27/05/2026
𝐓𝐚́𝐜 đ𝐨̣̂𝐧𝐠 𝐜𝐮̉𝐚 𝐭𝐡𝐚̉𝐦 𝐭𝐡𝐮̛̣𝐜 𝐯𝐚̣̂𝐭 𝐯𝐚̀ 𝐜𝐡𝐚̂́𝐭 𝐡𝐮̛̃𝐮 𝐜𝐨̛ đ𝐨̂́𝐢 𝐯𝐨̛́𝐢 𝐤𝐡𝐢́ 𝐡𝐚̣̂𝐮
Vào những ngày nóng gay gắt như thế này với những kỷ lục nhiệt mới được thiết lập ở khắp nước, chúng ta rất dễ cảm thấy bất lực trước sự nóng lên toàn cầu. Khi nói đến biến đổi khí hậu, hầu hết các cuộc thảo luận đều tập trung vào việc giảm khí CO₂ và các loại khí nhà kính khác - vì chúng được xem như tấm chăn giữ nhiệt trong bầu khí quyển. Điều đó đúng, nhưng nhiều khi chúng ta chỉ tập trung vào việc giải quyết tấm chăn giữ nhiệt đó (bằng cách giảm khí CO₂), mà bỏ qua cách chúng ta đang thay đổi cách bề mặt Trái Đất hấp thụ và xử lý năng lượng mặt trời.
Trong những thập kỷ gần đây, chúng ta đã khiến lượng nhiệt tích tụ trên bề mặt Trái Đất tăng một cách cực đoan và đột ngột. Điều mình đang muốn nói đến chính là cách chúng ta sử dụng và quản lý đất. Việc chặt rừng, xây đô thị và bê tông hoá bề mặt đất đã phá vỡ các cơ chế tự nhiên mà Trái Đất sử dụng để làm mát môi trường.
Sự tăng nhiệt này xảy ra khi ánh sáng mặt trời chạm vào mặt đất và biến thành nhiệt năng. Lượng nhiệt này phụ thuộc rất nhiều vào độ ẩm và độ che phủ của bề mặt đất. Khi đất khô cằn, ít thảm thực vật với chất hữu cơ thấp, hoặc bị bê tông hoá, phần lớn năng lượng mặt trời bị chuyển thành cảm nhiệt (sensible heat) và làm nóng trực tiếp không khí xung quanh. Ngược lại, khi đất ẩm, có cây xanh với rễ sâu và độ che phủ tự nhiên, năng lượng được dùng cho quá trình bay hơi và thoát hơi nước (latent heat), giúp hạ nhiệt môi trường một cách mạnh mẽ.
Một trong những cơ chế tự nhiên đã bị phá vỡ ở đây liên quan đến “chu trình nước nhỏ”. Khi đất được che phủ bởi thảm thực vật đa tầng với rễ sâu, chúng giúp giữ nước trong đất, hút nước qua rễ và giải phóng nước vào khí quyển bằng cách thoát hơi nước (evapotranspiration). Việc bốc hơi nước này giúp giảm nhiệt đáng kể, cũng giống như cơ thể của chúng ta thoát mồ hôi để làm mát vậy. Ngoài ra, hơi nước được giải phóng qua lá cây giúp tạo mây và mưa để làm dịu môi trường (đây là lý do tại sao các “rừng mưa” có thể tự sản xuất mưa cho chính mình).
Không chỉ thế, các cụm mây được tạo ra bởi quá trình này giúp phản xạ ánh sáng mặt trời ngược trở lại vũ trụ theo hiệu ứng albedo, giảm thêm lượng nhiệt hấp thụ trên bề mặt đất.
Một yếu tố quan trọng để đảm bảo cơ chế này hoạt động bình thường là lượng chất hữu cơ trong đất (SOM), chính vì chất hữu cơ tăng khả năng giữ nước của đất, duy trì cấu trúc và sức sống của hệ vi sinh vật. Cứ mỗi 1% lượng chất hữu cơ tăng lên, đất có thể giúp giữ thêm đến 95.000 lít nước mỗi hecta, biến những cơn mưa lớn thành nguồn dự trữ thay vì tai họa lũ lụt. Khi chất hữu cơ mất đi, đất trở nên khô và chai cứng, không còn khả năng hấp thụ nước mưa. Thay vì thấm xuống nuôi mạch nước ngầm, nước mưa lại chảy tràn trên bề mặt, mang theo đất màu và gây xói mòn, lũ lụt, sạt lở.
Cơ chế này được quan sát rất rõ nhờ thí nghiệm "Hàng rào chống thỏ" (Bunny Fence Experiment) được tạo ra một cách vô tình ở Úc. Cách đây hơn 100 năm, người Úc đã xây một hàng rào chống thỏ (một loài xâm lấn do người châu Âu mang đến) với độ dài 3.256km. Mặc dù hàng rào khổng lồ này không ngăn chặn được loài thỏ, nó đã vô tình trở thành một ranh giới rõ rệt ngăn sự lan tỏa của nông nghiệp cơ giới hóa. Ở một bên, người dân liên tục phát quang đất để trồng lúa mì mùa vụ. Ở bên kia, cây bản địa được giữ lại nguyên vẹn thành thảm thực vật tự nhiên.
Nhiều năm sau, sự khác biệt giữa hai bên hàng rào không thể rõ rệt hơn. Bên không bị tác động bởi nông nghiệp vẫn xanh mướt và giàu đa dạng sinh học. Bên kia thì khô cằn và nóng hơn hẳn do ít mây, với lượng mưa giảm từ 20-30% so với bên được để tự nhiên.
Theo mình, chúng ta không nhất thiết phải tái hoang dã hóa (rewilding) trên quy mô toàn cầu — chúng ta vẫn có thể canh tác một cách bền vững để bảo vệ đất và hệ thực vật, và đồng thời cung cấp thực phẩm cho con người. Việc xen canh, trồng đa dạng loài cây, giữ cây lớn và thảm thực vật che phủ, trồng theo tầng, bón than sinh học (biochar), ủ phân hữu cơ và tỉa cây sinh khối đều là những giải pháp giúp duy trì lượng SOM cao và đảm bảo chu trình nước tiếp tục hoạt động. Chưa kể là những biện pháp trên rất có ích trong việc tăng năng suất và giảm chi phí nông nghiệp về lâu dài.
Ngoải ra, kiến thức này cũng cần phải được mang vào các đô thị: trồng và giữ cây lớn, duy trì thảm thực vật nhiều nhất có thể, và tạo ra những không gian xanh đa dạng sinh học trong thành phố.
Những việc này sẽ giúp giảm lượng nhiệt tích tụ từ bề mặt đất và giảm tác động của biến đổi khí hậu. Điều này không có nghĩa là chúng ta không cần phải giảm phát thải khí nhà kính, nhưng nó mở ra những góc nhìn và giải pháp thiết thực khác để chúng ta có thể tiếp cận vấn đề chung này từ mọi khía cạnh.
Cuối cùng mình muốn nhấn mạnh là việc sửa chữa thảm thực vật và chu trình nước vẫn chỉ là một giải pháp, và phải đi kèm với việc cắt giảm CO₂ toàn cầu, vì lượng khí thải này vẫn đang giữ nhiệt ở các tầng khí quyển cao hơn. Nhưng nếu chúng ta chỉ giảm phát thải mà để mặc cho đất đai suy thoái, chúng ta sẽ mất đi cơ chế điều hòa nhiệt độ tự nhiên.
“Thời gian tốt nhất để trồng cây là 20 năm trước. Thời gian tốt thứ hai là ngay bây giờ.”
𝑁𝑔𝑢𝑜̂̀𝑛 𝑡ℎ𝑜̂𝑛𝑔 𝑡𝑖𝑛 / 𝑡𝑎̀𝑖 𝑙𝑖𝑒̣̂𝑢 𝑡ℎ𝑎𝑚 𝑘ℎ𝑎̉𝑜:
1) Tác động của việc thay đổi lớp phủ thực vật đối với khí hậu vùng tây nam Tây Úc https://www.researchgate.net/publication/228849065_The_impact_of_land_cover_change_on_the_climate_of_South_West_Western_Australia
2) Tác động của việc thay đổi cách quản lý đất đai và mưa/mây ở Úc https://agupubs.onlinelibrary.wiley.com/doi/full/10.1029/2010JD014950
3) Sách "Ground Breaking: Soil Security and Climate Change" của nhà khoa học thổ nhưỡng Phil Mulvey.
https://onesearch.slq.qld.gov.au/discovery/fulldisplay?docid=alma99184350858602061&context=L&vid=61SLQ_INST:SLQ&lang=en&adaptor=Local%20Search%20Engine&tab=All&query=sub,equals,%20Soil%20erosion%20,AND&mode=advanced&offset=0