07/08/2024
CHUYÊN ĐỀ TRUYỆN NGẮN
I. LÍ THUYẾT
Truyện ngắn (TN) là hình thức tự sự cỡ nhỏ, nội dung thể loại Truyên ngắn bao gồm hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự, sử thi… nhưng cái độc đáo của nó là ngắn. Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ.TN có một số đặc điểm cơ bản sau:
1. Về dung lượng:
TN có dung lượng nhỏ, ngắn gọn mà cô đúc nên có sức ám ảnh lớn. Nó tập trung vào một hoặc một vài biến cố trong một không gian, thời gian nhất định, tạo ra ấn tượng mạnh mẽ và sự liên tưởng cho người đọc. Ví dụ (VD): TN Vi hành của Nguyễn Ái Quốc dịch ra tiếng Việt chỉ hai trang sách, được viết dưới hình thức một bức thư kể về một sự kiện là tác giả bị nhận nhầm là Khải Định. Cốt truyện không có gì, sự kiện đơn giản, dung lượng rất ngắn nhưng truyện lại có sức công phá lớn, tác động mạnh mẽ vào ý thức, khêu gợi trí tưởng tượng của người đọc để đặt ra vấn đề chính trị - xã hội, vấn đề dân tộc, vấn đề đấu tranh….
2. Về đề tài:
TN đề cập đến mọi đề tài phong phú, đa dạng, chạm đến mọi ngóc ngách đời sống con người. Trên cùng một đề tài, mỗi nhà văn lại có cách khai thác khác nhau, đem lại sắc thái riêng cho tác phẩm của mình
VD: Cùng viết về đề tài người nông dân trước Cách mạng tháng Tám, Ngô Tất Tố đề cập đến sự bần cùng hóa, phá sản về vật chất của họ; còn ngòi bút Nam Cao lại xoáy vào sự tha hóa về nhân cách, phá sản về tinh thần ở những con người ấy.
3. Về kết cấu:
Tuy dung lượng nhỏ nhưng TN có thể có những kết cấu linh hoạt. Kết cấu TN không gồm không gian, thời gian nhiều tầng bậc, nhiều tuyến, mà được tổ chức theo kiểu tương phản, liên tưởng. TN có thể có các kiểu kết cấu sau đây:
- Kết cấu vòng tròn (đầu cuối tương ứng): CHÍ PHÈO (Nam Cao)
- Kết cấu theo trục thời gian: Truyện được kể theo thời gian, theo diễn biến của dòng sự kiện: Chữ người tử tù(Nguyễn Tuân)
- Kết cấu tâm lý: Truyện được kể men theo dòng tâm lý nhân vật (NV), làm sáng rõ nội tâm NV và tạo sức hấp dẫn cho câu chuyện: Đời thừa (Nam Cao)
- Kết cấu đồng hiện: Nhà văn miêu tả sự kiện, quan sát tình huống ở các địa điểm khác nhau trong cùng một thời điểm. Kiểu kết cấu này đem lại khả năng mở rộng dung lượng cho tác phẩm: Bức tranh (Nguyễn Minh Châu).
- Kết cấu trùng phức (kết cấu truyện lồng trong truyện): Người kể chuyện đứng ra ngoài, đóng vai trò là đạo diễn để tổ chức diễn biến câu chuyện qua lời kể, qua đó hoàn thiện chân dung NV: Mảnh trăng cuối rừng (Nguyễn Minh Châu).
- Kết cấu mở: Truyện kết thúc nhưng cái kết còn để ngỏ, mở ra những khả năng liên tưởng rộng lớn: CHÍ PHÈO (Nam Cao) Vợ nhặt (Kim Lân)
4. Về cốt truyện:
Cốt truyện là một đặc trưng thi pháp của TN vì nó là kết quả của sự sáng tạo của nhà văn, là một phương thức khắc họa số phận và tính cách NV, qua đó thể hiện đời sống một cách chân thực.
- Dựa vào cốt truyện, có thể chia làm hai loại truyện:
+ Truyện không có cốt truyện (hoặc cốt truyện rất mờ nhạt): do chủ ý nghệ thuật của nhà văn chỉ nhằm thể hiện diễn biến tâm trạng nhân vật trong mối liên hệ với hoàn cảnh. Truyện chỉ có những ý tưởng, không có sự kiện gay cấn, thời gian cụ thể, thậm chí không có đầu đuôi (TN Thạch Lam).
+ TN có cốt truyện rất chú ý xây dựng những tình tiết, sự kiện bộc lộ tính cách của nhân vật và thúc đẩy hướng phát triển, vận động của mạch truyện. Bản thân cốt truyện là hệ thống các sự kiện, được chia theo lớp lang từ đầu đến cuối truyện. Các sự kiện càng gay cấn, nổi bật càng tạo kịch tính, sức hấp dẫn cho truyện (CHÍ PHÈO - Nam Cao)
5. Về nhân vật:
- NV là linh hồn của tác phẩm, là người phát ngôn cho tư tưởng của nhà văn. Do đó, xây dựng NV là điểm quan trọng của TN.
- NV TN ít hơn tiểu thuyết và thường bắt buộc phải được xây dựng theo nguyên tắc điển hình hóa. NV phải được đặt trong một hoàn cảnh cụ thể, vừa mang tính chung phổ quát vừa mang tính riêng độc đáo. Trong TN, NV là một mảnh nhỏ của thế giới, là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người, phát ngôn trực tiếp hoặc gián tiếp cho tư tưởng nhà văn.
- Ngoài ra, còn có loại NV tư tưởng.
6. Về điểm nhìn, người kể chuyện và phương thức kể chuyện::
* Điểm nhìn:
- Điểm nhìn bên trong.
- Điểm nhìn bên ngoài.
- Điểm nhìn toàn tri/ hạn tri.
* Người kể chuyện:
- Người kể chuyện tường minh (xưng Tôi)
- Người kể chuyện hàm ẩn
* Phương thức kể chuyện:
- Trong TN, người ta thường dùng nhiều cách kể chuyện. Các nhà văn thường thay đổi cách kể và có thể có các hình thức kể hỗn hợp. Có hai hình thức phổ biến là:
+ Tường thuật lại quá trình, diễn biến sự việc: Vợ nhặt (Kim Lân)
+ Miêu tả lại diễn biến sự kiện: Vi hành (Nguyễn Ái Quốc)
- Để nhận thức phương thức kể chuyện, người ta căn cứ vào các tình huống kể chuyện:
+ Tình huống khách quan: Tác giả đứng bên ngoài kể lại điều xảy ra: Chiếc lá cuối cùng (Ohenry)
+ Tình huống chủ quan: Tác giả hoặc người kể chuyện tự đóng vai trò là nhân vật chính của tác phẩm; kể lại những sự kiện, hành động, việc làm, ý nghĩa hoặc mối quan hệ người – người, hoặc phân tích, bình luận chung.
Cũng cần chú ý đến quan điểm của người trần thuật trong TN. Quan điểm đó thể hiện trong cách kể, nhưng cũng có khi thái độ bề mặt qua ngôn ngữ lại đánh lừa ta (CHÍ PHÈO – Nam Cao). TN cũng thường có viễn cảnh – khung cảnh được mở ra trong tương lai mà qua tác phẩm người đọc phát hiện hoặc cảm nhận được.
7. Về cách xây dựng tình huống:
- Tình huống là thời điểm, khoảnh khắc nhất định trong tác phẩm, ở đó tập trung điểm nút chủ đạo trong tác phẩm của nhà văn. Tạo tình huống là một đặc điểm thi pháp TN. Do dung lượng nhỏ, TN buộc phải tìm đến một tình huống – tức là một khoảnh khắc đặc biệt trong đời sống – để thể hiện tập trung mối quan hệ con người, bật sáng tư tưởng của bản thân tác giả. TN có thể có một hay nhiều tình huống, tạo thành một hệ thống.
- Các kiểu tình huống truyện tiêu biểu là: tình huống nhận thức, tình huống tâm trạng, tình huống hành động.
-> Tình huống TN thường rất độc đáo, ấn tượng, tạo hiệu quả thẩm mĩ cao.
8. Về chi tiết nghệ thuật:
- Đây là một yếu tố giữ vai trò trọng yếu trong tác phẩm tự sự. TN có thể thiếu cốt truyện nhưng không thể thiếu chi tiết nghệ thuật.
- Chi tiết trong TN hay tiểu thuyết đều nhằm bộc lộ tính cách, tâm tư NV, đan dệt nên các tình huống truyện, đều cùng có hai loại chi tiết: Chi tiết trung tâm và chi tiết phụ trợ. Nhưng chi tiết ở TN thường ẩn chứa dung lượng phản ánh rất lớn. Cũng có nghĩa là tính cô đọng, hàm súc và tượng trưng của chi tiết cao. Một chi tiết nổi bật có thể gợi cho người đọc liên tưởng đến cả một trạng thái nhân sinh xã hội, suy rộng ra bề sâu, bề xa của nội dung phản ánh.
9. Về ngôn ngữ:
- Ngôn ngữ TN rất chọn lọc, cô đúc.
- Ngôn ngữ TN hiện đại còn có các tính chất: tính biểu cảm, tính chính xác, tính hình tượng, tính hệ thống, tính đa thanh, tính đối thoại.
- Đặc điểm trần thuật của TN: Tính chấm phá. Do không phản ánh cả một quá trình cuộc sống trong không gian rộng, thời gian dài như ở tiểu thuyết nên TN thiên về lối hành văn khơi gợi hơn là miêu tả tỉ mỉ, câu văn nhiều ẩn ý, tạo chiều sâu cho tác phẩm.
LUYỆN ĐỀ
Đề bài 1:
Bàn về truyên ngắn có ý kiến cho rằng:“Qua một nỗi lòng, một cảnh ngộ, một sự việc của nhân vật, nhà văn muốn đối thoại với bạn đọc một vấn đề nhân sinh”.
Phân tích truyện ngắn CHÍ PHÈO để làm sáng tỏ ý kiến trên.
Hướng dẫn làm bài
I. Mở bài:
- Giới thiệu những hiểu biết về tác giả Nam Cao: con người, tài năng, phong cách, đóng góp và vị trí trên văn đàn đặc biệt trong trào lưu hiện thực phê phán.
- “Chí Phèo” là bức tranh bi thảm đầy đau thương của kiếp sống đói nghèo nhưng lương thiện, bị xô đẩy, tha hóa rất đáng cảm thương của những người nông dân.
- Dẫn nhận định về tác phẩm vào: "Qua một nỗi lòng, một cảnh ngộ, một sự việc của nhân vật, nhà văn muốn đối thoại với các bạn một vấn đề nhân sinh".
II. Thân bài:
1. Giải thích nhận định
- Văn học lấy con người và cuộc sống làm đối tượng nhận thức, phản ánh. Qua truyện ngắn, thông qua nỗi lòng, một cảnh ngộ, một sự việc của nhân vật, nhà văn muốn phát hiện, khắc họa một hiện tượng, một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hoặc trong đời sống tâm hồn con người.
- Dung lượng truyện ngắn ít nhưng chứa đựng ý nghĩa sâu xa về cuộc sống, nhà văn còn phải gửi gắm những quan niệm, suy nghĩ khát vọng cuộc sống.
- Nhà văn phải tạo những tình huống chứa đựng nhiều ý nghĩ, hành văn hàm xúc, cô đọng, có chi tiết nghệ thuật sâu sắc.
2. Phân tích truyện ngắn "Chí Phèo":
- Phân tích cảnh ngộ, nỗi lòng của Chí Phèo: Vì sao phải vào tù, ra tù? Khi gặp Thị Nở, Chí Phèo đã thức tỉnh, cảm nhận được cuộc sống, ý thức cuộc đời mình, cảm động vì Thị Nở cho ăn cháo hành.
- Ước mơ trở lại cuộc sống lương thiện, biểu hiện rõ nhất nhân tính của Chí Phèo.
- Thất vọng và đau đớn khi bị Thị Nở từ chối.
- Cuối cùng phẫn uất và tuyệt vọng, tìm đến rượu, càng uống càng tỉnh, nhận rõ tình thế bi kịch của mình, Chí Phèo đã xách dao đến nhà Bá Kiến, giết hắn và tự sát.
- Từ cảnh ngộ, nỗi lòng Chí Phèo tác giả muốn nói:
+ Khẳng định ca ngợi, niềm tin mãnh liệt vào bản chất lương thiện của người nông dân.
+ Đồng cảm với bi kịch của nhân vật.
+ Tố cáo xã hội phong kiến tàn bạo, hủy họai nhân phẩm và tước đoạt quyền sống con người, đẩy họ đến cái chết.
+ Cái chết của Chí Phèo thể hiện xung đột giai cấp. Cảm quan hiện thực nhạy bén của Nam Cao giải quyết vấn đề bằng những biên pháp quyết liệt.
+ Tác giả mong ước có một xã hội tốt đẹp.
- Tài năng truyện ngắn bậc thầy của Nam Cao trong việc xây dựng tâm lí nhân vật, nghệ thuật trần thuật linh hoạt, ngôn ngữ độc thoại nội tâm, cốt truyện đơn giản nhưng đặt vấn đề quan trọng sâu xa, có ý nghĩa về cuộc sống và con người, đa giọng điệu, buồn thương, chua chát, thương cảm.
III. Kết bài:
- “Chí Phèo đúng là hiện thân đầy đủ nhất của những nỗi khốn khổ, tủi nhục của người của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám
- Hình ảnh người nông dân bị chà đạp, bị hủy hoại từ nhân hình đến nhân tính, được thể hiện bằng nghệ thuật kể chuyện sắc sảo.
- Từ cuộc đời Chí Phèo, nhà văn đã phản ánh những hiện thực của xã hội nhằm tố cáo mạnh mẽ sự tàn nhẫn, bất công của xã hội ấy.
- Khẳng định lại câu nói: “Qua một nỗi lòng, một cảnh ngộ, một sự việc của nhân vật, nhà văn muốn đối thoại với các bạn một vấn đề nhân sinh”, đã thể hiện rõ qua “Chí Phèo”
Đề bài 2:
“Nhà văn tồn tại ở trên đời trước hết để làm công việc giống như kẻ nâng giấc cho những người cùng đường tuyệt lộ bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn đến chân tường; để bênh vực cho những người không còn ai bênh vực”.
(Nguyễn Minh Châu)
Anh/chị hiểu như thế nào về nhận định trên? Hãy làm sáng tỏ bằng việc phân tích mối quan hệ Bá Kiến – CHÍ PHÈO – Thị Nở trong tác phẩm CHÍ PHÈO của Nam Cao
Hướng dẫn làm bài
1. Giải thích nhận đinh
- Trước hết: điều kiện cần thiết nhất, quan trọng nhất
- Những người cùng đường tuyệt lộ bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn đến chân tường: Những con người, những thân phận đau khổ, bế tắc, tuyệt vọng….
- Nâng giấc: cảm thông, chia sẻ, an ủi, bênh vực…
=> Nhà văn là người an ủi, động viên, chia sẻ, nâng đỡ con người, đặc biệt là những con người đau khổ. Đồng thời nhà văn phải biết bênh vực, đấu tranh chống cái xấu, cái ác để bảo vệ quyền sống, nhân phẩm của con người, nhất là những con người không còn được ai che chở.
2. Khẳng định ý kiến:
- Xuất phát từ mục đích của sáng tạo nghệ thuật, từ thiên chức của người nghệ sĩ: Nhà văn chân chính là người đến với văn chương từ những điều trông thấy đau đớn lòng về cuộc đời.
- Xuất phát từ đặc trưng của văn học: VH học phản ánh cuộc sống bao giờcũng gắn với việc thể hiện tư tưởng, tình cảm, khát vọng của nhà văn về một thế giới tốt đẹp hơn.
Xuất phát từ vai trò, chức năng của văn học đối với con người; TPVH đích thực bao giờ cũng đồng hành với con người trong cuộc sống; văn chương có thể chia sẻ những mất mát, đau thương, những ngọt ngàovới con người, giúp con người sống nhân ái, mạnh mẽ hơn.
3. Phân tích, chứng minh
- Ý nghĩa của việc xây dựng mqh giữa nhật vật CHÍ PHÈO và những nhân vật khác: Mỗi nhân vật gắn với một bước ngoặt lớn trong c/đ CHÍ PHÈO. Nó có ý nghĩa quan trọng trong việc khắc hoạ tính cách và số phận nhân vật. Từ đó thể hiện tư tưởng nhân đạo của nhà văn.
+ Bá Kiến – CHÍ PHÈO : Đây là mâu thuẫn cơ bản giữa giai cấp thống trị - địa chủ với nông dân. Bá Kiến là người trực tiếp đẩy CHÍ PHÈO và tù, gián tiếp tiếp tay cho nhà tù thực dân biến CHÍ PHÈO thành con quỷ dữ, biến CHÍ PHÈO thành công cụ, tay sai đắc lực, huỷ hoại về nhân hình, huỷ diệt về nhân tính.. đẩy CHÍ PHÈO vào con đường bần cùng, lưu manh hoá…
+ CHÍ PHÈO – Thị Nở: Đây là “điểm sáng” về tình người trong tác phẩm, có ý nghĩa quan trọng trong c/đ CHÍ PHÈO : thức tỉnh bản tính lương thiện trong con người Chí.
- Tư tưởng nhân đạo của Nam Cao trong việc xây dựng mqh giữa các nhân vật
+ Tố cáo XH TD nửa PK đã bóp nghẹt quyền sống của con người, đẩy con người vào con đường lưu manh hoá.
+ Phát hiện và khẳng định phẩm chất tốt đẹp của con người ngay cả khi họ bị huỷ diệt cả nhân hình lẫn nhân tính
+ Trân trọng, đề cao những khát khao hạnh phúc đời thường mà cao đẹp của con người.
Đề bài 3:
“Nhà văn sáng tạo nhân vật để gửi gắm tư tưởng, tình cảm và quan niệm của mình về cuộc đời”.
Hãy giải thích và làm sáng tỏ nhận định trên bằng việc phân tích một nhân vật trong truyện ngắn thuộc chương trình Ngữ văn 11.
Hướng dẫn làm bài
1. Giải thích: Vai trò, ý nghĩa của nhân vật trong truyện ngắn: góp phần thể hiện tư tưởng, tình cảm và quan niệm của nhà văn về cuộc đời.
- Tư tưởng: Nhận thức, lí giải và thái độ của nhà văn với đối tượng, những vấn đề nhân sinh đặt ra trong tác phẩm.
- Tình cảm (thẩm mĩ): Những rung động, cảm xúc đối với thực tại, bộc lộ toàn bộ thế giới tinh thần cũng như cá tính và kinh nghiệm sống của nhà văn.
- Quan niệm (nghệ thuật về cuộc đời): Nguyên tắc tìm hiểu, cắt nghĩa thế giới và con người, thể hiện ở điểm nhìn nghệ thuật, ở chủ đề sáng tác, ở kiểu nhân vật và mqh giữa các nhân vật, cách xử lí các biến cố …của nhà văn.
2. Phân tích nhân vật:
- Chọn được nhân vật đặc sắc
- Phân tích qua các khía cạnh;ngoại hình, nội tâm, ngôn ngữ, hành động, biến cố truyện liên quan đến nhân vật – mqh giữa nhân vật đó với các nhân vật khác trong truyện.
- Từ đó nêu bật tư tưởng, tình cảm, quan niệm của nhà văn về c/đ được thể hiện qua nhân vật vừa phân tích.
Đề bài 4: Câu 2: (12,0 điểm).
Bàn về tác phẩm văn chương, có ý kiến cho rằng: “Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn”.
Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy chọn và phân tích một số tác phẩm văn học trong chương trình Ngữ văn THPT để làm rõ ý kiến trên.
Ý Nội dung Điểm
1. Giới thiệu được vấn đề nghị luận 1,0
2. Giải thích ý kiến 1,5
- Chi tiết (ở đây là chi tiết nghệ thuật) -> những hiện thực đời sống được nhà văn tái hiện trong tác phẩm, là đơn vị cấu tạo nên tác phẩm, mang sức chứa lớn về nội dung và nghệ thuật. Tuỳ theo sự thể hiện cụ thể mà chi tiết có khả năng giải thích, tái hiện, biểu hiện…khiến hình tượng nghệ thuật trở nên cụ thể, gợi cảm và sống động, khiến ý đồ tư tưởng của nhà văn hiện hình rõ rệt, trở thành tiêu điểm, điểm hội tụ tư tưởng của tác giả trong tác phẩm.
- Những chi tiết được chọn lọc, gửi gắm mọi tư tưởng, tình cảm của nhà văn, là sự dồn nén những điều mà nhà văn muốn nói .
- Nhà văn lớn: nhà văn có nhiều đóng góp về giá trị nội dung, tư tưởng cũng như nghệ thuật qua những sáng tác của mình. 0,5
0,5
0,5
3 Bàn luận về ý kiến 2,5
- Tầm vóc tư tưởng, tài năng nghệ thuật của nhà văn bộc lộ ngay trong chính cách nhà văn lựa chọn và sử dụng chi tiết trong tác phẩm (dẫn chứng minh họa).
- Một chi tiết dù nhỏ cũng là kết quả lựa chọn, sắp xếp và mô tả của nhà văn, gắn với quá trình tư duy và sáng tạo nghệ thuật của nhà văn khi hình thành một tác phẩm. Nó xuất hiện ở vị trí nào trong mạch vận động của tác phẩm; nó được thể hiện ra sao hoàn toàn phụ thuộc vào con mắt nhìn, khả năng thấu hiểu đời sống, thấu hiểu con người của nhà văn.
- Một chi tiết dù nhỏ song đặt trong mạch vận động của tác phẩm vẫn có vai trò riêng của nó:
+ Với nhà văn: thể hiện ý đồ, tư tưởng một cách thuyết phục, tạo chiều sâu cho tác phẩm.
+ Với người đọc: quá trình đọc tác phẩm là sự giải mã các chi tiết trong tác phẩm (liên hệ với ý kiến của Nguyễn Minh Châu coi chi tiết là lát cắt trên thân cây để thấy cả đời thảo mộc). Một chi tiết dù nhỏ cũng có thể mang chứa thông điệp giúp người đọc thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm, nắm bắt thông điệp của tác giả. Những chi tiết đặc sắc còn tạo hứng thú cho người đọc trong quá trình tiếp nhận tác phẩm. 0,75
0,75
1,00
3. Chọn và phân tích chi tiết trong tác phẩm 6,00
- Chọn được chi tiết tiêu biểu, chính xác, hợp lí.
- Lược thuật sự xuất hiện của chi tiết.
- Phân tích ý nghĩa của chi tiết để làm nổi bật vai trò của nó trong việc thể hiện ý đồ, tư tưởng của tác giả và tạo nên tính nghệ thuật của tác phẩm. 0,50
1,00
4,50
4. Đánh giá, mở rộng 1,00
- Đó là nhận định đúng đắn bởi đã nêu lên những nét đặc trưng độc đáo của chi tiết - một yếu tố quan trọng làm nên sức hấp dẫn của tác phẩm.
- Đây cũng là một gợi ý cho bạn đọc về cách đánh giá, nhận diện những chi tiết độc đáo, sáng tạo trong một tác phẩm đặc sắc; đặt ra thử thách đối với các tác giả khi cầm bút sáng tác.
- Nhấn mạnh, đề cao sức mạnh của chi tiết khi xây dựng tác phẩm văn chương -> “chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn”. 0,25
0,25
0,50