Thích Văn Học

Thích Văn Học Khơi Nguồn Cảm Hứng Văn Chương
(2)

Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 6/5 công bố số thí sinh dự thi tốt nghiệp THPT theo từng môn. Ngoài Toán và Ngữ văn là hai m...
06/05/2026

Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 6/5 công bố số thí sinh dự thi tốt nghiệp THPT theo từng môn. Ngoài Toán và Ngữ văn là hai môn bắt buộc, thí sinh có xu hướng lựa chọn các môn thuộc khối khoa học xã hội, tương tự những năm gần đây.

Lịch sử tiếp tục dẫn đầu với hơn 570.000 em chọn. Đây là môn bắt buộc trong chương trình giáo dục phổ thông mới (năm 2018). Kế đến là Địa lý với gần 449.000, giảm khoảng 46.000 so với năm ngoái. Hai môn nhiều thí sinh đăng ký tiếp theo là Vật lý (gần 390.000) và Ngoại ngữ (hơn 347.000). Trong đó, số thí sinh chọn thi Ngoại ngữ (chủ yếu là tiếng Anh) giảm.
Nguồn báo VnExpress

NHÂN VẬT VĂN HỌC VÀ VAI TRÒ CỦA NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM--------------Nhân vật văn học và vai trò của nhân vật.1.1. Nhân ...
05/04/2026

NHÂN VẬT VĂN HỌC VÀ VAI TRÒ CỦA NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM

--------------

Nhân vật văn học và vai trò của nhân vật.

1.1. Nhân vật văn học.

Ðối tượng chung của văn học là cuộc đời nhưng trong đó con người luôn giữ vị trí trung tâm. Những sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội, những bức tranh thiên nhiên, những lời bình luận…đều góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng cho tác phẩm nhưng cái quyết định chất lượng tác phẩm văn học chính là việc xây dựng nhân vật. Ðọc một tác phẩm, cái đọng lại sâu sắc nhất trong tâm hồn người đọc thường là số phận, tình cảm, cảm xúc, suy tư của những con người được nhà văn thể hiện. Vì vậy, Tô Hoài đã có lí khi cho rằng “Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác”

“Văn học là nhân học” (M. Gorki). Văn học bao giờ cũng thể hiện cuộc sống của con người. Nói đến nhân vật văn học là nói đến con người được nhà văn miêu tả thể hiện trong tác phẩm, bằng phương tiện văn học. Nhân vật văn học có khi là những con người có họ tên như: Từ Hải, Thúy Kiều, Lục Vân Tiên, Chị Dậu, anh Pha, … Khi là những người không họ không tên như: tên lính lệ, người hầu gái, một số nhân vật xưng “tôi” trong các truyện ngắn, tiểu thuyết hiện đại, như mình – ta trong ca dao. Khái niệm con người này cũng cần được hiểu một cách rộng rãi trên hai phương diện: số lượng và chất lượng. Về số lượng, hầu hết các tác phẩm từ văn học dân gian đến văn học hiện đại đều tập trung miêu tả số phận của con người. Về chất lượng, dù nhà văn miêu tả thần linh, ma quỉ, đồ vật, … nhưng lại gán cho nó những phẩm chất của con người. Nhân vật trong văn học có khi là một loài vật, một đồ vật hoặc một hiện tượng nào đó của thế giới tự nhiên, mang ý nghĩa biểu trưng cho số phận, cho tư tưởng, tình cảm của con người. Có thể nói nhân vật là phương tiện để phản ánh đời sống, khái quát hiện thực.

Miêu tả con người, chính là việc xây dựng nhân vật của nhà văn. Ở đây, cần chú ý rằng nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó không là sự sao chép đầy mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách. Nói đến văn học thì không thể thiếu nhân vật, vì đó chính là phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tượng.

Nhà văn sáng tạo nhân vật để thể hiện nhận thức của mình về một cá nhân nào đó, về một loại người nào đó, về một vấn đề nào đó của hiện thực. Những con người này có thể được miêu tả kỹ hay sơ lược, sinh động hay không rõ nét, xuất hiện một hay nhiều lần, thường xuyên hay từng lúc, giữ vai trò quan trọng nhiều, ít hoặc không ảnh hưởng nhiều lắm đối với tác phẩm.

Có thể nói, “nhân vật là phương tiện để phản ánh đời sống, khái quát hiện thực. Chức năng của nhân vật là khái quát những quy luật của cuộc sống và của con người, thể hiện những hiểu biết, những ước mơ, kì vọng về đời sống”. Các vị thần như thần Trụ trời, thần Gió, thần Mưa thể hiện nhận thức của người nguyên thuỷ về sức mạnh của tự nhiên mà con người chưa giải thích được. Truyền thuyết về Lạc Long Quân và Âu Cơ thể hiện niềm tự hào về nòi giống dân tộc Việt. Nhân vật lí tưởng của văn học cổ Hi – La là những anh hùng chưa có ý thức về đời sống cá nhân, tìm lẽ sống trong việc phục vụ quyền lợi bộ tộc, thành bang, quốc gia, đó là những Asin, Hécto trong Iliát,

Uylítxơ trong Ôđixê, Prômêtê trong Prômêtê bị xiềng. Nhà văn sáng tạo nên nhân vật là để thể hiện những cá nhân xã hội nhất định và quan niệm về các cá nhân đó.

Nhân vật văn học được tạo nên bởi nhiều thành tố gồm hạt nhân tinh thần của cá nhân như: ý chí, khát vọng, lí tưởng, các biểu hiện của thế giới cảm xúc, các lợi ích đời sống, các hình thái ý thức, các hành động trong quá trình sống. Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật có những dấu hiệu để nhận biết như tên gọi, tiểu sử, nghề nghiệp, những đặc điểm riêng, … những dấu hiệu đó thường được giới thiệu ngay từ đầu và thông thường, sự phát triển về sau của nhân vật gắn bó mật thiết với những giới thiệu ban đầu đó. Việc giới thiệu Tràng trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân dường như cũng báo trước về số phận của nhân vật sau này: “Hắn vừa đi vừa tủm tỉm cười, hai con mắt nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho bộ mặt thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ gì vừa lí thú, vừa dữ tợn. Hắn có tật vừa đi vừa nói. Hắn lảm nhảm than thở những điều hắn nghĩ”.

Gắn liền với những suy nghĩ, nói năng, hành động trong quá trình phát triển về sau của nhân vật. Nhân vật văn học không giống với các nhân vật thuộc các loại hình nghệ thuật khác. Ở đây, nhân vật văn học được thể hiện bằng chất liệu riêng là ngôn từ. Vì vậy, nhân vật văn học đòi hỏi người đọc phải vận dụng trí tưởng tượng, liên tưởng để dựng lại một con người hoàn chỉnh trong tất cả các mối quan hệ của nó.

1.2. Vai trò và chức năng của nhân vật trong tác phẩm.

Nhân vật văn học có chức năng khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống và thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời. Khi xây dựng nhân vật, nhà văn có mục đích gán liền nó với những vấn đề mà nhà văn muốn đề cập đến trong tác phẩm. Vì vậy, tìm hiểu nhân vật trong tác phẩm, bên cạnh việc xác định những nét tính cách của nó, cần nhận ra những vấn đề của hiện thực và quan niệm của nhà văn mà nhân vật muốn thể hiện. Chẳng hạn, khi nhắc đến một nhân vật, nhất là các nhân vật chính, người ta thường nghĩ đến các vấn đề gắn liền với nhân vật đó. Gắn liền với Kiều là thân phận của người phụ nữ có tài sắc trong xã hội cũ. Gắn liền với Kim Trọng là vấn đề tình yêu và ước mơ vươn tới hạnh phúc. Gắn liền với Từ Hải là vấn đề đấu tranh để thực hiện khát vọng tự do, công lí…Trong Chí Phèo của Nam Cao, nhân vật Chí Phèo thể hiện quá trình lưu manh hóa của một bộ phận nông dân trong xã hội thực dân nửa phong kiên. Ðằng sau nhiều nhân vật trong truyện cổ tích là vấn đề đấu tranh giữa thiện và ác, tốt và xấu, giàu và nghèo, những ước mơ tốt đẹp của con người…

Nhân vật là phương tiện để phản ánh đời sống, khái quát hiện thực. Vai trò của nhân vật là khái quát những quy luật của cuộc sống con người, thể hiện những hiểu biết, những ước ao và kì vọng về con người. Mặt khác, nhân vật là phương tiện khái quát tính cách, số phận con người và các quan niệm về chúng. Ví dụ, nhân vật người anh trong truyện cổ tích Cây khế là biểu hiện của loại người tham lam trong xã hội. Nhân vật còn là phương tiện thể hiện tư tưởng, tình cảm của nhà văn. Nó thể hiện quan niệm nghệ thuật và lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người. Vì thế, nhân vật luôn luôn gắn chặt với chủ đề của tác phẩm.

Thông qua việc xây dựng nhân vật, nhà văn bộc lộ tư tưởng, tình cảm của mình đối với từng loại người trong xã hội, đồng thời dẫn dắt người đọc đi vào những thế giới riêng với đủ mọi khát vọng cùng với cảm xúc yêu thương hay lòng căm giận. Nhân vật Hămlét của Sêchxpia tiêu biểu cho con người thời đại Phục hưng có lí tưởng nhân văn cao đẹp bị bế tắc và khủng hoảng khi phải đối diện với những cách sống, phản trắc, cơ hội, tàn nhẫn, con đẻ của chủ nghĩa tư bản ở thời kì tích luỹ ban đầu. Qua việc mô tả các nhân vật như bà Phó Đoan, cụ Cố Hồng trong tiểu thuyết Số đỏ, nhà văn Vũ Trọng Phụng đã bộc lộ niềm căm ghét lối sống suy thoái về đạo đức đến cùng cực của giới thượng lưu trong xã hội thực dân phong kiến.

Nhân vật văn học do nhà văn sáng tạo nên, trên cơ sở quan sát những con người trong cuộc sống. Chính vì vậy, khái niệm nhân vật văn học là một trong những khái niệm trung tâm để xem xét tài năng nghệ thuật của nhà văn. Sức sống của nhân vật được thể hiện qua việc mô tả ngoại hình, nội tâm, ngôn ngữ và hành động của nhân vật, những cái làm cho nhân vật có sức hấp dẫn kì lạ với người đọc. Có những nhân vật đã bất tử với thời gian: Hămlét, Võ Tòng, Lỗ Trí Thâm, Lâm Xung, Khổng Minh, Trương Phi, Quan Công, Tào Tháo, Lâm Đại Ngọc, Giả Bảo Ngọc, AQ, Thánh Gióng, Sơn Tinh, Thúy Kiều, Lục Vân Tiên, …Sức hấp dẫn đối với người đọc của một nhân vật có nhiều lí do. Nhưng một lí do cơ bản là họ rất độc đáo, không hề giống ai như Hêghen từng nói. Chí Phèo được nhớ mãi bởi những lời lẽ chửi rủa độc đáo, bởi cách đến nhà Bá Kiến xin được đi ở tù lại, bởi cách trêu ghẹo Thị Nở.

Do nhân vật có chức năng khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống và thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời cho nên trong quá trình mô tả nhân vật, nhà văn có quyền lựa chọn những chi tiết, yếu tố mà họ cho là cần thiết bộc lộ được quan niệm của mình về con người và cuộc sống. Chính vì vậy, không nên đồng nhất nhân vật văn học với con người trong cuộc đời. Khi phân tích, nghiên cứu nhân vật, việc đối chiếu, so sánh có thể cần thiết để hiểu rõ thêm về nhân vật, nhất là những nhân vật có nguyên mẫu ngoài cuộc đời (anh hùng Núp trong Ðất nước đứng lên; Chị Sứ trong Hòn Ðất…) nhưng cũng cần luôn luôn nhớ rằng nhân vật văn học là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo gắn liền với ý đồ tư tưởng của nhà văn trong việc nêu lên những vấn đề của hiện thực cuộc sống. Betông Brecht cho rằng: “Các nhân vật của tác phẩm nghệ thuật không phải giản đơn là những bản dập của những con người sống mà là những hình tượng được khắc họa phù hợp với ý đồ tư tưởng của tác giả”.

Nhân vật văn học giữ vai trò quyết định nội dung tư tưởng trong tác phẩm, vì vậy nhà văn luôn dồn tâm huyết và tài năng của mình vào việc khắc hoạ nhân vật chính vì thế mà chúng ta thấy có nhiều người không nhớ tên tác giả nhưng rất nhớ tên các nhân vật tác giả tạo dựng nên. Do nhân vật có vai trò khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống và thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời, cho nên trong quá trình mô tả nhân vật, nhà văn có quyền lựa chọn những chi tiết, yếu tố mà họ cho là cần thiết bộc lộ được quan niệm của mình về con người và cuộc sống. Chính vì vây, không nên đồng nhất nhân vật văn học với con người trong cuộc đời. Khi phân tích, nghiên cứu nhân vật, việc đối chiếu, so sánh có thể cần thiết để hiểu rõ thêm về nhân vật, nhất là những nhân vật có nguyên mẫu cuộc đời.

Phân loại các loại hình nhân vật trong tác phẩm văn học.

Nhân vật văn học là một hiện tượng hết sức đa dạng. Những nhân vật được xây dựng thành công từ xưa đến nay bao giờ cũng là những sáng tạo độc đáo, không lặp lại. Tuy nhiên, xét về mặt nội dung tư tưởng, kết cấu, chất lượng miêu tả…, có thể thấy những hiện tượng lặp đi lặp lại tạo thành các loại nhân vật khác nhau. Để nắm bắt được íhế giới nhân vật đa dạng, phong phú, có thể tiến hành phân loại chúng ở nhiều góc độ khác nhau.

2.1. Từ góc độ nội dung, phẩm chất nhân vật: Có thể nói đến các loại nhân vật chính diện (nhân vật tích cực), nhân vật phản diện (nhân vật tiêu cực).

Nhân vật chính diện là nhân vật đại diện cho lực lượng chính nghĩa trong xã hội, cho cái thiện, cái tiến bộ. Khi nhân vật chính diện được xây dựng với những phẩm chất hoàn hảo, có tính chất tiêu biểu cho tinh hoa của một giai cấp, một dân tộc, một thời đại, mang những mầm mống lí tưởng trong cuộc sống…có thể được coi là nhân vật lí tưởns. ơí đây, cũng cần phân biệt nhân vật lí tưởng với nhân vật lí tưởng hóa. Loại nhân vật sau là loại nhân vật được tô hồng, hoàn toàn theo chủ quan của nhà văn. Ở đây, nhà văn đã vi phạm tính chân thực của sự thể hiện.

Ví dụ: Thạch Sanh (Truyện cổ tích Thạch Sanh), Thúy Kiều, Kim Trọng, Từ Hải,.. (truyện Kiều Nguyễn Du), Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Hớn Mih, Vương Tử Trực (Lục Vân Tiên Nguyễn Đình Chiểu),….

Nhân vật phản diện: là nhăn vật đại diện cho lực lượng phi nghĩa, cho cái ác, cái lạc hậu, phản động, cần bị lên án.Trong quá trình phát triển của văn học, trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, việc xây dựng các loại nhân vật trên cũng khác nhau.

Ví dụ: mẹ con Lý Thông, chằng tinh (truyện cổ tích Thạch Sanh), Tú bà, Mã Giám Sinh, Hoạn Thư, Hồ Tôn Hiến,… (truyện Kiều Nguyễn Du), Trịnh Hâm, Bùi Kiệm (Lục Vân Tiên Nguyễn Đình Chiểu),….

Nếu như trong thần thoại chưa có sự phân biệt rạch ròi giữa nhân vật chính diện và nhân vật phản diện thì trong truyện cổ tích, các truyện thơ Nôm, các nhân vật thường được xây dựng thành 2 tuyến rõ rệt có tính chất đối kháng quyết liệt. Ở đây, hễ là nhân vật chính diện thường tập trung những đức tính tốt đẹp còn nhân vật phản diện thì hoàn toàn ngược Iại.

Trong văn học hiện đại, nhiều khi khó phân biệt đâu là nhân vật chính diện, đâu là nhân vật phản diện. Việc miêu tả này phù hợp với quan niệm cho ràng hiện thực nói chung và con người nói riêng không phải chỉ mang một phẩm chất thẩm mĩ mà bao hàm nhiều phẩm chất thẩm mĩ khác nhau, cái nhìn của chủ thể đối với sự vật nhiều chiều, phức hợp chứ không đơn điệu…

Những nhân vật như Chí Phèo, Thị Nỡ, Tám Bính, Năm Sài Gòn…là những nhân vật có bản chất tốt nhưng đó không phải là phẩm chất duy nhất của nhân vật. Bakhtin cho rằng: cần phải thống nhất trong bản thân mình vừa các đặc điểm chính diện lẫn phản diện, vừa cái tầm thường lẫn cái cao cả, vừa cái buồn cười lẫn cái nghiêm túc. Chỉnh vì vậy, ở đây, sự phân biệt chính diện, phản diện chỉ có ý nghĩa tương đối.

Khi đặt nhân vật vào loại nào để nghiên cứu, cần phải xét khuynh hướng chủ đạo của nó đồng thời phải chú ý đến các khuynh hướng, phẩm chất thẩm mĩ khác nữa. Trong giai đoạn trước, những nhân vật như Kiều, Hoạn Thư, Thúc Sinh cũng được Nguyễn Du miêu tả ở nhiều góc độ, với nhiều phẩm chất khác nhau chứ không phải chỉ có một phẩm chất chính diện hoặc phản diện.

2.2. Từ góc độ kết cấu tác phẩm: Xem xét chức năng và vị trí của nhân vật trong tác phẩm, có thể chia thành các loại nhân vật: nhân vật chính, nhân vật trung tâm, nhân vật phụ.

Nhân vật chính là nhân vật giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức và triển khai tác phẩm. Ở đây, nhà văn thường tập trung miêu tả, khắc họa tỉ mỉ từ ngoại hình, nội tâm, quá trình phát triển tính cách của nhân vật. Qua nhân vật chính, nhà văn thường nêu lên những vấn đề và những mâu thuẫn cơ bản trong tác phẩm và từ đó giải quyết vấn đề, bộc lộ cảm hứng tư tưởng và tình điệu thấm mĩ.

Nhân vật chính có thể có nhiều hoặc ít tùy theo dung lượng hiện thực và những vấn đề đặt ra trong tác phẩm.

Với những tác phẩm lớn có nhiều nhân vật chính thì nhân vật chính quan trọng nhất xuyên suốt toàn bộ tác phẩm được gọi là nhân vật trung tâm. Trong không ít trường hợp, nhà văn dùng tên nhân vật trung tâm để đặt tên cho tác phẩm. Ví dụ: Đông Kisot của Cervantes, Anna Karenina của L.Tônxtôi, A.Q chính truyện của Lỗ Tấn, Truyện Kiều của Nguyễn Du…

Trừ một hoặc một số nhân vật chính, những nhân vật còn lại đều là những nhân vật phụ ở các cấp độ khác nhau. Đó là những nhăn vật giữ vị trí thứ yếu so với nhân vật chính trong quá trình diễn biến của cốt truyện, của việc thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Nhân vật phụ phải góp phần hỗ trợ, bổ sung cho nhân vật chính nhưng không được làm mờ nhạt nhân vật chính. Có nhiều nhân vật phụ vẫn được các nhà văn miêu tả đậm nét, có cuộc đời và tính cách riêng, cùng với những nhân vật khác tạo nên một bức tranh đời sống sinh động và hoàn chỉnh.

2.3. Từ góc độ thể loại của tác phẩm văn học: Có thể phân thành các nhân vật: nhân vật trữ tình, nhân vật tự sự và nhân vật kịch. Từ góc độ chất lượng miêu tả có thể phân thành các loại: nhân vật, nhân vật tính cách, nhân vật điển hình.

Nhân vật là những con người nói chung được miêu tả trong tác phẩm. Nhà văn có thể chỉ mới nêu lên một vài chi tiết về ngôn ngữ, cử chỉ, hành động…cũng có thể miêu tả kĩ và đậm nét.

Nhân vật tính cách là nhân vật được khắc họa vời một chiểu sâu bên trong. Nó như một điểm qui tụ mà từ đó có thể giải thích được mọi biểu hiện muôn màu, muôn vẻ sinh động bên ngoài của nhân vật.

Nhân vật điển hình là tính cách đã đạt đến độ thực sự sâu sắc, là sự thống nhắt giữa cái chung và cái riêng, cái khái quát và cái cá thể…Nói một cách nghiêm ngặt, thuật ngữ này chỉ được áp dụng từ chủ nghĩa hiện thực phê phán trở về sau.

Ngoài những loại nhân vật được trình bày, có thể nêu lên một số khái niệm khác về nhân vật qua các trào lưu văn học khác nhau. Chẳng hạn, khái niệm nhân vật bé nhỏ trong văn học hiện thực phê phán, khái niệm nhân vật con vật người trong chủ nghĩa tự nhiên, nhân vật phi nhân vật trong các trào lưu văn học hiện đại chủ nghĩa ở phương Tây…

Một số biện pháp xây dựng nhân vật.

Để xây dựng thành công một nhân vật văn học, nhà văn phải có khá năng đồng cảm, phát hiện những đặc điểm bền vững ở nhân vật. Điều này đòi hỏi nhà văn phải hiểu đời và hiểu người. Nhưng có một điều không kém phần quan trọng là nhà văn phải miêu tả, khắc họa nhân vật ấy sao cho có sức thuyết phục mạnh mẽ đối với người đọc. Đây là vấn đề liên quan trực tiếp đến những biện pháp xây dựng nhân vật trong tác phẩm văn học.

Có nhiều biện pháp khác nhau trong việc xây dựng nhân vật. Ở đây chỉ xét một số biện pháp chung, chủ yếu nhất: miêu tả nhân vật qua ngoại hình, nội tâm, ngôn ngữ và hành động.

3.1. Xây dựng nhân vật bằng cách khắc họa ngoại hình.

Ngoại hình là dáng vẻ bên ngoài của nhân vật bao gồm y phục, cử chỉ, tác phong, diện mạo…Đây là yếu tố quan trọng góp phần cá tính hóa nhân vật.

Nếu như văn học cổ thường xây dựng ngoại hình nhân vật với những chi tiết ước lệ, tượng trưng thì văn học hiện đại thường đòi hỏi những chi tiết chân thực và cụ thể sinh động. M.Gorki khuyên các nhà văn phải xây dựng nhân vật của mình đúng như những con người sống và phải tìm thấy, nêu lên, nhấn mạnh những nét riêng độc đáo, tiêu biểu trong dáng điệu, nét mặt, nụ cười, khóe mắt…của nhân vật.

Ngoại hình nhân vật cần góp phần biểu hiện nội tâm. Đây cũng chính là sự thống nhất giữa cái bên ngoài và cái bên trong của nhân vật. Vì vậy, khi tính cách, đời sống bên trong của nhân vật thay đổi, nhiều nét bên ngoài của nhân vật cũng thay đổi theo.

Khi xây dựng ngoại hình nhân vật, nhà văn cần thể hiện những nét riêng biệt, cụ thể của nhân vật nhưng qua đó, người đọc có thể nắm bắt được những đặc điểm chung của những người cùng nghề nghiệp, tầng lớp, thời đại…Những nhân vật thành công trong văn học từ xưa đến nay cho thấy nhà văn bao giờ cũng chọn lựa công phu những nét tiêu biểu nhất để khắc họa nhân vật.

3.2. Xây dựng nhân vật qua biểu hiện nội tâm.

Khái niệm nội tâm nhằm chỉ toàn bộ những biểu hiện thuộc cuộc sống bên trong của nhân vật. Đó là những tâm trạng, những suy nghĩ, những phản ứng tâm lí… của nhân vật trước những cảnh ngộ, những tình huống mà nó gặp phải trong cuộc đời.

Trong quá trình phát triển của lịch sử văn học, việc thể hiện nhân vật qua nội tâm ngày càng có vai trò quan trọng. Trong văn học Việt Nam, so với các giai đoạn trước. Truyện Kiều của Nguyễn Du đã đạt đuợc những thành tựu rực rở. Tác phẩm chứng tỏ Nguyễn Du có khả năng nắm bắt một cách tài tình những ý nghĩ, tình cảm sâu kín của nhân vật và diễn tả nó một cách sinh động.

Sự biểu hiện hợp lí và sâu sắc nội tâm góp phần rất lớn tạo nên sức sống của nhân vật. Nói như L.Tônxtôi: “Mục đích chính của nghệ thuật…là nói lên sự thật về tâm hồn con người, nói lên những điều bí ấn không thể diễn tả bằng ngôn ngữ thông thường được”. Để làm được điều đó, nhà văn phải hiểu sâu sắc cuộc sống và con người, nắm bắt được những biểu hiện và diễn biến dù nhỏ nhặt nhất đời sống bên trong của nhân vật.

3.3. Xây dựng nhân vật qua ngôn ngữ nhân vật.

Khái niệm ngôn ngữ nhân vật nhằm chỉ những lời nói của nhân vật trong tác phẩm. Lời nói đó phản ánh kinh nghiệm sống cá nhân, trình độ văn hóa, tư tưởng, tâm lí, thị hiếu…Đằng sau mỗi câu câu nói của mỗi con người đều có lịch sử riêng của nó. Sêđrin cho rằng: “Từ cửa miệng một người nói ra không hề có lấy một câu nào mà lại không thể truy nguyên đến cái hoàn cảnh đã khiến cho nó xuất hiện… Trong cuộc song, không thể có những hành động, những câu nói mà đàng sau lại không có một lịch sử riêng”. Quả là trong cuộc sống không thể có những người nói hoàn toàn giống nhau, vì vậy nhà văn cần phát hiện những nét riêng của ngôn ngữ nhân vật để thể hiện trong tác phẩm.

Trong các tác phẩm tự sự nói chung, lời nói của nhân vật thường chiếm tỉ lệ ít hom so với ngôn ngữ người kể chuyện nhưng lại có khả năng thể hiện sinh động và khêu gợi cho người đọc hình dung về bản chất, tính cách của nhân vật. Trong đoạn báo ân, báo oán của Truyện Kiều, mặc dù đang hồn lạc phách xiêu, Hoạn Thư vẫn biết lựa điều kêu ca:

Rằng: Tôi chút dạ đàn bà,

Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.

Nghĩ cho khi các viết kinh,

Đến khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.

Lòng riêng, riêng những kính yêu,

Chồng chung, ai dễ ai chiều cho ai.

Trót đà gây việc chông g*i,

Cũng nhờ lượng bể tha bài nào chăng?

Những lời nói trên hoàn toàn phù hợp với con người khôn ngoan, thông minh, lanh lợi, của Hoạn Thư. Trong tình thế nguy ngập, Hoạn Thư đã biết lựa lời mà nói, phân trần, khơi gợi lòng thương ở Thúy Kiều. Rõ thực, nàng rất hiểu Thúy Kiều, nói lời vừa đủ. Kết quả, Hoạn Thư đã đạt đến mục đích của mình.

Trong các trào lưu văn học hiện thực, việc cá thể hóa nhân vật qua ngôn ngữ nhân vật được nhà văn đặc biệt quan tâm và được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau. Chẳng hạn, nhà văn có thể để cho nhân vật lặp đi lặp lại nhiều lần một số từ hoặc một số câu mà nhân vật thích (Biết rồi, khổ lắm, nói mãi của cụ cố Hồng trong số đỏ của Vũ Trọng Phụng), có thể để nhân vật sử dụng một số từ địa phương, từ nước ngoài, cách phát âm sai…nhưng dù sử dụng cách nào, ngôn ngữ của nhân vật cũng phải có sự chọn lọc nhằm đạt đến sự thống nhất giữa cá thể hóa và khái quát hóa, đồng thời cùng phải phù hợp với hoàn cảnh và tính cách của nhân vật. Với dáng đi ngật ngưỡng và lời chửi của Chí Phèo rõ thực không lẫn với ai được. Nam Cao chỉ bằng khắc họa ngôn ngữ của nhân vật đã có thể làm toát rõ bản chất của nhân vật chứ không cần dụng công đến bất cứ phương diện nào khác.

3.4. Xây dựng nhân vật qua hành động của nhân vật.

Hành động nhân vật là khái niệm nhằm chỉ các việc làm của nhân vật. Đây là phương diện đặc biệt quan trọng để thể hiện tính cách nhân vật vì việc làm của mỗi người là căn cứ quan trọng có ý nghĩa quyết định nói lên tư cách, lí tưởng, phẩm chất cũng như những đặc điểm thuộc về thế giới tinh thần của người đó. Hơn nữa, trong các tác phẩm tự sự, tính cách nhân vật không phải ngay từ đầu đã được hình thành trọn vẹn. Chính hành động có tác dụng bộc lộ quá trình phát triển của tính cách và thúc đẩy sự diễn biến của hệ thống cốt truyện…Thông qua các mối quan hệ, sự đối xử giữa các nhân vật trong những tình huống khác nhau, người đọc có thể xác định được những đặc điểm, bản chất của nhân vật.

Thông thường, khi miêu tả hành động nhân vật, nhà văn thường kết hợp với những biểu hiện nội tâm tương ứng vì đằng sau mỗi hành động, bao giờ cũng có một tâm trạng hoặc một động cơ nào đó. Dùng nội tâm để lí giải hành động, sử dụng hành động để làm sáng tỏ nội tâm là một hiện tượng phổ biến trong việc miêu tả nhân vật.

Trên đây là những biện pháp chung nhất trong việc xây dựng nhân vật. Ngoài những biện pháp trên, nhà văn còn có thể khắc họa nhân vật thông qua việc đánh giá của các nhân vật khác trong tác phẩm, thông qua việc mô tả đồ dùng, nhà cửa, môi trường xã hội, thiên nhiên…mà nhân vật sinh sống. Ở những tác phẩm tự sự, ngôn ngữ người kể chuyện là một yếu tố rất quan trọng trong việc bộc lộ, miêu tả và đánh giá nhân vật.

Việc phân biệt các biện pháp xây dựng nhân vật như trên chỉ có tính chất tương đối. Trong thực tế, các biện pháp này nhiều khi không tách rời mà gắn bó chặt chẽ với nhau. Vì vậy, nhiều khi rất khó chỉ ra các biện pháp xây dựng nhân vật dưới một hình thức thuần túy và độc lập. Một điều cũng cần lưu ý là, nắm bắt các biện pháp trên đây cũng chỉ là nhằm mục đích hiểu một cách đầy đủ và chính xác về nhân vật trong tác phẩm văn học.

----------------
Sưu tầm

CHÍNH THỨC: LỊCH THI TỐT NGHIỆP THPT 2026 SỚM HƠN NỬA THÁNG
19/03/2026

CHÍNH THỨC:
LỊCH THI TỐT NGHIỆP THPT 2026
SỚM HƠN NỬA THÁNG

04/02/2026

🔥🔥Năm nay Bộ GD sẽ KHÔNG công bố đề thi minh họa tốt nghiệp THPT như các năm trước.
Cấu trúc, tỷ lệ, mức độ phân hóa không khác so với mọi năm.

29/01/2026

📌 10 điều mà 2k8 cần lưu ý:
1. Giới hạn số lượng nguyện vọng: Tối đa 10 nguyện vọng
2. Toán hoặc Văn là bắt buộc trong mọi tổ hợp: Tất cả tổ hợp xét tuyển (kể cả xét học bạ) bắt buộc phải có môn Toán hoặc Ngữ văn, chiếm trọng số tối thiểu 1/3 tổng điểm xét tuyển
3. Xét học bạ phải dùng: Kết quả 6 học kỳ (lớp 10, 11, 12) và thí sinh phải có tổng điểm thi tốt nghiệp 3 môn đạt tối thiểu 16 điểm
4. Quy đổi điểm Chứng chỉ Ngoại ngữ: Được quy đổi chứng chỉ thành điểm môn Ngoại ngữ (thang 10), nhưng trọng số tính điểm không được vượt quá 1/3 tổng điểm xét tuyển
5. Mỗi trường chỉ được dùng tối đa: 05 phương thức tuyển sinh (không tính tuyển thẳng)
6. Khống chế mức điểm tối đa và điểm cộng: Tổng điểm xét tuyển (kể cả điểm cộng và ưu tiên) không bao giờ vượt quá 30 điểm. Tổng điểm cộng (thưởng, khuyến khích) không vượt quá 10% thang điểm xét tuyển
7. Các ngành đào tạo giáo viên: Chỉ chấp nhận 3 nguyện vọng đầu
8. Công thức tính điểm ưu tiên "ngược": Với thí sinh đạt tổng điểm từ 22.5 trở lên, điểm ưu tiên sẽ giảm dần theo công thức tuyến tính để đảm bảo công bằng
9. Thời hạn sử dụng điểm ưu tiên khu vực: Thí sinh chỉ được hưởng điểm ưu tiên khu vực trong năm tốt nghiệp THPT và một năm kế tiếp, thi lại sau 2 năm sẽ mất điểm này
10. Cam kết nhập học và xét tuyển bổ sung: Thí sinh đã xác nhận nhập học không được xét tuyển nơi khác (trừ khi được Hiệu trường trường cũ cho phép). Xét tuyển bổ sung không được lấy điểm thấp hơn đợt 1

HƯỚNG DẪN VIẾT ĐOẠN VĂN PHÂN TÍCH NHÂN VẬT (200 CHỮ)---------------1/ Mở đoạn:Giới thiệu tác giả, tác phẩm  và nhân vật ...
19/01/2026

HƯỚNG DẪN VIẾT ĐOẠN VĂN PHÂN TÍCH NHÂN VẬT (200 CHỮ)

---------------

1/ Mở đoạn:

Giới thiệu tác giả, tác phẩm và nhân vật ( có thể nêu thêm ấn tượng, cảm xúc ban đầu)

2/ Thân đoạn:

– Phân tích và làm sáng tỏ các đặc điểm của nhân vật:

+ Nội dung: Đặc điểm 1,2,3,…của nhân vật + chứng minh qua sự việc, chi tiết, tình huống, hoàn cảnh, …trong tác phẩm

+ Nghệ thuật: Những đặc sắc về mặt nghệ thuật của tác phẩm

3/ Kết đoạn: Khái quát, đánh giá + nêu cảm xúc, mở rộng, nâng cao

HƯỚNG DẪN CHI TIẾT

1/ Mở đoạn:

Công thức: Giới thiệu tác giả, tác phẩm và nhân vật + chủ đề cụ thể ( nếu có) + có thể nêu thêm ấn tượng, cảm xúc ban đầu

Mẫu 1: Con người là điểm xuất phát, là đối tượng khai thác chủ yếu, là đích đến của văn học, chính vì thế, khi viết tác phẩm “A” , nhà văn B đã tập trung toàn bộ bút lực để khắc họa nhân vật ….với rất nhiều phẩm chất tốt đẹp và đã để lại trong lòng người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc.

Mẫu 2: Puskin đã từng viết: “ Linh hồn là ấn tượng của một tác phẩm. Cây cỏ sống được là nhờ ánh sáng, chim muông sống được là nhờ tiếng ca, một tác phẩm sống được là nhờ tiếng lòng của người cầm bút”. Và nhà văn ….đã để tiếng lòng mình cất lên, để linh hồn tác phẩm neo đậu mãi trong trái tim bạn đọc về hình tượng nhân vật ….( tên nhân vật) trong tác phẩm ….+ (đặc điểm nhân vật đó)

Mẫu 3: Nhà văn Tô Hoài đã từng nói rằng: “Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác”. Quả đúng như vậy, trong tác phẩm…., nhà văn ……đã thực sự thành công khi ghi lại dấu ấn đậm nét của mình trong trái tim độc giả bằng hình tượng nhân vật …..( tên nhân vật + đặc điểm)

* Các đặc điểm của nhân vật: nhân vật đó là người như thế nào? ( tốt bụng, biết yêu thương, đồng cảm, sẻ chia; lạc quan, yêu đời, yêu cuộc sống; tinh tế, yêu thiên nhiên, yêu động vật, yêu gia đình, quê hương, ; hiếu thảo, ngoan ngoãn, chăm chỉ, hiếu học, …..)

Thiên chức của người nghệ sĩ là phải không ngừng sáng tạo với phong cách riêng độc đáo và với nhà văn ….cũng vậy. Khi viết tác phẩm …., ông đã dành toàn bộ tâm huyết và trí tuệ của mình để xây dựng thành công nhân vật…..từ đó gửi gắm đến người đọc những bài học đạo đức, tư tưởng sâu sắc, thấm thía.

Mẫu 4: Mỗi nhà văn khi sáng tác, đều muốn để lại cho đời một hoặc nhiều nhân vật văn học điển hình, sống mãi trong lòng người đọc. Bởi vậy, khi viết tác phẩm “A”, nhà văn B đã dành toàn bộ tâm huyết và sáng tạo để tập trung xây dựng, khắc họa nhân vật …..

2/ Thân đoạn:

Nội dung: Công thức: Dẫn chuyển ý + nêu đặc điểm nhân vật + chứng minh qua tác phẩm + bình luận, đánh giá

Gợi ý: Trước hết, nhận vật …là người …..(đặc điểm), điều đó đã được thể hiện qua …. Thêm nữa, nhân vật …. cũng là người ….( đặc điểm 2,3,…) khái quát. Có thể nói, nhân vật ….chính là đại diện của …. và cũng là đối tượng để nhà văn ….thể hiện ( giá trị tư tưởng cụ thể).

Nghệ thuật: công thức=> Dẫn chuyển ý + liệt kê các yếu tố nghệ thuật đặc trưng gắn với tác phẩm

– Chú ý các yếu tố nghệ thuật cần khái quát:

+ Nghệ thuật xây dựng nhân vật, khắc họa, phân tích tâm lý (nếu có) nhân vật

+ Xây dựng tình huống truyện ( độc đáo, hấp dẫn, đặc sắc,gay cấn, bất ngờ….)

– Nghệ thuật trần thuật

+ Ngôi kể thứ nhất / thứ ba + tác dụng

+ Ngôn ngữ kể chuyện (tự nhiên, gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày/ giản dị, …)

+ Giọng điệu kể (ngợi ca, phê phán, châm biếm, đả kích, chế nhạo, …)

+ Cốt truyện: đơn giản, tự nhiên, li kì, gay cấn, chứa đựng nhiều sự kiện, biến cố, hành động,…)

* CÂU DẪN NÊU KHÁI QUÁT NGHỆ THUẬT:

Mẫu 1: Để góp phần khắc họa thành công nhân vật …., tác giả … đã khéo léo vận dụng những biện pháp nghệ thuật độc đáo, hấp dẫn……

Mẫu 2: Văn học là xứ sở của cái đẹp và tác giả ….đã tạo ra cái đẹp theo cách riêng của mình, không chỉ bằng nội dung mà còn bằng hình thức nghệ thuật độc đáo, hấp dẫn, được thể hiện qua , yếu tố 1, yếu tố 2,…..

3/ Kết đoạn:

Mẫu 1: Có thể nói dưới ngòi bút đầy tài hoa của tác giả …., nhân vật ….đã hiện lên đầy chân thực, sinh động và sẽ còn sống mãi trong lòng người đọc bao thế hệ.

Mẫu 2: Có thể nói, cuộc sống là nơi bắt đầu và cũng là nơi đi đến của văn chương. Bởi vậy, bằng việc xây dựng thành công nhân vật ….tác giả ….đã góp phần thêm một tiếng nói, một quan điểm nghệ thuật đầy giá trị để nâng đỡ cái đẹp, để “người gần người hơn”.

-------------

ĐỀ THI + ĐÁP ÁN MÔN NGỮ VĂN KÌ THI HSGQG 2025
19/01/2026

ĐỀ THI + ĐÁP ÁN MÔN NGỮ VĂN KÌ THI HSGQG 2025

👉𝑲𝒚̃ 𝒏𝒂̆𝒏𝒈 đ𝒖̛𝒂 𝒍𝒚́ 𝒍𝒖𝒂̣̂𝒏 𝒗𝒂̆𝒏 𝒉𝒐̣𝒄 𝒗𝒂̀𝒐 𝒃𝒂̀𝒊 𝒍𝒂̀𝒎 𝒉𝒔𝒈👉𝑲𝒚̃ 𝒏𝒂̆𝒏𝒈 𝒍𝒊𝒆̂𝒏 𝒌𝒆̂́𝒕 đ𝒐𝒂̣𝒏, 𝒄𝒉𝒖𝒚𝒆̂̉𝒏 đ𝒐𝒂̣𝒏 𝒕𝒓𝒐𝒏𝒈 𝒃𝒂̀𝒊 𝒍𝒂̀𝒎 𝒗𝒂̆𝒏...
09/01/2026

👉𝑲𝒚̃ 𝒏𝒂̆𝒏𝒈 đ𝒖̛𝒂 𝒍𝒚́ 𝒍𝒖𝒂̣̂𝒏 𝒗𝒂̆𝒏 𝒉𝒐̣𝒄 𝒗𝒂̀𝒐 𝒃𝒂̀𝒊 𝒍𝒂̀𝒎 𝒉𝒔𝒈
👉𝑲𝒚̃ 𝒏𝒂̆𝒏𝒈 𝒍𝒊𝒆̂𝒏 𝒌𝒆̂́𝒕 đ𝒐𝒂̣𝒏, 𝒄𝒉𝒖𝒚𝒆̂̉𝒏 đ𝒐𝒂̣𝒏 𝒕𝒓𝒐𝒏𝒈 𝒃𝒂̀𝒊 𝒍𝒂̀𝒎 𝒗𝒂̆𝒏 𝒉𝒔𝒈
-------
💥💥💥Cuốn sách xanh "ĐỘT PHÁ KỸ NĂNG BÀI LÀM HỌC SINH GIỎI MÔN VĂN”💥💥💥
---------
🌿 Đây là cuốn sách mà thầy cô và các em thực sự rất cần và mong mỏi bấy lâu nay để an tâm việc bồi dưỡng HSG môn văn. Cuốn sách tập trung kiến thức chuyên sâu tất cả vấn đề lí luận văn học và đặc biệt kỹ năng làm các dạng bài thi HSG môn Văn đạt điểm cao.
🌿 Cuốn sách là tâm huyết, kinh nghiệm nhiều năm bồi dưỡng HSG cấp tỉnh được biên soạn hết sức tỉ mỉ, công phu, chuyên sâu, khoa học.
🌟 Cuốn sách tập trung chuyên sâu vào 9 chuyên đề quan trọng sau 🌟
1️⃣ Chuyên đề chuyên sâu lý luận văn học trọng tâm (15 chuyên đề thường gặp trong bài thi HSG)
2️⃣ Chuyên đề về kỹ năng, phương pháp làm bài văn NLXH đạt điểm cao:
- Kỹ năng, phương pháp làm bài văn NLXH theo từng dạng (Chi tiết, cụ thể các bước cách viết mở bài, thân bài, kết bài)
- Hướng dẫn kỹ năng, phương pháp viết mở viết mở bài, kết bài hay nhất, ấn tượng lấy lòng BGK
- Dẫn chứng hay nhất và các câu nói hay nhất để làm bài văn NLXH
3️⃣ Chuyên đề về kỹ năng, phương pháp làm bài văn NLVH đạt điểm cao:
- Kỹ năng, phương pháp làm bài văn NLVH theo từng dạng (Chi tiết, cụ thể các bước cách viết mở bài, thân bài, kết bài)
- Hướng dẫn kỹ năng, phương pháp viết mở viết mở bài, kết bài hay nhất, ấn tượng lấy lòng BGK
4️⃣ Kỹ năng đưa lý luận văn học/nhận định lý luận văn học vào bài làm hsg
5️⃣ Kỹ năng chuyển đoạn, liên kết đoạn trong bài làm văn hsg
6️⃣ Chuyên đề 500 nhận định hay, đặc sắc nhất về lý luận văn học
7️⃣ Chuyên đề tinh tuyển 20 bộ đề thi có đáp án mới và hay nhất hiện nay
8️⃣ Chuyên đề tinh tuyển 10 bài văn NLVH đạt giải nhất quốc gia
9️⃣ Chuyên đề tinh tuyển 10 bài văn NLXH đạt giải nhất quốc gia
[Sách 226 trang]
-------------
🔥 Đặc biệt 🔥-
Thầy cô/học sinh nào đăng kí sách thì ib (nhắn tin) trực tiếp cho Page nhé!
---------

Address

Thành Phố Gò Công, Tỉnh Tiền Giang
Gò Công

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Thích Văn Học posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The School

Send a message to Thích Văn Học:

Shortcuts

Share

Category