đặc biệt của mổ cắt lọc sâu, với sự mất máu tương đốì ít. Đường rạch đã được định hướng sẵn vào phần mà ta định cắt bỏ. Da bị bỏng sẽ được cặp chặt bằng kìm cặp khăn mổ; rồi tổ chức mỡ dưới da trong vùng phù nề nằm giữa phần hoại tử và phần còn lành lặn sẽ được làm rách ra. Nhờ vậy, sẽ còn lại những phần mỡ còn tốt, máu chảy ít và khu trú trong một khu vực rõ ràng, sau đó mới ghép da.

– Phương pháp lên mô hạt:
+ Chỉ định:
Cho những trường hợp bỏng rộng đã cắt bỏ tổ chức hoại tử, nhưng không đủ da để ghép ngay. Để lên mô hạt, rồi dùng cách ghép da kiểu mắt lưới rộng, vẫn có thể mang lại kết quả tốt.

Những trường hợp bệnh nhân già yếu, hay đã có sẵn một bệnh nội khoa. Những trường hợp bỏng mà trên diện tích vết thương pha trộn nhiều mức độ sâu nông khác nhau. Ta nên chờ đợi; cho nhũng chỗ bỏng nông tự lành, những chỗ bỏng sâu lên mô hạt và sẽ vá da sau đó.

+ Cách giúp cho việc lên mô hạt được thuận tiện:
Có thể tắm bỏng cho bệnh nhân hàng ngày hoặc cách nhật: trong khi tắm bằng vòi nước, dùng pince, kéo cắt bỏ những tổ chức hoại tử… Sau đó, lại được đắp bằng thuốc mỡ kháng khuẩn mới.

+ Dùng thuốc kháng khuẩn tại chỗ:
Trong 15 năm gần đây, nhờ những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, càng ngày người ta càng tìm ra được nhiều loại thuốc có ưu điểm hơn. Nhờ vậy, việc điều trị bỏng đã có những tiến bộ rõ rệt.

3. Với những vết bỏng ở độ sâu hơn nữa:
Phá hủy tới tận lớp cơ, mạch máu, thần kinh, xương khớp…, thì tùy từ trường hợp cụ thể các thầy thuốc sẽ phải cân nhắc để đưa ra những giải pháp điều trị thích hợp (chuyển vạt da hoặc vạt da + cân cơ tại chỗ; chuyển vạt da và tổ chức với cuống mạch máu từ nơi khác đến bằng vi phẫu; hoặc phải cắt đoạn chi…).

C. GHÉP DA
Ghép da là điều kiện cơ bản để chữa bỏng sâu và dự phòng các biến chứng của bệnh bỏng. Phẫu thuật ghép da có nhiều loại:

– Ghép da tự thân (da ghép và vùng được ghép của một người): loại da này sẽ sống vĩnh viễn trên nền ghép. Tùy theo yêu cầu của vùng cần ghép da và tổng trạng của từng bệnh nhân, mà thầy thuốc có thể lựa chọn các phương pháp ghép da khác nhau: dùng da tự do mảng nhỏ, mảng lớn; ghép da mỏng nguyên miếng hay kiểu “mắt lưới”, ghép da dầy vừa, hay dầy toàn bộ lớp da….

– Những trường hợp diện tích cần ghép lớn không thể ghép da tự thân trong một lần được, người ta phải dùng đa đồng loại (lấy ở người khác), da dị loại (da heo, da ếch…), da nhân tạo, hoặc các màng sinh học… để che phủ tạm những vùng cần ghép da. Phải luôn nhớ rằng, tất cả những vật liệu trên chỉ có tác dụng che phủ tạm vết thương: da đồng loại không được để quá 5 ngày; da dị loại (heo…) phải thay hàng ngày, vì rất dễ gây nhiễm trùng.

– Da nhân tạo: silicone, các dẫn xuất polyvinyl chlorid derivate, methyl- metacrylate… là những loại da nhân tạo. Chúng cũng có những nhược điểm: hoặc là những lỗ hổng quá to làm dịch xuất tiết và bay hơi nhiều hoặc là quá nhỏ lại dễ sinh ra nhiễm trùng, giá thành cao…

– Nuôi cấy và ghép tế bào sừng: những bệnh nhân bị bỏng sâu (phải ghép da) diện tích rộng (70%), ngay từ ngày đầu nhập viện được lây một ít da đem đi nuôi cấy ở phòng thí nghiệm đặc biệt. Những tế bào sừng được nuôi cấy này sẽ đem ghép lại cho bệnh nhân trong quá trình điều trị. Nhược điểm lớn là giá thành khá đắt; vì phải thực hiện trong điều kiện kỹ thuật cao. Ở nước ta, mới chỉ có Viện bỏng Quốc gia thực hiện được.

Tóm lại, người ta chưa tìm được một loại da thay thế nào thật lý tưởng.

D. NHIỄM TRÙNG TRONG BỎNG
- Mỗi người đều mang trong mình một môi trường vi sinh đặc biệt của mình trên bề mặt da và trong ống tiêu hóa. Khi bị bỏng, mặc dù một số lớn vi trùng trên bề mặt da đã bị tiêu diệt, vẫn còn một số vi trùng sống sót trong các nếp nhăn da, các lỗ chân lông, các tuyến mồ hôi, tuyến chất nhờn… Người ta hay quên rằng, tất cả các vết thương bỏng phải được coi là những vết thương hở. Vì qua đó, vi trùng có thể tấn công vào cơ thể và gây nên những hậu quả khôn lường. Điều này khác hẳn với một trường hợp áp xe, trong đó vi trùng đã tập trung lại một chỗ và ta chỉ cần quan tâm đến việc tháo bỏ ổ mủ đó đi. Không có cách nào có thể giữ được một vết bỏng lớn vô trùng trong một thời gian dài. Người ta tính toán rằng: cần phải giữ cho số lượng vi trùng trong 1 mm3 mô phải < 105 thì mới có thể khống chế được chúng. Khi số lượng vi trùng lớn hơn mức giới hạn ấy, chúng sẽ phá vỡ bức tường bảo vệ của bạch cầu và đại thực bào, tấn công sâu vào cơ thể. Trên con đường tiến quân của vi trùng, những tế bào khỏe mạnh bị làm yếu đi, nhiều mao mạch bị tắc nghẽn; có khi cả một đám vi trùng được tung đi theo dòng máu. Bệnh nhân có thể ở trong tình trạng bị nhiễm trùng huyết; hoặc viêm nội mạc, áp xe não, viêm phổi… Một con đường có thể gây nhiễm trùng huyết khác là: tình trạng choáng và nhiễm độc sẽ làm giảm lưu lượng máu ở ruột, tạo điều kiện để vi trùng từ trong lòng ruột thâm nhập vào máu. Vì thế, việc chống nhiễm trùng trong bỏng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

- Một trong những biện pháp hàng đầu để hạn chế sự tấn công của vi trùng đối với bệnh nhân bỏng là phải sớm cắt lọc tổ chức hoại tử và che kín vết thương bỏng. Vết thương bỏng cần phải được cách ly, hạn chế đến mức cao nhất sự bội nhiễm từ bên ngoài. Các biện pháp nhằm mục đích ấy là băng bó vết thương; những khu vực cách ly giành cho những bệnh nhân bỏng trung bình và những phòng tiệt trùng một người giành cho từng bệnh nhân bỏng nặng… Ngoài ra, mỗi nhân viên y tế làm việc trong khoa Bỏng phải có đủ hiểu biết để tự giác thực hiện các qui định về vô trùng của khoa.

🎯NHỮNG CÂN NHẮC ĐIỀU TRỊ CHUNG:
A. CHUYỂN HÓA VÀ NUÔI DƯỠNG
- Bệnh nhân bỏng thường bị mất nhiệt lượng nhiều do sự bốc hơi qua vết bỏng, sốt… nên dễ bị lạnh run trong nhiệt độ bình thường. Năng lượng sẽ bị mất đi nhiều hơn, nếu bệnh nhân trong tình trạng nhiễm trùng. Bởi vậy, người ta phải làm mọi cách để giảm quá trình chuyển hóa cho bệnh nhân: giữ nhiệt độ và độ ẩm cao của không khí trong phòng (nhiệt độ từ 23 đến 32°C, độ ẩm từ 25 đến 50%); làm giảm đau đớn cho bệnh nhân…

- Bệnh nhân bỏng cần một nhu cầu cao về năng lượng giống như một người lao động nặng. Người ta có thể tính toán nhu cầu năng lượng cho một bệnh nhân bỏng theo công thức sau:
+Người lớn: 25 Calo/kg cân nặng + 40 Calo cho mỗi % diện tích cơ thể bị bỏng
+Trẻ em: 40-60 Calo/kg cân nặng + 40 Calo cho mỗi % diện tích cơ thể bị bỏng

- Ở những cơ sở chữa bỏng hiện đại, người ta cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất sự sút cân của bệnh nhân. Sút cân báo cho ta biết bệnh nhân chưa được bù đủ năng lượng. Nếu mất 10% trọng lượng cơ thể, kết quả điều trị sẽ tồi. Nếu mất trên 20% trọng lượng, có thể nguy hiểm. Còn những bệnh nhân sút cân trên 30% thì khó mà qua khỏi.

- Nên cho những bệnh nhân bỏng nặng ăn thức ăn lỏng. Sữa và các sản phẩm của sữa rất tốt và thuận lợi cho việc nuôi dưỡng bệnh nhân bỏng. Có thể bổ sung thêm trái cây nghiền, trứng, đường, chất bột, chât đạm… để có một khối lượng chung từ 4-5 lít mỗi ngày. Khi khá hơn, có thể cho bệnh nhân ăn uống gần như bình thường, với chế độ giàu chất đạm và sinh tố. Để giúp bệnh nhân ăn ngon miệng, người ta chú ý đến cả cách chế biến và những món ăn hợp khẩu vị cho bệnh nhân. Những bệnh nhân ăn uống bằng đường miệng chưa đủ nhu cầu năng lượng, ta cần tính toán bồi phụ thêm bằng đường dịch truyền.

B. CHĂM SÓC BỆNH NHÂN
- Bệnh nhân bỏng cần được điều trị ở những khu vực sạch, thoáng, chống lây chéo và bội nhiễm thềm vì sức đề kháng miễn dịch đã bị giảm. Đồ vải dùng cho người bệnh phải được hấp vô khuẩn, các dụng cụ hộ lý cần được rửa sạch, luộc hoặc ngâm trong các dung dịch sát trùng. Sàn nhà, tường cần được tẩy uế, sát khuẩn thường kỳ.

- Cần chống loét ở các vùng tì ép của cơ thể. Nếu bỏng sâu ở chu vi cơ thể cần để bệnh nhân nằm giường xoay, cứ 6 giờ lại thay đổi tư thế một lần. Sau mỗi lần ăn hoặc tiểu tiện, đại tiện, cần làm vệ sinh răng miệng hoặc vệ sinh vùng tầng sinh môn, bộ phận sinh dục. Chú ý việc tắm rửa, lạu chùi da, cắt móng tay, móng chân, cắt tóc.

C. VẬT LÝ TRỊ LIỆU VÀ VẬN ĐỘNG THỂ DỤC LIỆU PHÁP
- Đối với bệnh nhân bỏng, vật lý trị liệu và phục hồi chức năng có ý nghĩa quan trọng. Ở những trung tâm điều trị bỏng tiên tiến, người huấn luyện viên vật lý trị liệu và phục hồi chức năng có thể đi theo bệnh nhân từ lúc mới nhập viện cho đến khi bệnh nhân ra viện; và cả sau khi ra viện nữa. Họ cũng là thành viên của tập thể nhân viên điều trị bỏng (như các bác sĩ, y tá…) và cùng chia sẻ trách nhiệm về kết quả điều trị cho bệnh nhân.
==========================

**g



Nguồn: TS. BS. Lê Quang Trí

🚨BỎNG (Phần 2)🚨--------------------------------------------------II. CHẨN ĐOÁN:A. CHẨN ĐOÁN ĐỘ SÂU CỦA BỎNGTrong thực tế...
16/12/2023

🚨BỎNG (Phần 2)🚨
--------------------------------------------------
II. CHẨN ĐOÁN:
A. CHẨN ĐOÁN ĐỘ SÂU CỦA BỎNG
Trong thực tế lâm sàng, người ta thường chia độ sâu của tổn thương bỏng thành hai nhóm lớn:

– Bỏng nông: gồm bỏng độ 1, 2a và 2b. Ở nhóm này, các tổn thương của bỏng có thể tự lành được, nhờ quá trình tự biểu mô hóa: từ lớp tế bào mầm ở bỏng thượng bì (2a); hoặc từ các tế bào biểu mô còn lành của ống lông và gốc lông, của tuyến mồ hôi, tuyến chất nhờn ở bỏng trung bì (2b) (Hình 1). Thực ra, sẹo của bỏng trung bì (2b) thường xấu hơn da non trong bỏng thượng bì (2a). Bởi vậy, tùy theo điều kiện cụ thể (vị trí tổn thương bỏng, cơ sở điều trị…), vì mục đích thẩm mỹ người ta có thể tiến hành ghép da cho những trường hợp này (bỏng độ 2a).

– Bỏng sâu: gồm những tổn thương của toàn bộ lớp da (3a), tới dưới lớp cân dưới da (3b) hoặc sâu hơn nữa (độ 4), … tất cả những tổn thương này nhất thiết phải ghép da mới khỏi được.

Việc chẩn đoán giữa bỏng nông và bỏng sâu rất quan trọng, để dự kiến kế hoạch điều trị và tiên lượng bệnh. Trong quá trình điều trị, bệnh nhân cần được khám đi khám lại nhiều lần, mới có thể xác định được chính xác độ sâu của vết bỏng.

B. CHẨN ĐOÁN ĐỘ RỘNG CỦA BỎNG

Độ rộng của tổn thương bỏng là cơ sở giúp ta tính toán lượng dịch truyền trong những ngày, giờ đầu tiên. Nếu chẩn đoán độ rộng của bỏng không chính xác, sẽ dẫn đến sai lầm trong việc chỉ định điều trị.

C. PHÂN LOẠI BỆNH NHÂN

Cần phân ra hai loại: bỏng nhẹ (có thể điều trị ngoại trú) và bỏng cần nhập viện, để kịp quyết định hướng xử trí tiếp. Người thầy thuốc đầu tiên khám cho bệnh nhân bỏng thường dễ đánh giá thấp độ sâu của bỏng, do thiếu điều kiện thực hiện việc thăm khám (thời gian, ánh sáng, quần áo bệnh nhân…). Mặt khác, độ sâu của vết bỏng lúc mới bị tổn thương cũng chưa thật ổn định. Những trường hợp nặng mà không kịp chuyển đi ngay trong vòng 1 giờ, nên cho truyền dịch sớm. Bảng dưới đây phân chia một cách đại cương, trong đó một loại cần được điều trị tình trạng chung ngay lập tức, loại kia thì chỉ cần điều trị tại chỗ vết thương cũng đủ (Bảng 1).
==========================

**g


Nguồn: TS. BS. Lê Quang Trí

🚑BỎNG (Phần 1)🚑------------------------------------------------I. PHÂN LOẠI BỎNG1. Theo độ sâu:Hình ảnh bên ngoài và đặc...
16/12/2023

🚑BỎNG (Phần 1)🚑
------------------------------------------------
I. PHÂN LOẠI BỎNG
1. Theo độ sâu:
Hình ảnh bên ngoài và đặc điểm của bỏng.
Muốn đánh giá độ sâu của vết bỏng bằng những hình ảnh bên ngoài của vết thương, đòi hỏi phải có kinh nghiệm. Người ta có thể chia độ sâu của vết bỏng thành 4 hay 5 độ. Dưới đây là cách chia làm 4 độ, thường dùng ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ (Hình 1)

👉Muốn xác định độ sâu của vết bỏng, người ta dựa vào những đặc điểm của tổn thương:
a. Bỏng độ 1: như “cháy nắng”.
b. Bỏng độ 2 (2°): được chia làm 2 mức độ:
–Bỏng bề mặt da (2a): có những đặc điểm:
+Mụn nước (nông).
+Mẩn đỏ, dấu hiệu“ấn-mất” (+).
+Thể chất vết thương bình thường.
+Vết thương ẩm.
+Lông còn chắc.
+Đau đớn nhiều.
+Châm kim chảy máu ngay.
– Bỏng da sâu (2b): có những đặc điểm:
+Mụn nước (sâu hơn).
+Lớp trung bì màu trắng.
+Dấu hiệu “ấn-mất” (+).
+Thể chất vết thương chắc, mất tính đàn hồi.
+Bề mặt vết thương ẩm.
+Lông còn dính (hoặc rụng một phần).
+Cảm giác đau giảm nhiều; châm kim sâu tới lớp trung bì mới biết.
c. Bỏng độ 3: cũng được chia làm 2 mức:
–Bỏng toàn bộ lớp da (3a) có những đặc điểm sau:
+Mụn bỏng.
+Dấu hiệu “ấn-mất” (-).
+Tổn thương khô.
+Mật độ chắc.
+Lông, tóc, móng, rụng.
+Mất cảm giác đau, phải đâm kim sâu mới biết; đâm kim sâu tới hết lớp da mới rỉ máu.
– Bỏng độ 3 sâu (3°) có nhũng đặc điểm sau:
+Da bị phá hủy khô.
+Đáy vết thương: tổ chức bị hủy hoại màu trắng hoặc đỏ, những dấu hiệu “ấn-mất” không còn; hoặc vùng tổn thương đã cháy đen.
+Màu vàng như sáp, trong suốt; có thể nhìn thấy những tĩnh mạch bị tắc ở dưới.
+Thể chất căng cứng, hoặc da bị nứt nẻ.
+Lông, tóc, móng, rụng ra.
+Mọi cảm giác đau đều mất. Châm kim cũng không biết và không còn chảy máu nữa.
d. Bỏng độ 4: sâu hơn nữa; tổn thương cháy tới tận lớp cơ, xương…

2. Theo độ rộng
Sự lan rộng và xác định vùng bị bỏng:
- Độ rộng vết bỏng trên cơ thể bệnh nhân là một hình ảnh dễ nhận biết. Trên diện tích bị thương này, cơ thể đã mở cửa thông thương với bên ngoài; và qua đó, cơ thể sẽ bị mất dịch, mất nhiệt và bị vi trùng xâm nhập. Cần đánh giá chính xác độ rộng của tổn thương bỏng. Điều này rất có ý nghĩa trong giai đoạn choáng bỏng, vì nó là cơ sở để giúp người thầy thuốc tính toán lượng dịch truyền cho bệnh nhân.
- Mỗi trung tâm điều trị bỏng thường có sẵn những hình ảnh vẽ cơ thể con người, kèm theo một bảng tỉ lệ % diện tích từng bộ phận so với toàn thân. Điều đáng lưu ý trong bảng này là sự phân chia diện tích từng phần cơ thể ở trẻ con có khác so với người lớn: đầu trẻ con chiếm tỉ lệ lớn hơn và chân thì nhỏ hơn.
- “Công thức số 9” là công thức đơn giản và dễ nhớ, nó phân chia từng phần cơ thể người lớn thành những khoảng diện tích 9%: toàn bộ diện tích đầu và cổ; cũng như vậy đối với mỗi chi trên. Thân trước (bụng + ngực), thân sau (lưng) và mỗi chi dưới được tính 2 lần 9%, là 18%. Bộ phận sinh dục ngoài và vùng hội âm là 1% (hình 2)
- “Công thức bàn tay” sẽ giúp ích cho “công thức số 9” trong trường hợp vùng tổn thương không nằm gọn trên cùng một bộ phận cơ thể. Diện tích bàn tay tương đương với 1% diện tích cơ thể.

3. Theo vị trí
- Ngoài độ rộng và sâu của vết bỏng, vị trí của tổn thương nhiều khi có ý nghĩa, rất quan trọng. Một vài vị trí cần đặc biệt chú ý: đầu, mặt; các khớp ở chi và đặc biệt ở hai bàn tay; vùng cổ, ngực, bụng, tứ chi (chu vi); vùng tầng sinh môn…
==========================

**g


Nguồn: TS. BS. Lê Quang Trí

✅SIÊU ÂM CHẨN ĐOÁN HẠCH BẠCH HUYẾT✅-------------------------------------------------------I- HẠCH BẠCH HUYẾT:      - Hạc...
15/11/2023

✅SIÊU ÂM CHẨN ĐOÁN HẠCH BẠCH HUYẾT✅
-------------------------------------------------------
I- HẠCH BẠCH HUYẾT:
- Hạch bạch huyết là những cơ quan bạch huyết nhỏ (có khoảng 500-600 hạch) nằm chặn trên đường đi của các mạch bạch huyết, thường đứng thành nhóm và nhận bạch huyết của từng vùng cơ thể. Hạch có hình hạt đậu hoặc hình trứng, được bao bọc bên ngoài bởi vỏ xơ, nơi lõm vào gọi là rốn hạch. Rốn hạch là nơi đi vào nhu mô hạch của động mạch, là nơi đi ra của bạch huyết quản đi (dẫn bạch huyết ra khỏi hạch) và tĩnh mạch. Trên bề mặt vỏ xơ có nhiều mạch bạch huyết mang bạch huyết đến hạch gọi là huyết quản đến. Từ vỏ xơ tách ra các nhánh xơ tiến sâu vào nhu mô hạch gọi là vách xơ và dây xơ. Vỏ xơ, vách xơ, dây xơ tạo thành khung xơ chống đỡ và bảo vệ nhu mô hạch nằm bên trong khung xơ đó, đều được cấu tạo bởi mô liên kết xơ.

1.1. Cấu tạo của nhu mô hạch gồm:
- Mô lưới
- Các tế bào: Nằm trong các lỗ lưới của mô lưới gồm lympho bào, tương bào, đại thực bào. Sự sắp xếp và phân bố của các tế bào chia nhu mô hạch thành 03 vùng:
o Vùng vỏ: Là vùng ngoại vi của hạch và là nơi tập trung của nhiều tế bào lympho B tạo thành những đám tế bào hình cầu gọi là nang bạch huyết. Cấu tạo của một nang bạch huyết gồm 2 vùng nhuộm màu khác nhau: Vùng ngoại vi tối và vùng trung tâm sáng (trung tâm sinh sản, trung tâm mầm).
o Vùng cận vỏ (vùng vỏ sâu)
o Vùng tủy
- Xoang bạch huyết
- Tuần hoàn máu trong hạch: Động mạch vào hạch qua rốn hạch, rồi phân nhánh trong vỏ xơ, vách xơ. Đến vùng vỏ chúng tạo thành lưới mao mạch phân bố trong các nang bạch huyết, sau đó mao mạch tập hợp tạo thành những tiểu tĩnh mạch hậu mao mạch ở vùng cận vỏ. Máu ra khỏi hạch qua tĩnh mạch nằm ở rốn hạch.

1.2. Sinh lý mô hạch bạch huyết:
- Lọc bạch huyết
- Tạo tế bào lympho
- Tạo kháng thể

II- SIÊU ÂM (ULTRASOUND, SONOGRAPHY)
2.1. Kỹ thuật:
- Chuẩn bị bệnh nhân: Việc thăm khám có thể bị hạn chế nếu ổ bụng có nhiều hơi.
- Đầu dò tần số 2.5 – 3.5 MHz khi khảo sát hạch sâu và 7.5MHz khi khảo sát hạch nông.
- Khám toàn bộ ổ bụng, chú ý các mặt cắt ngang và dọc ĐM chủ bụng – TM chủ dưới. Hướng các mặt cắt siêu âm theo các mạch máu cho đến tận gốc các mạch máu, khảo sát rốn các cơ quan theo các mặt phẳng thích hợp (rốn gan = mặt cắt rốn – vai phải; rốn lách = mặt cắt vành; …)
- Kỹ thuật đè ép: Đối với các hạch sâu trong ổ bụng hay sau phúc mạc.

2.2. Phân tích hình ảnh:
- Vị trí hạch:
o Hạch sau phúc mạc thường gặp nhất trong bệnh Lymphoma
o Hạch cạnh ĐM chủ thấy ở 25% bệnh nhân Hodgkin và 50% bệnh nhân non-Hodgkin
- Hình dạng: Có thể biểu hiện với các kiểu hình
o Nốt riêng rẽ dạng bầu dục, thon dài, dẹt hay tròn
o Tập trung thành khối
o Dấu bánh mỳ kẹp thịt (Sandwich sign): Các hạch phát triển quanh 1 trục mạch máu gồm động mạch và tĩnh mạch, thường gặp ở nhóm bệnh Lymphoma, có thể gặp trong bệnh lao
o Dấu áo khoác (Mantle sign): Các hạch hình thành nên “áo khoác” bao bọc các mạch máu lớn
o Dấu ĐM chủ nổi (Floating aorta sign): Một số u hay hạch sau phúc mạc phát triển và lan dọc theo các khoang sau phúc mạc, chen giữa các cấu trúc và chèn ép mạch máu, thường gặp trong Lymphoma, Lymphangioma, Ganglioneuroma
- Độ hồi âm: Bình thường hạch có độ hồi âm kém hơn so với mô mỡ sau phúc mạch, dạng đặc đồng nhất hoặc không đồng nhất. Đầu dò tần số cao # 7.5-10MHz thấy rõ vùng vỏ có echo kém, vùng tủy có echo dầy (dấu “mỡ rốn hạch”).
o Hạch có hồi âm rất kém, gần như trống, không tăng âm phía sau thường gặp trong Lymphoma
o Hạch dạng dịch echo trống kèm tăng âm phía sau thường là do quá trình hoại tử sau điều trị, xạ trị
o Trung tâm hạch hoại tử hay hóa nang thường do viêm hoặc lao
o Hạch hồi âm hỗn hợp (không đồng nhất) gợi ý hạch di căn
o Vôi hóa trong hạch ít gặp, có thể thấy trong bệnh lao hạch
- Kích thước: Lưu ý trục ngắn hơn là trục dài. Trục ngắn > 10mm có thể xem là hạch bệnh lý, tuy nhiên có khoảng 10% trường hợp Lymphoma có hạch < 10mm. Đôi khi hạch viêm có thể rất lớn, hạch ác tính có thể nhỏ trong giai đoạn đầu à Lưu ý sự thay đổi kích thước hạch theo tuần tự thời gian
- Có chèn ép các cấu trúc xung quanh?
- Tưới máu (qua Doppler màu): Phân bố ở ngoại vi, trung tâm hoặc hỗn hợp
- Dấu hiệu khác: Hiệu ứng choán chỗ hay chèn ép = Hạch đầu tụy, rốn gan có thể chèn ép ống mật chủ; Hạch quanh TM chủ dưới đè xẹp mạch máu hoặc hạch lớn gây di lệch cơ quan lân cận

2.3. Chẩn đoán nguyên nhân:
Đòi hỏi phải kết hợp nhiều yếu tố:
- Hỏi bệnh sử
- Tính chất hạch: Đau? Phát triển nhanh – chậm? Số lượng?
- Sự dẫn lưu của hạch
Từ đó đề xuất hướng chẩn đoán hạch lành – ác? Hướng điều trị hay thực hiện tiếp các phương pháp chẩn đoán khác như CT scan, MRI (xác định hạch và đánh giá giai đoạn ung thư,…)? Chọn FNAC hay sinh thiết hạch? Chẩn đoán xác định = Sinh thiết hạch
2.3.1. Hạch do phản ứng viêm: Viêm gan, viêm ruột, AIDS, Sarcoidose, viêm họng, răng miệng,… à Hình ảnh hạch nốt riêng rẽ, thon dài, dẹt, có dấu “mỡ ở rốn hạch”, thường vài hạch kích thước nhỏ, kích cỡ tương đương nhau
2.3.2. Hạch nhiễm trùng
2.3.3. Hạch ác tính:
a. Lymphoma: Bệnh Hodgkin và Non-Hodgkin Lymphoma
Ø Hạch của bệnh Hodgkin: Lúc đầu xuất hiện ở vùng cổ, thượng đòn à lan toàn thân. Hạch chắc, di động, không đau, không đối xứng, đôi khi kết chùm. Phát triển thành từng đợt, thường kèm triệu chứng toàn thân như: Sốt, đổ mồ hôi đêm, sụt cân, ngứa,…
Ø Hạch của bệnh Non-Hodgkin: Lúc đầu có thể ở bất cứ nơi nào (cổ, nách, bẹn, ổ bụng); Mật độ rắn chắc, không di động; Hạch xuất hiện to dần không thành đợt, hay xâm lấn chèn ép gây đau.
b. Leukemia: Xuất hiện nhiều nơi trong cơ thể, chắc, di động, không đau. Thường kèm gan – lách to, đau xương khớp, thiếu máu, nhiễm khuẩn,…
2.3.4. Hạch di căn ung thư: Hạch di căn ung thư từ tạng nào thường nằm trên đường dẫn lưu bạch huyết của tạng đó. Hạch rắn chắc, dính vào tổ chức xung quanh. Hình ảnh siêu âm có các dấu hiệu gợi ý ác tính và thường giống tổn thương nguyên phát.
2.3.5. Các gợi ý: Hạch quanh ĐM thân tạng, quanh tụy à K dạ dày, gan, tụy; Quanh rốn thận à K thận, tinh hoàn; Thượng đòn trái à K dạ dày; Góc trong hố thượng đòn 2 bên à K phế quản; Cạnh xương chùm à K vòm hầu; Hạch nách à K vú; Bẹn à Sarcoma chi dưới, K âm hộ, 1/3 dưới âm đạo, dương vật, hậu môn,…
2.4. Hình ảnh giả và cách khắc phục: Có thể nhận định lầm hạch với:
2.4.1. Nang: Đặc biệt trong Lymphoma 50% echo trống và không tăng âm phía sau
2.4.2. Dãn TM, phình ĐM: Có thể nhầm lẫn trên B-mode là hạch à Dùng Doppler để phân biệt
2.4.3. Huyết khối tĩnh mạch: Đánh giá trên các chiều (ngang, dọc) và dùng Doppler để loại trừ
2.4.4. Máu tụ khu trú sau phúc mạc: Sau chấn thương hoặc dùng chất kháng đông
2.4.5. Ruột ứ dịch: Quan sát nhu động ruột, sự chuyển động trong lòng ruột, ấn xẹp
2.4.6. Lách phụ
2.4.7. Tăng sinh hồng cầu ngoài tủy: Dọc theo cột sống dễ gây lầm với hạch

III- SIÊU ÂM NỘI SOI (ENDOSCOPIC ULTRASOUND, EUS): Cũng được dùng để đánh giá hạch bạch huyết vùng trong ung thư biểu mô thực quản, tuỵ, và trực tràng. Và nên sử dụng chọc hút kim nhỏ qua siêu âm nội soi kết hợp với chụp CT hoặc PET để tăng giá trị của siêu âm.
==================================================





Nguồn: BỆNH VIỆN TRUYỀN MÁU - HUYẾT HỌC TP. HỒ CHÍ MINH

Address

Quốc Lộ 1A, Tân Phú Thạnh, Châu Thành A
Hậu Giang

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Khoa Y - VTTU posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The School

Send a message to Khoa Y - VTTU:

Shortcuts

Share