Chia sẻ kiến thức môn ngữ văn thpt
"Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình"
29/09/2024
Cô của các bạn là biên tập viên nha
NHỮNG SỰ KIỆN NỔI BẬT NĂM HỌC 2023-2024 CỦA TRƯỜNG THCS VÀ THPT Y ĐÔN.
BIỆN PHÁP TU TỪ NÓI MỈA VÀ NGHỊCH NGỮ
1. Nói mỉa
a. Khái niệm: là biện pháp tu từ thể hiện thái độ mỉa mai hay sự đánh giá mang tính phủ định ngầm ẩn của người nói, người viết về sự vật, sự việc được đề cập. Trong nói mỉa, người nói, người viết tạo ra sự mâu thuẫn cố ý giữa phần hiển ngôn và phần hàm ngôn của một lời nói hay của cả chuỗi phát ngôn. Phần hiển ngôn dường như thể hiện thái độ tán thành, khen ngợi hoặc trung lập, khách quan trước đối tượng được nói tới nhưng phần hàm ngôn lại cho biết một thái độ khác: phủ nhận (ở những mức độ khác nhau) hoặc dè bỉu. Nói mỉa chủ yếu được nhận ra nhờ hiệu quả châm biếm mà lời nói mang lại. Trong các yếu tố tạo nên nói mỉa có thể có nghịch ngữ.
b. Dấu hiệu nhận biết:
- Trong lời nói xuất hiện những từ, cụm từ vốn thể hiện chiều hướng đánh giá tiêu cực về một đối tượng: hay ho, hay hớm, đẹp mặt, tốt mã, làm cha thiên hạ, ăn trắng mặc trơn, mèo mù vớ cá rán,... Ví dụ: "Hay ho nhỉ?"; "Đẹp mặt chưa kìa!";... Trong các cụm từ in đậm ở hai ví dụ, các yếu tố “hay”, “đẹp” biểu thị sự đánh giá tích cực, nhưng nghĩa của cả cụm từ lại thể hiện một thái độ trái ngược, hàm ý phê phán, chê bai.
- Người nói, người viết nêu những tình huống, điều kiện phi lí gắn với khả năng, hành động, sự việc đang được nói tới. Ví dụ: "Hắn mà làm được điều đó thì tôi đi đầu xuống đất!".
- Có sự pha trộn đáng ngờ giữa kiểu nói lịch sự và nói quá. Ví dụ: “Cám ơn ngài, ngài đã dạy quá lời”; “Kẻ hèn mọn này đâu dám đứng ngang hàng với các vị".
- Có sự xuất hiện của yếu - tố nhại trong phát ngôn. Ví dụ:
Hẩu lố, mét xì thông mọi tiếng,
Chẳng sang Tàu cũng tếch sang Tây.
(Trần Tế Xương, Mai mà tớ hỏng)
- Có sự thay đổi bất ngờ về cách trần thuật hay giọng điệu trần thuật ngay trong một đoạn văn. Ví dụ: Ông ta khóc quá, muốn lặng đi thì may có Xuân đỡ khỏi ngã. Nó chật vật mãi cũng không làm cho ông đứng hằn lên được. Dưới cái khăn trắng to tướng, cái áo thụng trắng loè xoè, ông phán cứ oặt người đi, khóc mãi không thôi.
- Hút!... Hút!... Hứt!...
(Vũ Trọng Phụng, Số đỏ)
Đọc đoạn trích trên, độc giả nhận thấy tiếng cười mỉa mai bật ra khi tác giả cố tình mô phỏng âm thanh tiếng khóc nấc một cách khác thường, ngược với lối trần thuật có vẻ khách quan trước đó.
2. Nghịch ngữ
a. Khái niệm: là biện pháp tu từ, ở đó, người nói, người viết dùng một cụm từ gây ấn tượng mạnh, làm nổi bật tính chất hai mặt của một tình thế, tâm trạng nào đó, hoặc làm phát lộ sự thật về đối tượng theo quan điểm của mình. Nghĩa của nghịch ngữ đối lập với nghĩa của các cụm từ khác trong câu hoặc trong các câu khác gần kề, nhấn mạnh sự phát hiện mới hay cảm nhận, liên tưởng chủ quan của người nói, người viết về một đối tượng vốn có thể được nhìn nhận khác hẳn.
Nghịch ngữ thường xuất hiện trong nói mỉa. Ở những trường hợp đó, mỉa mai được nhìn nhận là mục đích của phát ngôn, còn nghịch ngữ được xem là phương tiện thực hiện mục đích này.
b. Dấu hiệu nhận biết:
- Có sự kết hợp dường như phi lí giữa các từ mang nghĩa đối chọi ngay trong một cụm từ. Người tiếp nhận có thể nhận ra ngay tính chất nghịch ngữ của cụm từ đó mà không cần phải đối chiếu nó với các cụm từ khác trong câu. Ví dụ: Những việc trắc trở như thế đã làm cho ông già hơn tám mươi tuổi phải chết một cách bình tĩnh.
(Vũ Trọng Phụng, Số đỏ)
- Câu có cụm từ mang tính chất của một phụ chú khác - thường đối với đối tượng được để cập trước đó. Ví dụ: Ông hứa thế; giả thử cứ cho rằng một vị Toàn quyền Đông Dương mà lại biết giữ lời hứa đi chăng nữa, thì chúng ta vẫn được phép tự hỏi liệu quan Toàn quyền Va-ren sẽ "chăm sóc" vụ ấy vào lúc nào và ra làm sao.
(Nguyễn Ái Quốc, Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu)
Lưu ý: Ở nhiều tác phẩm văn học, nghịch ngữ có thể hiện diện ngay ở nhan đề hay ở tên một số chương mục. Ví dụ: Thi hài sống (nhan đề một vở kịch của L. Tôn-xtôi), Hạnh phúc của một tang gia (một phần tên chương XV của tiểu thuyết Số đỏ – Vũ Trọng Phụng).... -
NỖI BUỒN CHIẾN TRANH - Bảo Ninh
TÌM HIỂU: Hiệu quả của thủ pháp đồng hiện và bút pháp dòng ý thức
- Thủ pháp đồng hiện: một thủ pháp của tiểu thuyết hiện đại, gắn với việc tác giả cho xuất hiện cùng lúc các hình ảnh, sự việc vốn xảy ra ở những thời điểm và không gian khác nhau, qua đó soi tỏ bản chất của đối tượng được đề cập. Hoạt động hồi ức ở các nhân vật là cơ sở chính của thủ pháp đồng hiện; trong sáng tác của nhiều loại hình nghệ thuật khác, đặc biệt là điện ảnh, thủ pháp đồng hiện cũng được sử dụng phổ biến.
- Bút pháp "dòng ý thức" cách viết thể hiện mối quan tâm đặc biệt đối với trạng thái chuyển động không ngừng và biến hoá phức tạp của toàn bộ ý thức nhân vật; với bút pháp này, việc miêu tả chi tiết các sự kiện bên ngoài và đảm bảo tính nhất quán, hoàn chỉnh của cốt truyện không còn được xem là vấn đề thiết yếu.
- Biểu hiện trong văn bản
+ Không có cốt truyện, sự kiện, các hồi ức về những kỉ niệm thời chiến được tái hiện qua suy nghĩ của nhân vật Kiên
+ Dòng suy nghĩ, hồi tượng xuất hiện ở những không gian khác nhau: Kiên của “một thời điểm nào đó” và “tôi” khi đọc được bản thảo của Kiên tuy nhiên tất cả cùng hướng về cùng chủ đề, nội dung là những suy nghĩ và trăn trở về chiến tranh cũng như nỗi đau mà con người trải qua
- Hiệu quả:
+ Chiến tranh và nỗi đau của con người hiện lên đa chiều, nhiều góc độ
+ Khám phá được những góc khuất trong đời tư của nhân vật và của người kể chuyện, của nhà văn
+ Thể hiện cái nhìn trách nhiệm về lịch sử và tôn trọng cả những cảm xúc, suy nghĩ của người đọc về chủ đề chiến tranh
+ Tạo nên các cuộc đối thoại giữa quá khứ - hiện tại, giữa nhân vật – tác giả và bạn đọc Sức sống tồn tại mãnh liệt của tiểu thuyết
NỖI BUỒN CHIẾN TRANH - Bảo Ninh
TÌM HIỂU: Sự luân chuyển điểm nhìn và khả năng nhìn nhận cuộc sống từ góc độ đời tư, đi sâu vào tâm lí (Khai thác phần 1,2 và mối quan hệ của hai phần)
a. Dòng tâm trạng của Kiên
- Từ ngữ thể hiện tâm trạng của nhân vật có thể liệt kê: hồn phách xiêu lạc, ý thức mờ mịt, lú lẫn, mê mẩn, cô quạnh, âu sầu, bi quan bế tắc, vô vọng,... Qua những từ ngữ đó, có thể thấy trạng thái tâm lí thường trực của nhân vật Kiên là buồn đau dai dẳng, luôn bị kí ức chiến tranh lôi ngược về quá khứ.
- Trong hồi ức của Kiên, chiến tranh đã hiện lên với "khuôn mặt" dữ tợn, chết chóc, phi nhân tính, gây ám ảnh nặng nề và nỗi buồn đau không dứt cho những ai từng trực tiếp trải qua. Tuy nhiên, đây không phải là “khuôn mặt" duy nhất của chiến tranh, nhất là cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược.
- Nỗi đau của nhân vật Kiên vô cùng đáng trọng. Chính nhờ nó, cái nhìn về chiến tranh tránh được sự hời hợt, công thức, mà trong trường hợp này, hời hợt, công thức đồng nghĩa với việc lảng tránh phần g*i góc của hiện thực và thiếu lập trường nhân bản.
+ Nỗi đau buồn mà Kiên lâm vào hay tự dìm mình vào có cội nguồn từ sự nghiệm sinh một cách sâu sắc bộ mặt phi nhân tính của chiến tranh: chiến tranh gây ra những chết chóc, mất mát, sự xa lạ giữa người với người và nhiều tổn thương tinh thần không thể chữa lành.
+ Nỗi đau buồn của Kiên kéo anh mãi về quá khứ nhưng cũng làm cho anh được phục sinh về mặt tinh thần, giúp anh soi tỏ toàn bộ tháng ngày qua bằng một cái nhìn mới, đầy ý thức. Điều đó có ý nghĩa sống còn đối với anh trong tư cách là một con người cá nhân cụ thể. Nhưng nó cũng ý nghĩa tạo nên sự chấn động trong nhận thức của người đọc khi Kiên tồn tại như một nhân vật tiểu thuyết vốn thực hiện chức năng chuyển tải những quan niệm, tư tưởng hay những suy nghiệm có màu sắc triết học về đời sống.
+ Viết tiểu thuyết, đối với Kiên, chính là một hành động cụ thể để tái hiện trọn vẹn quãng đời đã qua vốn bị cuốn vào vòng xoáy của chiến tranh và để thực hiện sự phục sinh tinh thần như đã nói trên.
- Từ góc nhìn khác, người ta có thể thấy vẻ hào hùng, lãng mạn của nó, bất chấp những thực tế khốc liệt. Nhiều tác phẩm như Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Phạm Tiến Duật), Bài ca xuân 71 (Tố Hữu), Những ngôi sao xa xôi (Lê Minh Khuê), Mảnh trăng cuối rừng (Nguyễn Minh Châu), Lá đỏ (Nguyễn Đình Thi),... đã chứng tỏ điều đó.
- Ngay trong tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh, người kể chuyện xưng “tôi” khi thể hiện sự đồng cảm sâu sắc với Kiên cũng đã có một cái nhìn “rộng” hơn, toàn diện hơn về cuộc chiến mà nhân vật chính đã đi qua (chú ý những câu nằm ở phần cuối đoạn trích). Điều đó chứng tỏ một sự vật có thể được nhìn nhận rất khác nhau tuỳ tâm thế, nhận thức, trải nghiệm riêng của người đánh giá. Ai cũng có quyền nêu góc nhìn của mình nhưng để tiếp cận được sự thật, cần liên kết, phối hợp nhiều góc nhìn khác nhau.
b. Suy tư của “tôi”
- Những câu đánh giá cần chú ý (những từ khoá được in đậm): "bản thảo tiểu thuyết của Kiên dầy dần lên và dần đến đoạn kết, song đồng thời cũng như thể mỗi ngày một thêm dang dở. Những chương sau như là điệp khúc của các chương phía trước.”, “Có vẻ như chẳng một trình tự nào hết. Trang nào cũng hầu như là trang đầu, trang nào cũng có vẻ như trang cuối", "đây vẫn là một sáng tác dựa trên cảm hứng chủ đạo của sự rối bời”, “mạch chuyện không ngừng đứt gãy. Tác phẩm từ đầu đến cuối không hề có nổi một tuyến chung, một bề mặt đại khái nào mà hoàn toàn là những khối thù hình", "sự mất bố cục, sự thiếu mạch lạc, thiếu bao quát nhiều khi chứng tỏ sự hụt hẫng của tư duy người viết, chứng tỏ cái vẻ "lực bất tòng tâm" của y", "tác phẩm bị dẹp bỏ của “nhà văn phường chúng tôi" hiện lên trong một cấu trúc khác, trong sự hoà đồng với cuộc đời thực không hề hư cấu của anh", "Dường như do sự tình cờ của câu chữ và của bố cục, tôi và tác giả đã ngẫu nhiên trở nên hoà đồng tư tưởng, trở nên rất gần nhau..
+ Do tính đặc thù của đời sống hiện đại quy định, tiểu thuyết hiện đại thực hiện nhiều cách tân ở mọi yếu tố quan trọng làm nên đặc trưng của tiểu thuyết: kết cấu, tổ chức hệ thống nhân vật, xây dựng điểm nhìn, sử dụng ngôi kể, sử dụng ngôn ngữ và giọng điệu,... Vì đặt lòng tin rất lớn vào tính tích cực của người đọc, tiểu thuyết hiện đại thường có kết cấu đa tầng, đa tuyến; nhân vật có khi vắng bóng hoặc không có diện mạo, tính cách hoàn chỉnh; điểm nhìn và ngôi kể có thể thay đổi rất bất ngờ, linh hoạt; ngôn ngữ thường đa thanh và giọng giễu nhại được sử dụng thường xuyên;...
+ Chính nhân vật người kể chuyện xưng "tôi" trong đoạn trích cũng phải trải qua rất nhiều khó khăn trước khi hiểu ra và tìm thấy sự đồng cảm lớn với Kiên – “nhà văn của phường chúng tôi” – cùng những trang bản thảo kì lạ do anh tạo nên trong trạng thái "ý thức mờ mịt".
+ Viết tiểu thuyết, đối với các nhà văn nói chung (qua trường hợp cụ thể của nhân vật Kiên) là việc đi tìm một hình thức biểu đạt phù hợp có thể soi tỏ được bản chất của cuộc sống, cuốn người đọc vào những câu chuyện ngỡ xa lạ nhưng thực ra là của chính họ (Nhân vật "tôi" khi đọc bản thảo tiểu thuyết của Kiên đã dần dần vỡ lẽ: “Dường như do sự tình cờ của câu chữ và của bố cục, tôi và tác giả đã ngẫu nhiên trở nên hoà đồng tư tưởng, trở nên rất gần nhau. Thậm chí tôi ngờ rằng có quen anh trong chiến tranh.").
c. Đánh giá
- Ở Nỗi buồn chiến tranh có một tiểu thuyết trong tiểu thuyết. Khi kể về việc viết tiểu thuyết của Kiên, hẳn nhà văn (qua hình tượng người kể chuyện xưng “tôi”) có ý thức rất rõ về việc chọn hình thức viết phù hợp với chủ đề "nỗi buồn chiến tranh".
- Để có thể làm nổi bật sự "di biệt" của Kiên – một người mãi lang thang trên hành trình trở về quá khứ đẫm màu bi thương – dĩ nhiên, cách viết phi tuyến tính, chồng xếp lẫn lộn các bình diện thời gian, không gian, nương theo dòng tâm tư nặng nề nhưng cũng đầy biến động của nhân vật là một sự lựa chọn hợp lí. Với cách viết này, tác giả đã thể hiện rất ám ảnh cõi lòng bất ổn ngổn ngang của nhân vật và hơn thế, luôn khuấy động suy tư của người đọc về từng tình tiết, chi tiết được miêu tả dưới nhãn quan của nỗi buồn.
- Nếu không có việc Kiên viết tiểu thuyết rồi sau đó bỏ đi đâu chẳng rõ, cái nhìn của Kiên về chiến tranh rất dễ trở thành một cái nhìn mang tính chất áp đặt, chi phối toàn bộ cảm giác, nhận thức của người đọc. Nhưng trên thực tế, Kiên đã được tác giả cho hiện diện như một “ca tâm lí" đặc biệt cần quan sát, lí giải một cách tường tận. Trong tiểu thuyết, “tôi” – người kể chuyện chưa từng biết Kiên ngoài đời – đã nêu những nhận xét về anh từ một góc nhìn - khách quan. Đến lượt độc giả, tâm trạng và hành xử của Kiên lại lần nữa được soi xét. Rõ ràng, giữa anh và độc giả luôn tồn tại một khoảng cách nhất định, theo đó, độc giả có thể chủ động nêu đánh giá riêng về Kiên và về tất cả những gì được thể hiện trong Nỗi buồn chiến tranh. Có thể thấy, qua tiểu thuyết này, Bảo Ninh là nhà văn thực sự có cái nhìn đa chiều, toàn diện về chiến tranh và hết sức có trách nhiệm với lịch sử và độc giả.
* ĐỐI THOẠI VỚI BẠN ĐỌC – MỞ RỘNG:
+ Mỗi cá nhân hay cộng đồng đều có lịch sử riêng của mình. Chính lịch sử ấy làm nên giá trị của các đối tượng. Lịch sử được làm sống dậy nhờ kí ức. Kí ức giúp con người có ý thức cao độ về đời sống, biết rút kinh nghiệm về những thành công, thất bại đã có để sống tốt hơn, hạnh phúc hơn, minh triết hơn.
+ Có nhiều người thường quên quá khứ. Hành trình ngược dòng thời gian của Kiên có thể đưa lại nỗi đau khổ cho riêng anh nhưng nó lại cực kì cần thiết cho mọi người. Vì vậy, nỗi buồn của Kiên cần được nhìn nhận theo ý nghĩa tích cực nhất. Đây chính là ý nghĩa ẩn dụ - triết lí sâu xa của tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh.
+ Cần hiểu rõ chức năng đích thực của nhân vật trong tác phẩm truyện nói chung và tiểu thuyết nói riêng. Nhân vật "chính diện" không nhất thiết phải tồn tại như một tấm gương mẫu mực về lối sống để người đọc bắt chước, noi theo. Trước hết, nhân vật là một ước lệ nghệ thuật, phải thể hiện được những vấn đề tác giả suy ngẫm và muốn chia sẻ. Vì vậy, việc đồng tình hay không đồng tình với Kiên hoàn toàn độc lập với việc đánh giá về giá trị của tác phẩm.
+ Cũng cần thấy rằng sự phán xét của chúng ta về một cá nhân nào đó thường phiến diện vì nhiều khi ta quên hoặc không biết đặt mình vào vị trí của người được nói đến. Tử phía Kiên, hẳn anh đã tìm được hạnh phúc trong sự nhớ lại. Nhờ tắm gội trong kí ức, tâm hồn anh được phục sinh. Ý nghĩa của đời anh, của nỗi đau buồn mà anh gánh theo chính là chỗ đó. Sự mê mải lần về quá khứ của anh, như vậy, có thể gợi lên rất nhiều nhận thức sâu sắc và mới mẻ về đời sống cho người đọc
Kiến thức trọng tâm về thể loại Tiểu thuyết và tiểu thuyết hiện đại.
1. Tiểu thuyết là loại tác phẩm tự sự quy mô lớn, có khả năng thể hiện các nội dung đa dạng và bao quát một phạm vi hiện thực rất rộng, trải ra trên nhiều không gian, thời gian khác nhau nhưng dành sự chú ý đặc biệt cho đời tư hay số phận của con người cá nhân. Từ những hình thái đầu tiên xuất hiện ở thời cổ đại, tiểu thuyết phát triển theo nhiều hướng khác nhau, tuỳ thuộc vào những tiền đề lịch sử, xã hội, văn hoá, thẩm mĩ nhất định. Đến thời cận đại, hiện đại, tiểu thuyết đạt được bước tiến lớn, trở thành một thể loại chính của đời sống văn học và tác động mạnh mẽ đến sự biến đổi, phát triển của nhiều thể loại khác.
2. Tiểu thuyết hiện đại là loại tiểu thuyết thể hiện một cách tư duy mới, mang tính hiện đại về đời sống, phân biệt với tiểu thuyết cổ điển ra đời trước thời đại tư bản chủ nghĩa. Trong tiểu thuyết hiện đại, giữa các xu hướng tìm tòi khác nhau có khoảng cách rất lớn. Điều này làm cho việc xác định diện mạo tiểu thuyết hiện đại trở nên phức tạp. Tuy nhiên, nếu tạm bỏ qua những nét quá đặc biệt của từng xu hướng, có thể nói đến các đặc điểm lớn sau của tiểu thuyết hiện đại:
- Nhìn cuộc sống từ góc độ đời tư; quan tâm đến cái thường ngày, cái đang diễn biến với cách tiếp cận gần gũi; không lí tưởng hoá hiện thực.
- Nhân vật là “con người nếm trải", không bất biến, có quá trình phát triển nhiều khi quanh co, phức tạp về tính cách, tâm lí.
- Có kết cấu nhiều tầng lớp tuyến tính hoặc phi tuyến tính; có sự đan xen của nhiều bè ngôn ngữ, phản ánh sự tồn tại, xung đột thường xuyên giữa các ý thức xã hội.
- Có khả năng tổng hợp cao mọi kinh nghiệm nghệ thuật của các thể loại văn học khác để hình thức luôn ở trong trạng thái biến đổi không ngừng.
3. Phong cách hiện thực là phong cách nghệ thuật chú trọng thể hiện mối quan hệ giữa hoàn cảnh xã hội với sự hình thành tính cách con người, quan tâm miêu tả một cách chi tiết, “như thật” những hình ảnh phong phú, phức tạp của hiện thực cuộc sống, thường loại trừ sự “tô vẽ” hay lí tưởng hoá. Phong cách này có lịch sử phát triển lâu dài, tồn tại trong các sáng tác thuộc nhiều thể loại khác nhau của văn học, nghệ thuật như: thơ, truyện (bao gồm tiểu thuyết), kí, kịch, tác phẩm tạo hình,... Trong văn học, phong cách hiện thực đạt đến đỉnh cao với những sáng tác thuộc trường phái hiện thực mà các đại diện tiêu biểu là S. Đích-ken (Ch. Dickens – Anh), H. đờ Ban-dắc (H. de Balzac - Pháp), L. Tôn-xtôi (L. Tolstoy - Nga), Ph. Đốt-xtôi-ép-xki (F. Dostoyevsky - Nga), Lỗ Tấn (Trung Quốc),...
- Trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX, phong cách hiện thực gắn với tên tuổi và sáng tác của các nhà văn như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao,.. Phong cách hiện thực thường được đặt trong tương quan so sánh, đối lập với phong cách lãng mạn – một phong cách ưu tiên việc thể hiện cảm nhận chủ quan, đôi khi lí tưởng hoá đối tượng được đề cập và coi trọng sự tưởng tượng, liên tưởng phóng túng.
CHUYÊN ĐỀ TRUYỆN NGẮN
I. LÍ THUYẾT
Truyện ngắn (TN) là hình thức tự sự cỡ nhỏ, nội dung thể loại Truyên ngắn bao gồm hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự, sử thi… nhưng cái độc đáo của nó là ngắn. Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ.TN có một số đặc điểm cơ bản sau:
1. Về dung lượng:
TN có dung lượng nhỏ, ngắn gọn mà cô đúc nên có sức ám ảnh lớn. Nó tập trung vào một hoặc một vài biến cố trong một không gian, thời gian nhất định, tạo ra ấn tượng mạnh mẽ và sự liên tưởng cho người đọc. Ví dụ (VD): TN Vi hành của Nguyễn Ái Quốc dịch ra tiếng Việt chỉ hai trang sách, được viết dưới hình thức một bức thư kể về một sự kiện là tác giả bị nhận nhầm là Khải Định. Cốt truyện không có gì, sự kiện đơn giản, dung lượng rất ngắn nhưng truyện lại có sức công phá lớn, tác động mạnh mẽ vào ý thức, khêu gợi trí tưởng tượng của người đọc để đặt ra vấn đề chính trị - xã hội, vấn đề dân tộc, vấn đề đấu tranh….
2. Về đề tài:
TN đề cập đến mọi đề tài phong phú, đa dạng, chạm đến mọi ngóc ngách đời sống con người. Trên cùng một đề tài, mỗi nhà văn lại có cách khai thác khác nhau, đem lại sắc thái riêng cho tác phẩm của mình
VD: Cùng viết về đề tài người nông dân trước Cách mạng tháng Tám, Ngô Tất Tố đề cập đến sự bần cùng hóa, phá sản về vật chất của họ; còn ngòi bút Nam Cao lại xoáy vào sự tha hóa về nhân cách, phá sản về tinh thần ở những con người ấy.
3. Về kết cấu:
Tuy dung lượng nhỏ nhưng TN có thể có những kết cấu linh hoạt. Kết cấu TN không gồm không gian, thời gian nhiều tầng bậc, nhiều tuyến, mà được tổ chức theo kiểu tương phản, liên tưởng. TN có thể có các kiểu kết cấu sau đây:
- Kết cấu vòng tròn (đầu cuối tương ứng): CHÍ PHÈO (Nam Cao)
- Kết cấu theo trục thời gian: Truyện được kể theo thời gian, theo diễn biến của dòng sự kiện: Chữ người tử tù(Nguyễn Tuân)
- Kết cấu tâm lý: Truyện được kể men theo dòng tâm lý nhân vật (NV), làm sáng rõ nội tâm NV và tạo sức hấp dẫn cho câu chuyện: Đời thừa (Nam Cao)
- Kết cấu đồng hiện: Nhà văn miêu tả sự kiện, quan sát tình huống ở các địa điểm khác nhau trong cùng một thời điểm. Kiểu kết cấu này đem lại khả năng mở rộng dung lượng cho tác phẩm: Bức tranh (Nguyễn Minh Châu).
- Kết cấu trùng phức (kết cấu truyện lồng trong truyện): Người kể chuyện đứng ra ngoài, đóng vai trò là đạo diễn để tổ chức diễn biến câu chuyện qua lời kể, qua đó hoàn thiện chân dung NV: Mảnh trăng cuối rừng (Nguyễn Minh Châu).
- Kết cấu mở: Truyện kết thúc nhưng cái kết còn để ngỏ, mở ra những khả năng liên tưởng rộng lớn: CHÍ PHÈO (Nam Cao) Vợ nhặt (Kim Lân)
4. Về cốt truyện:
Cốt truyện là một đặc trưng thi pháp của TN vì nó là kết quả của sự sáng tạo của nhà văn, là một phương thức khắc họa số phận và tính cách NV, qua đó thể hiện đời sống một cách chân thực.
- Dựa vào cốt truyện, có thể chia làm hai loại truyện:
+ Truyện không có cốt truyện (hoặc cốt truyện rất mờ nhạt): do chủ ý nghệ thuật của nhà văn chỉ nhằm thể hiện diễn biến tâm trạng nhân vật trong mối liên hệ với hoàn cảnh. Truyện chỉ có những ý tưởng, không có sự kiện gay cấn, thời gian cụ thể, thậm chí không có đầu đuôi (TN Thạch Lam).
+ TN có cốt truyện rất chú ý xây dựng những tình tiết, sự kiện bộc lộ tính cách của nhân vật và thúc đẩy hướng phát triển, vận động của mạch truyện. Bản thân cốt truyện là hệ thống các sự kiện, được chia theo lớp lang từ đầu đến cuối truyện. Các sự kiện càng gay cấn, nổi bật càng tạo kịch tính, sức hấp dẫn cho truyện (CHÍ PHÈO - Nam Cao)
5. Về nhân vật:
- NV là linh hồn của tác phẩm, là người phát ngôn cho tư tưởng của nhà văn. Do đó, xây dựng NV là điểm quan trọng của TN.
- NV TN ít hơn tiểu thuyết và thường bắt buộc phải được xây dựng theo nguyên tắc điển hình hóa. NV phải được đặt trong một hoàn cảnh cụ thể, vừa mang tính chung phổ quát vừa mang tính riêng độc đáo. Trong TN, NV là một mảnh nhỏ của thế giới, là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người, phát ngôn trực tiếp hoặc gián tiếp cho tư tưởng nhà văn.
- Ngoài ra, còn có loại NV tư tưởng.
6. Về điểm nhìn, người kể chuyện và phương thức kể chuyện::
* Điểm nhìn:
- Điểm nhìn bên trong.
- Điểm nhìn bên ngoài.
- Điểm nhìn toàn tri/ hạn tri.
* Người kể chuyện:
- Người kể chuyện tường minh (xưng Tôi)
- Người kể chuyện hàm ẩn
* Phương thức kể chuyện:
- Trong TN, người ta thường dùng nhiều cách kể chuyện. Các nhà văn thường thay đổi cách kể và có thể có các hình thức kể hỗn hợp. Có hai hình thức phổ biến là:
+ Tường thuật lại quá trình, diễn biến sự việc: Vợ nhặt (Kim Lân)
+ Miêu tả lại diễn biến sự kiện: Vi hành (Nguyễn Ái Quốc)
- Để nhận thức phương thức kể chuyện, người ta căn cứ vào các tình huống kể chuyện:
+ Tình huống khách quan: Tác giả đứng bên ngoài kể lại điều xảy ra: Chiếc lá cuối cùng (Ohenry)
+ Tình huống chủ quan: Tác giả hoặc người kể chuyện tự đóng vai trò là nhân vật chính của tác phẩm; kể lại những sự kiện, hành động, việc làm, ý nghĩa hoặc mối quan hệ người – người, hoặc phân tích, bình luận chung.
Cũng cần chú ý đến quan điểm của người trần thuật trong TN. Quan điểm đó thể hiện trong cách kể, nhưng cũng có khi thái độ bề mặt qua ngôn ngữ lại đánh lừa ta (CHÍ PHÈO – Nam Cao). TN cũng thường có viễn cảnh – khung cảnh được mở ra trong tương lai mà qua tác phẩm người đọc phát hiện hoặc cảm nhận được.
7. Về cách xây dựng tình huống:
- Tình huống là thời điểm, khoảnh khắc nhất định trong tác phẩm, ở đó tập trung điểm nút chủ đạo trong tác phẩm của nhà văn. Tạo tình huống là một đặc điểm thi pháp TN. Do dung lượng nhỏ, TN buộc phải tìm đến một tình huống – tức là một khoảnh khắc đặc biệt trong đời sống – để thể hiện tập trung mối quan hệ con người, bật sáng tư tưởng của bản thân tác giả. TN có thể có một hay nhiều tình huống, tạo thành một hệ thống.
- Các kiểu tình huống truyện tiêu biểu là: tình huống nhận thức, tình huống tâm trạng, tình huống hành động.
-> Tình huống TN thường rất độc đáo, ấn tượng, tạo hiệu quả thẩm mĩ cao.
8. Về chi tiết nghệ thuật:
- Đây là một yếu tố giữ vai trò trọng yếu trong tác phẩm tự sự. TN có thể thiếu cốt truyện nhưng không thể thiếu chi tiết nghệ thuật.
- Chi tiết trong TN hay tiểu thuyết đều nhằm bộc lộ tính cách, tâm tư NV, đan dệt nên các tình huống truyện, đều cùng có hai loại chi tiết: Chi tiết trung tâm và chi tiết phụ trợ. Nhưng chi tiết ở TN thường ẩn chứa dung lượng phản ánh rất lớn. Cũng có nghĩa là tính cô đọng, hàm súc và tượng trưng của chi tiết cao. Một chi tiết nổi bật có thể gợi cho người đọc liên tưởng đến cả một trạng thái nhân sinh xã hội, suy rộng ra bề sâu, bề xa của nội dung phản ánh.
9. Về ngôn ngữ:
- Ngôn ngữ TN rất chọn lọc, cô đúc.
- Ngôn ngữ TN hiện đại còn có các tính chất: tính biểu cảm, tính chính xác, tính hình tượng, tính hệ thống, tính đa thanh, tính đối thoại.
- Đặc điểm trần thuật của TN: Tính chấm phá. Do không phản ánh cả một quá trình cuộc sống trong không gian rộng, thời gian dài như ở tiểu thuyết nên TN thiên về lối hành văn khơi gợi hơn là miêu tả tỉ mỉ, câu văn nhiều ẩn ý, tạo chiều sâu cho tác phẩm.
LUYỆN ĐỀ
Đề bài 1:
Bàn về truyên ngắn có ý kiến cho rằng:“Qua một nỗi lòng, một cảnh ngộ, một sự việc của nhân vật, nhà văn muốn đối thoại với bạn đọc một vấn đề nhân sinh”.
Phân tích truyện ngắn CHÍ PHÈO để làm sáng tỏ ý kiến trên.
Hướng dẫn làm bài
I. Mở bài:
- Giới thiệu những hiểu biết về tác giả Nam Cao: con người, tài năng, phong cách, đóng góp và vị trí trên văn đàn đặc biệt trong trào lưu hiện thực phê phán.
- “Chí Phèo” là bức tranh bi thảm đầy đau thương của kiếp sống đói nghèo nhưng lương thiện, bị xô đẩy, tha hóa rất đáng cảm thương của những người nông dân.
- Dẫn nhận định về tác phẩm vào: "Qua một nỗi lòng, một cảnh ngộ, một sự việc của nhân vật, nhà văn muốn đối thoại với các bạn một vấn đề nhân sinh".
II. Thân bài:
1. Giải thích nhận định
- Văn học lấy con người và cuộc sống làm đối tượng nhận thức, phản ánh. Qua truyện ngắn, thông qua nỗi lòng, một cảnh ngộ, một sự việc của nhân vật, nhà văn muốn phát hiện, khắc họa một hiện tượng, một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hoặc trong đời sống tâm hồn con người.
- Dung lượng truyện ngắn ít nhưng chứa đựng ý nghĩa sâu xa về cuộc sống, nhà văn còn phải gửi gắm những quan niệm, suy nghĩ khát vọng cuộc sống.
- Nhà văn phải tạo những tình huống chứa đựng nhiều ý nghĩ, hành văn hàm xúc, cô đọng, có chi tiết nghệ thuật sâu sắc.
2. Phân tích truyện ngắn "Chí Phèo":
- Phân tích cảnh ngộ, nỗi lòng của Chí Phèo: Vì sao phải vào tù, ra tù? Khi gặp Thị Nở, Chí Phèo đã thức tỉnh, cảm nhận được cuộc sống, ý thức cuộc đời mình, cảm động vì Thị Nở cho ăn cháo hành.
- Ước mơ trở lại cuộc sống lương thiện, biểu hiện rõ nhất nhân tính của Chí Phèo.
- Thất vọng và đau đớn khi bị Thị Nở từ chối.
- Cuối cùng phẫn uất và tuyệt vọng, tìm đến rượu, càng uống càng tỉnh, nhận rõ tình thế bi kịch của mình, Chí Phèo đã xách dao đến nhà Bá Kiến, giết hắn và tự sát.
- Từ cảnh ngộ, nỗi lòng Chí Phèo tác giả muốn nói:
+ Khẳng định ca ngợi, niềm tin mãnh liệt vào bản chất lương thiện của người nông dân.
+ Đồng cảm với bi kịch của nhân vật.
+ Tố cáo xã hội phong kiến tàn bạo, hủy họai nhân phẩm và tước đoạt quyền sống con người, đẩy họ đến cái chết.
+ Cái chết của Chí Phèo thể hiện xung đột giai cấp. Cảm quan hiện thực nhạy bén của Nam Cao giải quyết vấn đề bằng những biên pháp quyết liệt.
+ Tác giả mong ước có một xã hội tốt đẹp.
- Tài năng truyện ngắn bậc thầy của Nam Cao trong việc xây dựng tâm lí nhân vật, nghệ thuật trần thuật linh hoạt, ngôn ngữ độc thoại nội tâm, cốt truyện đơn giản nhưng đặt vấn đề quan trọng sâu xa, có ý nghĩa về cuộc sống và con người, đa giọng điệu, buồn thương, chua chát, thương cảm.
III. Kết bài:
- “Chí Phèo đúng là hiện thân đầy đủ nhất của những nỗi khốn khổ, tủi nhục của người của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám
- Hình ảnh người nông dân bị chà đạp, bị hủy hoại từ nhân hình đến nhân tính, được thể hiện bằng nghệ thuật kể chuyện sắc sảo.
- Từ cuộc đời Chí Phèo, nhà văn đã phản ánh những hiện thực của xã hội nhằm tố cáo mạnh mẽ sự tàn nhẫn, bất công của xã hội ấy.
- Khẳng định lại câu nói: “Qua một nỗi lòng, một cảnh ngộ, một sự việc của nhân vật, nhà văn muốn đối thoại với các bạn một vấn đề nhân sinh”, đã thể hiện rõ qua “Chí Phèo”
Đề bài 2:
“Nhà văn tồn tại ở trên đời trước hết để làm công việc giống như kẻ nâng giấc cho những người cùng đường tuyệt lộ bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn đến chân tường; để bênh vực cho những người không còn ai bênh vực”.
(Nguyễn Minh Châu)
Anh/chị hiểu như thế nào về nhận định trên? Hãy làm sáng tỏ bằng việc phân tích mối quan hệ Bá Kiến – CHÍ PHÈO – Thị Nở trong tác phẩm CHÍ PHÈO của Nam Cao
Hướng dẫn làm bài
1. Giải thích nhận đinh
- Trước hết: điều kiện cần thiết nhất, quan trọng nhất
- Những người cùng đường tuyệt lộ bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn đến chân tường: Những con người, những thân phận đau khổ, bế tắc, tuyệt vọng….
- Nâng giấc: cảm thông, chia sẻ, an ủi, bênh vực…
=> Nhà văn là người an ủi, động viên, chia sẻ, nâng đỡ con người, đặc biệt là những con người đau khổ. Đồng thời nhà văn phải biết bênh vực, đấu tranh chống cái xấu, cái ác để bảo vệ quyền sống, nhân phẩm của con người, nhất là những con người không còn được ai che chở.
2. Khẳng định ý kiến:
- Xuất phát từ mục đích của sáng tạo nghệ thuật, từ thiên chức của người nghệ sĩ: Nhà văn chân chính là người đến với văn chương từ những điều trông thấy đau đớn lòng về cuộc đời.
- Xuất phát từ đặc trưng của văn học: VH học phản ánh cuộc sống bao giờcũng gắn với việc thể hiện tư tưởng, tình cảm, khát vọng của nhà văn về một thế giới tốt đẹp hơn.
Xuất phát từ vai trò, chức năng của văn học đối với con người; TPVH đích thực bao giờ cũng đồng hành với con người trong cuộc sống; văn chương có thể chia sẻ những mất mát, đau thương, những ngọt ngàovới con người, giúp con người sống nhân ái, mạnh mẽ hơn.
3. Phân tích, chứng minh
- Ý nghĩa của việc xây dựng mqh giữa nhật vật CHÍ PHÈO và những nhân vật khác: Mỗi nhân vật gắn với một bước ngoặt lớn trong c/đ CHÍ PHÈO. Nó có ý nghĩa quan trọng trong việc khắc hoạ tính cách và số phận nhân vật. Từ đó thể hiện tư tưởng nhân đạo của nhà văn.
+ Bá Kiến – CHÍ PHÈO : Đây là mâu thuẫn cơ bản giữa giai cấp thống trị - địa chủ với nông dân. Bá Kiến là người trực tiếp đẩy CHÍ PHÈO và tù, gián tiếp tiếp tay cho nhà tù thực dân biến CHÍ PHÈO thành con quỷ dữ, biến CHÍ PHÈO thành công cụ, tay sai đắc lực, huỷ hoại về nhân hình, huỷ diệt về nhân tính.. đẩy CHÍ PHÈO vào con đường bần cùng, lưu manh hoá…
+ CHÍ PHÈO – Thị Nở: Đây là “điểm sáng” về tình người trong tác phẩm, có ý nghĩa quan trọng trong c/đ CHÍ PHÈO : thức tỉnh bản tính lương thiện trong con người Chí.
- Tư tưởng nhân đạo của Nam Cao trong việc xây dựng mqh giữa các nhân vật
+ Tố cáo XH TD nửa PK đã bóp nghẹt quyền sống của con người, đẩy con người vào con đường lưu manh hoá.
+ Phát hiện và khẳng định phẩm chất tốt đẹp của con người ngay cả khi họ bị huỷ diệt cả nhân hình lẫn nhân tính
+ Trân trọng, đề cao những khát khao hạnh phúc đời thường mà cao đẹp của con người.
Đề bài 3:
“Nhà văn sáng tạo nhân vật để gửi gắm tư tưởng, tình cảm và quan niệm của mình về cuộc đời”.
Hãy giải thích và làm sáng tỏ nhận định trên bằng việc phân tích một nhân vật trong truyện ngắn thuộc chương trình Ngữ văn 11.
Hướng dẫn làm bài
1. Giải thích: Vai trò, ý nghĩa của nhân vật trong truyện ngắn: góp phần thể hiện tư tưởng, tình cảm và quan niệm của nhà văn về cuộc đời.
- Tư tưởng: Nhận thức, lí giải và thái độ của nhà văn với đối tượng, những vấn đề nhân sinh đặt ra trong tác phẩm.
- Tình cảm (thẩm mĩ): Những rung động, cảm xúc đối với thực tại, bộc lộ toàn bộ thế giới tinh thần cũng như cá tính và kinh nghiệm sống của nhà văn.
- Quan niệm (nghệ thuật về cuộc đời): Nguyên tắc tìm hiểu, cắt nghĩa thế giới và con người, thể hiện ở điểm nhìn nghệ thuật, ở chủ đề sáng tác, ở kiểu nhân vật và mqh giữa các nhân vật, cách xử lí các biến cố …của nhà văn.
2. Phân tích nhân vật:
- Chọn được nhân vật đặc sắc
- Phân tích qua các khía cạnh;ngoại hình, nội tâm, ngôn ngữ, hành động, biến cố truyện liên quan đến nhân vật – mqh giữa nhân vật đó với các nhân vật khác trong truyện.
- Từ đó nêu bật tư tưởng, tình cảm, quan niệm của nhà văn về c/đ được thể hiện qua nhân vật vừa phân tích.
Đề bài 4: Câu 2: (12,0 điểm).
Bàn về tác phẩm văn chương, có ý kiến cho rằng: “Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn”.
Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy chọn và phân tích một số tác phẩm văn học trong chương trình Ngữ văn THPT để làm rõ ý kiến trên.
Ý Nội dung Điểm
1. Giới thiệu được vấn đề nghị luận 1,0
2. Giải thích ý kiến 1,5
- Chi tiết (ở đây là chi tiết nghệ thuật) -> những hiện thực đời sống được nhà văn tái hiện trong tác phẩm, là đơn vị cấu tạo nên tác phẩm, mang sức chứa lớn về nội dung và nghệ thuật. Tuỳ theo sự thể hiện cụ thể mà chi tiết có khả năng giải thích, tái hiện, biểu hiện…khiến hình tượng nghệ thuật trở nên cụ thể, gợi cảm và sống động, khiến ý đồ tư tưởng của nhà văn hiện hình rõ rệt, trở thành tiêu điểm, điểm hội tụ tư tưởng của tác giả trong tác phẩm.
- Những chi tiết được chọn lọc, gửi gắm mọi tư tưởng, tình cảm của nhà văn, là sự dồn nén những điều mà nhà văn muốn nói .
- Nhà văn lớn: nhà văn có nhiều đóng góp về giá trị nội dung, tư tưởng cũng như nghệ thuật qua những sáng tác của mình. 0,5
0,5
0,5
3 Bàn luận về ý kiến 2,5
- Tầm vóc tư tưởng, tài năng nghệ thuật của nhà văn bộc lộ ngay trong chính cách nhà văn lựa chọn và sử dụng chi tiết trong tác phẩm (dẫn chứng minh họa).
- Một chi tiết dù nhỏ cũng là kết quả lựa chọn, sắp xếp và mô tả của nhà văn, gắn với quá trình tư duy và sáng tạo nghệ thuật của nhà văn khi hình thành một tác phẩm. Nó xuất hiện ở vị trí nào trong mạch vận động của tác phẩm; nó được thể hiện ra sao hoàn toàn phụ thuộc vào con mắt nhìn, khả năng thấu hiểu đời sống, thấu hiểu con người của nhà văn.
- Một chi tiết dù nhỏ song đặt trong mạch vận động của tác phẩm vẫn có vai trò riêng của nó:
+ Với nhà văn: thể hiện ý đồ, tư tưởng một cách thuyết phục, tạo chiều sâu cho tác phẩm.
+ Với người đọc: quá trình đọc tác phẩm là sự giải mã các chi tiết trong tác phẩm (liên hệ với ý kiến của Nguyễn Minh Châu coi chi tiết là lát cắt trên thân cây để thấy cả đời thảo mộc). Một chi tiết dù nhỏ cũng có thể mang chứa thông điệp giúp người đọc thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm, nắm bắt thông điệp của tác giả. Những chi tiết đặc sắc còn tạo hứng thú cho người đọc trong quá trình tiếp nhận tác phẩm. 0,75
0,75
1,00
3. Chọn và phân tích chi tiết trong tác phẩm 6,00
- Chọn được chi tiết tiêu biểu, chính xác, hợp lí.
- Lược thuật sự xuất hiện của chi tiết.
- Phân tích ý nghĩa của chi tiết để làm nổi bật vai trò của nó trong việc thể hiện ý đồ, tư tưởng của tác giả và tạo nên tính nghệ thuật của tác phẩm. 0,50
1,00
4,50
4. Đánh giá, mở rộng 1,00
- Đó là nhận định đúng đắn bởi đã nêu lên những nét đặc trưng độc đáo của chi tiết - một yếu tố quan trọng làm nên sức hấp dẫn của tác phẩm.
- Đây cũng là một gợi ý cho bạn đọc về cách đánh giá, nhận diện những chi tiết độc đáo, sáng tạo trong một tác phẩm đặc sắc; đặt ra thử thách đối với các tác giả khi cầm bút sáng tác.
- Nhấn mạnh, đề cao sức mạnh của chi tiết khi xây dựng tác phẩm văn chương -> “chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn”. 0,25
0,25
0,50
Click here to claim your Sponsored Listing.
Location
Category
Contact the school
Website
Address
Gia Lai