29/07/2021
Một câu chuyện mà mình nghĩ những bậc cha mẹ, những thầy cô giáo sẽ “cảm” được. Và có thể có nhiều người cho rằng nó quá lý tưởng, tuy nhiên nếu chúng ta xem con cái, học trò là những người mà ta “có cơ duyên” được đồng hành để giúp các con, các trò khơi dậy những phẩm chất tốt đẹp, tinh túy sẵn có bên trong thì ta sẽ có thể tìm cách để thay đổi và cũng có thể bắt đầu làm lại.
Câu chuyện này được trích trong cuốn sách “7 thói quen hiệu quả” của tác giả Stephen R. Covey.
Vài năm trước đây, vợ tôi - Sandra và tôi cũng rơi vào một hoàn cảnh khó khăn. Cậu con trai của chúng tôi trải qua một giai đoạn khủng hoảng ở trường học của nó. Nó học rất tệ, thậm chí còn không biết làm theo một số chỉ dẫn trong các bài kiểm tra, huống chi là làm bài tốt. Về mặt giao tiếp xã hội, thằng bé còn thiếu trưởng thành lắm, thường ngại ngùng ngay cả với người thân quen. Trong các hoạt động về thể chất, nó là người nhỏ con, ốm yếu và vụng về. Ví dụ khi chơi bóng chày, quả bóng chưa được ném mà nó đã vung gậy rồi. Vì vậy mà bọn trẻ khác rất hay cười nhạo nó.
Sandra và tôi nôn nóng muốn giúp con trai mình. Chúng tôi quan niệm rằng, nếu “thành công” là hai chữ ai cũng muốn trong mọi lĩnh vực, thì trong vai trò làm cha mẹ của chúng tôi, chúng lại càng trở nên cực kỳ quan trọng. Vì vậy, chúng tôi cố gắng điều chỉnh thái độ và hành vi của mình, cũng như của thằng bé. Chúng tôi tác động vào tinh thần và dùng một số biện pháp tâm lý tích cực, khích lệ cậu bé: “Cố lên con trai. Bố mẹ biết là con có thể làm được. Đặt tay xích lên một chút nào, mắt tập trung vào quả bóng. Đừng vụt gậy cho đến khi quả bóng gần tới con nhé!”. Nếu thằng bé có chút tiến bộ, chúng tôi động viên ngay: “Tốt lắm con trai, cứ tiếp tục nhé”.
Khi bọn trẻ cười nhạo thằng bé, chúng tôi mắng ngay: “Lùi ra. Để nó yên. Nó đang học cách chơi mà”. Khi đó, cậu bé chỉ biết khóc và khăng khăng tin rằng mình sẽ không bao giờ có thể chơi bóng chày được, rồi dần không còn thích môn này nữa.
Mọi cố gắng của chúng tôi đều vô hiệu, chúng tôi rất lo lắng. Chắc chắn việc này sẽ ảnh hưởng đến sự tự tin của thằng bé. Vợ chồng tôi vẫn tiếp tục động viên, hỗ trợ và tỏ ra lạc quan, nhưng sau biết bao nhiêu thất bại, chúng tôi đành lùi bước và thay đổi cách nhìn vấn đề theo một cấp độ khác.
Trong quá trình giảng dạy, tôi đặc biệt hứng thú với nội dung nói về việc các góc nhìn của chúng ta được hình thành ra sao, cách chúng chi phối cách chúng ta đánh giá vấn đề, rồi cách đánh giá đó tác động đến hành vi của chúng ta ra sao. Từ đó, tôi tiếp tục nghiên cứu về lý thuyết kỳ vọng và hiện tượng “lời tiên đoán tự trở thành hiện thực” hay còn gọi là “Hiệu Ứng Pygmalion”, và rồi nhận ra góc nhìn của chúng ta có ảnh hưởng vô cùng sâu sắc như thế nào. Nó khiến tôi hiểu rằng chúng ta phải rất lưu tâm đến những lăng kính mà mình đang sử dụng, vì ta nhìn thế giới này thông qua những lăng kính ấy; cũng như thế giới mà chúng ta đang nhìn thấy đây, chính lăng kính đó sẽ định hình cách chúng ta lý giải nó.
Sandra và tôi thảo luận với nhau về những khái niệm trên và ánh xạ vào trường hợp con trai mình. Chúng tôi bắt đầu nhận ra những gì chúng tôi làm để giúp con trai mình trước đây không hề đúng với cách mà chúng tôi thực sự nhìn nhận nó. Khi thành thật nhìn lại cảm xúc bên trong mình, chúng tôi nhận ra mình vẫn cho rằng nó là đứa chậm tiến, tụt hậu so với bạn bè. Vì vậy, cho dù chúng tôi cố gắng thay đổi thái độ và hành vi nhiều đến đâu, mọi nỗ lực cũng không hiệu quả. Cho dù nói gì hay làm gì, thì thông điệp thật sự mà chúng tôi đang gửi đến thằng bé vẫn là: “Con không có khả năng. Con cần được che chở”.
Chúng tôi hiểu rằng: nếu muốn thay đổi tình hình, trước tiên phải thay đổi chính mình. Và để thay đổi mình hiệu quả, cần thay đổi nhận thức.
Tôi bắt đầu nhận ra, quan điểm Đạo đức tính cách đang là giải pháp trong tiềm thức mà Sandra và tôi đã áp dụng để giúp con trai mình. Khi tìm hiểu sâu hơn sự khác biệt giữa quan điểm Đạo đức phẩm giá so với Đạo đức tính cách, tôi nhận thấy chúng tôi đang coi trọng hình ảnh của mình trong mắt xã hội hơn là hành vi tích cực của con trai, và trong con mắt của chúng tôi thì thằng bé là đứa không đủ khả năng. Hình ảnh của chúng tôi về vai trò làm cha mẹ, biết quan tâm con cái đang được đặt cao hơn bản thân thằng bé, đã khiến chúng tôi hành xử như vậy. Suy cho cùng thì chúng tôi quan tâm về cách mình nhìn nhận và xử lý tình huống hơn việc quan tâm đến hạnh phúc thực sự của con trai (chúng tôi thật ích kỷ).
Khi trao đổi với nhau, Sandra và tôi đau xót nhận ra rằng tính cách, động cơ, và cả nhận thức chủ quan của mình về thằng bé có ảnh hưởng ra sao. Chúng tôi biết rằng động cơ làm cho “bằng nhà người ta” không tương hợp với những giá trị sâu thẳm bên trong chúng tôi, dẫn đến việc tình yêu chúng tôi dành cho con là tình yêu có điều kiện, điều này làm giảm lòng tự trọng của thằng bé. Do đó chúng tôi quyết định tập trung nỗ lực thay đổi chính bản thân mình - không phải là thay đổi hành vi, mà thay vào đó là thay đổi những động cơ sâu thẳm nhất và cách nhìn nhận về con trai. Thay vì tìm cách “uốn nắn” thằng bé, chúng tôi tách mình ra, không đánh đồng chúng tôi với con nữa, để cảm nhận về cá tính, nét riêng và giá trị của nó.
Bằng một nhận thức sâu sắc, lòng tin và lời cầu nguyện, chúng tôi bắt đầu khám phá được những nét đặc sắc của cậu bé. Chúng tôi thấy bên trong con có rất nhiều tiềm năng có thể được khơi dậy theo tốc độ, nhịp điệu phù hợp với con. Chúng tôi quyết định không lo lắng nữa, bước dần ra xa, cho phép con mình được bộc lộ hết bản tính. Chúng tôi nhận ra vai trò tự nhiên của mình trong tư cách làm cha mẹ là tin tưởng, tận hưởng và nhìn nhận giá trị của con. Chúng tôi cố gắng điều chỉnh động cơ, tự gieo cho mình sự an nhiên trong tâm hồn để cho những cảm nhận của chúng tôi về giá trị bản thân không bị phụ thuộc vào những hành vi được xem là “phù hợp” của con cái.
Khi chúng tôi bớt khắc khe trong cách nhìn nhận về con trai và vun đắp cho những động cơ dựa trên giá trị của mình, những cảm xúc mới bắt đầu xuất hiện. Chúng tôi nhận ra mình đang “tận hưởng” thằng bé hơn là cứ so sánh hay xét đoán nó với người khác. Chúng tôi không còn “đúc khuôn” thằng bé theo ý mình nữa, hoặc đặt nó trong thước đo kỳ vọng của xã hội. Chúng tôi không cần cố gắng khéo léo ảnh hưởng để lái con trai mình hướng theo những hình mẫu của xã hội. Bởi vì về cơ bản, chúng tôi thấy thằng bé đủ khả năng đương đầu với cuộc sống, chúng tôi không cần che chở, hay cố tránh cho thằng bé khỏi việc bị bạn bè trêu chọc như trước nữa.
Vốn đã quen được cha mẹ che chở, thằng bé cảm thấy hụt hẫng, nó bày tỏ ra và chúng tôi cũng biết, nhưng chúng tôi thấy rằng mình không cần phản ứng. Thông điệp ngầm chúng tôi gửi đi là: “Cha mẹ không cần bảo vệ con. Con hoàn toàn ổn mà”.
Nhiều tuần, rồi nhiều tháng trôi qua, thằng bé dần hình thành sự tự tin bên trong, dám nhìn nhận bản thân. Nó tỏ ra phấn chấn hơn, theo diễn tiến riêng của nó. Rồi cậu bé dần tỏa sáng, xét theo các tiêu chuẩn xã hội là về kết quả học tập, kỹ năng xã hội, thể chất. Thằng bé tiến bộ nhanh hơn mức bình thường của quá trình phát triển. Nhiều năm sau, nó được bầu làm lãnh đạo của nhiều tổ chức sinh viên, trở thành vận động viên thể thao của bang, gặt hái được nhiều kết quả học tập điểm A. Nó trở thành một con người có tính cách lôi cuốn và chân thành, giúp nó hình thành những mối quan hệ lành mạnh, có nhiều bạn tử tế.
Vợ chồng tôi tin rằng kết quả “ấn tượng về mặt xã hội” ấy của con trai mình là biểu hiện của những giá trị mà thằng bé nhận ra ở bản thân nó, hơn là chỉ làm để nhận phần thưởng của xã hội.