02/06/2025
ĐỀ THI ĐÀ NẴNG MÔN VĂN 2025- 2026
Dạy luyện thi môn Văn lớp 9 lên 10. Luyện thi Đại học môn Văn.
02/06/2025
ĐỀ THI ĐÀ NẴNG MÔN VĂN 2025- 2026
21/02/2024
SUẤT NGÀY 21/2. PHÍ SAU 25%
11/06/2023
🍀🍀🍀NHỮNG ĐOẠN TRÍCH VĂN XUÔI KHẢ NĂNG RA ĐỀ CAO THI TN – ĐH NĂM 2023
DỰ ĐOÁN😁😁😁
🍀🍀 8 TÁC PHẨM KHÔNG RA THI trong kỳ thi TN THPT 2023.
1. Tây Tiến (Đã ra thi 2021, đợt 2)
2. Sóng (Đã ra thi 2021, đợt 1)
3. Đề minh họa mà bộ công bố năm nay
4. Đàn Ghita của Lorca (GDTX không học)
5. Chiếc thuyền ngoài xa (2022)
6. Rừng xà nu
7. Hồn Trương Ba, da hàng thịt (phần tinh giản). 8.Các tác phẩm nước ngoài (Số phận con người, Ông già và biển cả, Thuốc…)
8. Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc
Trên đây là 8 tác phẩm 100% không ra thi, các em chỉ không cần phải ôn, chỉ cần biết một số ý để làm liên hệ mở rộng.
🌿🌿 TÁC PHẨM CÓ KHẢ NĂNG RA THI:
Vì đã 2 năm liên tiếp ra thơ, năm vừa rồi ra truyện nên có thể năm nay 90% bộ sẽ ra truyện ngắn, tùy bút hoặc bút kí.
1. Có khả năng cao nhất Vợ Nhặt
2. Vợ chồng A Phủ
3. Người lái đò sông Đà, tác phẩm khá khó, nhưng cũng phải học
4. Ai đã đặt tên cho dòng sông – khả năng cao,
6. Đất Nước, Việt Bắc.
-------------
ĐOẠN TRÍCH QUAN TRỌNG
1. Vợ nhặt – Kim Lân
- Cảm nhận đoạn trích: “Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào[…]Thị có vẻ rón rén, e thẹn”.
- Cảm nhận đoạn trích: “Thị lẳng lặng theo hắn vào trong nhà […] ấy thế mà thành vợ thành chồng”.
- Cảm nhận tâm trạng bà cụ Tứ qua đoạn trích: “Ngoài ngõ có tiếng người húng hắng ho[…]nước mắt chảy xuống ròng ròng”.
- Cảm nhận đoạn trích: “Sáng hôm sau mặt trời lên bằng con sào […] tu sửa lại căn nhà”.
- Cảm nhận đoạn trích: “Bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại […] lá cờ đỏ bay phấp phới”.
- Cảm nhận đoạn trích: “Bà lão cúi đầu nín lặng…. chúng mày về sau”…
2. Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài
- Cảm.nhận đoạn trích: "Ai ở xa về có dịp....bịt mắt cõng Mị đi".
- Cảm nhận đoạn trích: “Ngoài đầu núi, đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi [….]Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi”.
- Cảm nhận đoạn trích: “Bây giờ Mị cũng không nói. Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ[…] không biết sáng tự bao giờ”.
- Cảm nhận đoạn trích: “Những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn[…]Hai người đỡ nhau lao xuống dốc núi”.
- Cảm nhận đoạn trích: “Lần lần mấy năm qua, mấy năm sau[…]Đến bao giờ chết thì thôi”.
4. Ai đã đặt tên cho dòng sông – Hoàng Phủ Ngọc Tường
- Cảm nhận đoạn “Trong các dòng sông đẹp ở các nước…bát ngát tiếng gà”.
- Cảm nhận đoạn: “Từ đây như tìm thấy đường về…mãi chung tình với quê hương xứ sở.
5. Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân
- Cảm nhận đoạn văn: “Hùng vĩ của Sông Đà không phải chỉ có thác đá…gậy đánh phèn”
- Cảm nhận đoạn văn : “Thạch trận dàn bày vừa xong…Thế là hết thác”. (Đoạn này chủ yếu phân tích cảnh vượt thác của người lái đò.
- Cảm nhận đoạn: “Con sông Đà tuôn dài…nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”. (Chủ yếu là vẻ đẹp trữ tình)
6. Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành.
- Cảm nhận đoạn trích: “Làng ở trong tầm đại bác […] đồi xà nu nối tiếp tới chân trời”.
- Cảm nhận đoạn trích: “Một ngón tay Tnú bốc cháy […] mang từ đỉnh núi Ngọc Linh về”.
ĐỀ CƯƠNG THI GIỮA HỌC KÌ 1 LỚP 10
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích sau:
Đọc văn bản sau:
Cứ mãi ở ao làng, rồi ao sẽ cạn
Sao không ra sông ra biển để vẫy vùng?
Sao cứ tự trói mình trong nếp nghĩ bùng nhùng?
Sao cứ mãi online và thở dài ngao ngán?
…
Trên đường băng sân bay mỗi đời người,
Có những kẻ đang chạy đà và cất cánh.
(Trích Trên đường băng, Tony Buổi Sáng, NXB Trẻ, 2018, tr.299)
Thực hiện các yêu cầu:
1. Phong cách ngôn ngữ chính của văn bản
2. Tìm những từ ngữ trong đoạn trích thể hiện những hạn chế trong lối sống của tuổi trẻ.
3. Em hiểu thế nào về câu thơ:
“Trên đường bang sân bay mỗi đời người,
Có những kẻ đang chạy đà và cất cánh”
PHẦN II. LÀM VĂN
Câu 1: Viết một đoạn văn ( khoảng 200 chữ ) trình bày suy nghĩ của em về những điều mà tuổi trẻ cần phải làm để chạy đà và cất cánh trên đường bang sân bay của cuộc đời mình.
Câu 2. Hãy hóa thân thành nhân vật Mị Châu để kể lại cuộc trốn chyaj cùng vua cha sau khi Thành Cổ Loa thất thủ ( Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy)
ĐỀ 2
I.PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi từ 1 đến 6
Cách uống chè thì trong sách Kiên biều[1] đã nói rõ. Họ Lư, họ Lục[2] nổi tiếng về uống chè. Đến đời Tống mới thấy bày đồ ấm chén, hỏa lò, cấp thiêu, đại khái cũng là những đồ để pha chè. Có ông Giới Phủ thưởng chè Dương tiễn, ông Tử Chiêm thưởng chè Vân long. Từ đời Minh, đời Thanh trở xuống, cách chế chè càng tinh, đồ dùng chè càng đủ. Những thứ chè bồi sao, chế biến cũng khéo, và những các hồ, ấm, đĩa, chén, than, lửa, hỏa lò, cấp thiêu đều sắm sửa lịch sự cả. Nào là chè Võ Di, lò Thành Hóa, ấm Dương tiễn, đều là những thứ tuyệt phẩm dùng để pha chè. Kể thói tục bày ẽ ra có lắm thứ khác nhau, nhưng chẳng qua cũng mấy thứ ấy mà thôi. Còn như chè tuyết nha, nước suối hồng tâm, dẫu các hạng phong lưu người Trung Hoa cũng chưa được nếm đủ hết, nên không dám nói đến. Thị hiếu của người ta cũng hơi giống người Trung Hoa. Ta sinh trưởng đương lúc thịnh thời đời Cảnh Hưng, trong nước vô sự, các nhà quí tộc, các bậc công hầu, các con em nhà quý thích đều đua chuộng xa xỉ, có khi mua một bộ ấm chén, phí tổn đến vài mươi lạng bạc. Thường có nhiều người đến chơi các hiệu chè, thăm dò các phố buôn, vác tiền hết quan ấy chục khác để mua chè ngon. Lúc ngồi rỗi, pha chè uống với nhau, lại đánh cuộc xem chè đầu xuân năm nay sớm hay muộn, giá chè năm nay cao hay hạ. Kẻ thì ưa thanh hương, người thì thích hậu vị, kén hiệu trỏ tên, mua cho được chè ngon, bày khay chén ra nếm thử. Thậm chí có kẻ đặt tiền sẵn mua cho được hiệu chè Chính Sơn, gửi tàu buôn đặt cho được kiểu ấm chén mới lạ, cách hiếu thượng đến thế là cùng cực.
(Cách uống chè, trích Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, Bản dịch Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, nhà XBVH/ nghiên cứu và giảng dạy Tp Hồ Chí Minh)
Câu 1: Chỉ ra một phương thức biểu đạt trong đoạn trích.
Câu 2: Thể loại của đoạn trích là gì?
Câu 3: Nội dung của đoạn trích là gì?
Câu 4: Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu sau: “Những thứ chè bồi sao, chế biến cũng khéo, và những các hồ, ấm, đĩa, chén, than, lửa, hỏa lò, cấp thiêu đều sắm sửa lịch sự cả. Nào là chè Võ Di, lò Thành Hóa, ấm Dương tiễn, đều là những thứ tuyệt phẩm dùng để pha chè” là gì?
Câu 5: Theo đoạn trích, sở thích uống chè của mỗi người như thế nào?
Câu 6: Thông điệp của văn bản
ĐỀ 2
I.PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi từ 1 đến 6
Ở Phong Châu(1) có người họ Hồ tên là Kỳ Vọng. Cuối đời họ Hồ, Kỳ Vọng đi buôn bán, ngụ ở thành Xương Giang (2), rồi ốm chết ở thành ấy. Người vợ nghèo kiết, không có tiền để đưa ma chồng về quê được, phải đem bán người con gái nhỏ là Thị Nghi cho một nhà phú thương họ Phạm. Người con gái lớn lên, khá có tư sắc, họ Phạm yêu mến rồi cùng nàng tư thông. Vợ Phạm biết việc ấy, bèn mượn cớ khác đánh Thị Nghi một trận đau quá đến chết rồi đem chôm ở bên cạnh làng. Sau đấy mấy tháng hồn Thị Nghi hưng yêu tác quái, biến huyễn đủ vẻ, hoặc nhập vào chị ả buôn tương, hoặc ốp vào cô nàng bán rượu, người có vai vế thì bị dâm sát, người có tiền của thì bị bóc lột, suốt một dải đường mười dặm, người ta đều phải đi trưa về sớm, bảo nhau thấy gái đẹp chớ trêu vào. Sau người làng đó biết là hồn Thị Nghi làm tai làm quái, bèn đào mả tán xương vứt xuống sông, từ đấy việc quấy nhiễu cũng hơi bơn bớt.
(Trích Truyện yêu quái ở Xương Giang Truyền kì mạn lục Nguyễn Dữ).
Câu 1: Chỉ ra phương thức biểu đạt trong đoạn trích trên
Câu 2: Nêu nội dung chính của đoạn trích.
Câu 3:
Câu 4:
Câu 5: Nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong văn bản: “. Sau đấy mấy tháng hồn Thị Nghi hưng yêu tác quái, biến huyễn đủ vẻ, hoặc nhập vào chị ả buôn tương, hoặc ốp vào cô nàng bán rượu, người có vai vế thì bị dâm sát, người có tiền của thì bị bóc lột, suốt một dải đường mười dặm, người ta đều phải đi trưa về sớm, bảo nhau thấy gái đẹp chớ trêu vào”.
Câu 6: Theo anh chị hành động của Thị Nghi . Vì sao?
ĐỀ 3
I.PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi từ 1 đến 6
Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô. Phải đâu các vua thời Tam đại theo ý riêng mình mà tự tiện chuyển dời? Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu, trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi. Cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tổn, muôn vật không được thích nghi. Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không dời đổi.
Huống gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương: Ở vào nơi trung tâm trời đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc đông tây, lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chỗ tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước, cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời.
Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở. Các khanh nghĩ thế nào?
Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên
Câu 2: Việc không chịu dời đô của hai triều đại Đinh Lê dẫn đến kết quả nào?
Câu 3: Thành Đại La có những lợi thế gì để chọn làm kinh đô của đất nước?
Câu 4: Câu nói: “trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không dời đổi” nói lên điều gì?
Câu 5. Tại sao kết thúc bài chiếu nhà vua không ra lệnh mà hỏi quần thần?
ĐỀ 4
I.PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi từ 1 đến 6
Bình về hai câu thơ
Ngư ca tam xướng vu hồ khoác
Mục đích nhất thanh thiên nguyệt cao của Nguyễn Trãi, nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh viết:
Ông chài hát lên ba lần thì mặt hồ phủ khói lại rộng thêm ra; chú chăn trâu thổi lên một tiếng sáo thì mặt trăng trong bầu trời được đẩy cao hơn. Hồ rộng thêm vì làn dân ca toả ra trên mặt nước, lan dần ra, man mác, vô biên. Trăng vọt lên cao hơn vì tiếng sáo vút thẳng trong bầu trời, không biết dừng lại ở đâu. Tả lời hát, tả tiếng sáo, đồng thời tả cảm giác của người ta khi nghe ca, nghe nhạc, ý tứ thật là hàm súc sâu xa. Không gian rộng thêm ra, cao thêm lên mà chính cũng là tâm hồn con người mở rộng ra, lớn thêm lên. Văn nghệ có thể và phải nâng con người lên một tầm vóc cao đẹp hơn là thế.
(Đinh Gia Khánh, Văn học Việt Nam thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XVIII, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1978, tr. 353)
1. Trong đoạn văn trên có phần diễn xuôi các câu thơ, có phần bình về chúng. Anh (chị) hãy xác định ranh giới giữa hai phần đó.
2. Ở đoạn văn trên, tác giả nhấn mạnh điểm đặc sắc gì của các câu thơ?
3. Tác giả đã chọn hình thức lập luận nào khi triển khai đoạn văn này? Nêu những dấu hiệu giúp anh (chị) nhận ra điều đó.
4. Anh (chị) hiểu thế nào về vấn đề: Văn nghệ có thể và phải nâng con người lên một tầm vóc cao đẹp hơn.
Hướng dẫn làm bài
1. Phần diễn xuôi các câu thơ nằm gọn trong câu thứ nhất của đoạn văn. Phần bình bắt đầu từ câu: “Hồ rộng thêm...” đến hết.
2. Điểm đặc sắc được tác giả đoạn văn nhấn mạnh: các câu thơ không chỉ tả khung cảnh, sự vật mà còn thể hiện được cảm giác, cái nhìn của con người khi đứng trước khung cảnh, sự vật đó.
3. Khi triển khai đoạn văn này, hình thức lập luận được lựa chọn là hình thức quy nạp. Tất cả những lời bình đều nhằm đến một kết luận được phát biểu ở câu cuối cùng: “Văn nghệ có thể và phải nâng con người lên một tầm vóc cao đẹp hơn là thế”.
4. “Văn nghệ có thể và phải nâng con người lên một tầm vóc cao đẹp hơn” - luận điểm này đề cập đến một số chức năng cơ bản của văn học: chức năng bồi đắp tâm hồn con người, giáo dục, định hướng về lối sống. Điều này hoàn toàn nằm trong khả năng của văn nghệ, do văn nghệ phản ánh cuộc sống bằng hình tượng và là tiếng nói của tình cảm. Nhờ vậy, những điều muốn nói của văn nghệ dễ dàng lan thấm vào tâm hồn độc giả, gây nên những rung động thấm thía.
ĐỀ 5
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi từ 1 đến 6
Trong năm Quang Thái đời nhà Trần, người ở Hóa Châu tên là Từ Thức, vì có phụ ấm được bổ làm tri huyện Tiên Du. Bên cạnh huyện có một tòa chùa danh tiếng, trong chùa trồng một cây mẫu đơn, đến kỳ hoa nở thì người các nơi đến xem đông rộn rịp, thành một đám hội xem hoa tưng bừng lắm. Tháng Hai năm Bính Tý (niên hiệu Quang Thái thứ chín (1396) đời nhà Trần), người ta thấy có cô con gái, tuổi độ mười sáu, phấn son điểm phớt, nhan sắc xinh đẹp tuyệt vời, đến hội ấy xem hoa. Cô gái vin một cành hoa, không may cành giòn mà gãy khấc, bị người coi hoa bắt giữ lại, ngày đã sắp tối vẫn không ai đến nhận. Từ Thức cũng có mặt ở đám hội, thấy vậy động lòng thương, nhân cởi tấm áo cừu gấm trắng, đưa vào tăng phòng để chuộc lỗi cho người con gái ấy.Mọi người đều khen quan huyện là một người hiền đức.
Song Từ Thức vốn tính hay rượu, thích đàn, ham thơ, mến cảnh, việc sổ sách bỏ ùn cả lại thường bị quan trên quở trách rằng:
- Thân phụ thầy làm đến đại thần mà thầy không làm nổi một chức tri huyện hay sao!
Từ than rằng:
- Ta không thể vì số lương năm đấu gạo đỏ mà buộc mình trong áng lợi danh. Âu là một mái chèo về, nước biếc non xanh vốn chẳng phụ gì ta đâu vậy.
Bèn cởi trả ấn tín, bỏ quan mà về. Vốn yêu cảnh hang động ở huyện Tống Sơn, nhân làm nhà tại đấy để ở. Thường dùng một thằng nhỏ đem một bầu rượu, một cây đàn đi theo, mình thì mang mấy quyển thơ của Đào Uyên Minh, hễ gặp chỗ nào thích ý thì hí hửng ngả rượu ra uống. Phàm những nơi nước tú non kì như núi Chích Trợ, động Lục Vân, sông Lãi, cửa Nga, không đâu không từng có những thơ đề vịnh.
(Trích Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên, Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ, NXB Hội Nhà văn, 2018, tr.112-113)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 2. Theo đoạn trích, chức quan của nhân vật Từ Thức là gì?
Câu 3. Hành động nào khiến Từ Thức được khen là người hiền đức?
Câu 4. Việc trả ấn tín, từ quan cho thấy Từ Thức có thái độ như thế nào với danh lợi?
Câu 5. Anh/Chị hiểu gì về tâm hồn nhân vật Từ Thức qua chi tiết chàng đề thơ vịnh cảnh ở nhiều nơi?
Câu 6. Theo anh/chị, hành động từ quan của Từ Thức mang tính tích cực hay tiêu cực? Vì sao?
BÀI LÀM
Câu 1. PTBĐ tự sự
Câu 2. Chức quan của Từ Thức là quan tri huyện Tiên Du
Câu 3. Việc Từ Thức cởi tấm áo cừu gấm trắng đưa vào tăng phòng để chuộc lỗi cho cô gái làm gãy cành hoa mẫu đơn đã làm cho chàng được khen là người hiền đức
Câu 4. Việc trả ấn tín, từ quan cho thấy Từ Thức là người không màng danh lợi và không chịu bó mình trong vòng danh lợi chật hẹp.
Câu 5. Việc Từ Thức đề thơ vịnh cảnh ở nhiều nơi cho thấy chàng là một người có tâm hồn tự do, phóng khoáng, yêu thiên nhiên,yêu thích sự tự do và bay nhảy, thích những thú vui của một thi nhân xưa: ngắm cảnh, uống rượu, ngâm thơ
Câu 6. Hành động từ quan của Từ Thức mang ý nghĩa tích cực. Bởi vì việc làm này của chàng thể hiện được phẩm chất không màng danh lợi và không chịu bó mình trong vòng danh lợi chật hẹp của chàng. Đồng thời, chàng từ chức để được tự do, cho thấy chàng là một người có tâm hồn tự do, phóng khoáng, yêu thiên nhiên,yêu thích sự tự do và bay nhảy, thích những thú vui của một thi nhân xưa: ngắm cảnh, uống rượu, ngâm thơ.
ĐỀ 6
I.PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi từ 1 đến 6
Từ Đạt ở Khoái Châu, (1) lên làm quan tại thành Đông Quan (2) thuê nhà ở cạnh cầu Đông Xuân, láng giềng với nhà quan Thiêm Thư là Phùng Lập Ngôn. Phùng giàu mà Từ nghèo; Phùng xa hoa mà Từ tiết kiệm; Phùng chuộng dễ dãi mà Từ thì giữ lễ. Lề thói hai nhà đại khái không giống nhau. Song cũng lấy nghĩa mà chơi bỡi đi lại với nhau rất thân, coi nhau như anh em vậy. Phùng có người con trai là Trọng Qùy, Từ có người con gái là Nhị Khanh, gái sắc trai tài, tuổi cũng suýt soát. Hai người thường gặp nhau trong những bữa tiệc, mến tài, yêu vì sắc, cũng có ý muốn kết duyên Châu Trần. (3) Cha mẹ đôi bên cũng vui lòng ưng cho, nhân chọn ngày mối lái, định kỳ cưới hỏi. Nhị Khanh tuy hãy còn nhỏ, nhưng sau khi về nhà họ Phùng, khéo biết cư xử với họ hàng, rất hòa mục và thờ chồng rất cung thuận, người ta đều khen là người nội trợ hiền. Trọng Qùy lớn lên, dần sinh ra chơi bời lêu lổng; Nhị Khanh thường vẫn phải can ngăn. Chàng tuy không nghe nhưng cũng kính trọng. Năm chàng 20 tuổi, nhờ phụ ấm được bổ làm một chức ở phủ Kiến Hưng. Gặp khi vùng Nghệ An có giặc, triều đình xuống chiếu kén một viên quan giỏi bổ vào cai trị. Đình thần ghét Lập Ngôn tính hay nói thẳng, ý muốn làm hại, bèn hùa nhau tiến cử. Khi sắc đi phó nhậm, Phùng Lập Ngôn bảo Nhị Khanh rằng: - Đường sá xa xăm, ta không muốn đem đàn bà con gái đi theo, vậy con nên tạm ở quê nhà. Đợi khi song bằng nước phẳng, vợ chồng con cái lại cùng nhau tương kiến. Trọng Qùy thấy Nhị Khanh không đi, có ý quyến luyến không rứt. Nhị Khanh ngăn bảo rằng: - Nay nghiêm đường vì tính nói thẳng mà bị người ta ghen ghét, không để ở lại nơi khu yếu, bề ngoài vờ tiến cử đến chốn hùng phiên, bên trong thực dồn đuổi vào chổ tử địa. Chả lẽ đành để cha ba đào muôn dặm, lam chướng nghìn trùng, hiểm nghèo giữa đám kình nghê, cách trở trong vùng lèo mán, sớm hôm săn sóc, không kẻ đỡ thay? Vậy chàng nên chịu khó đi theo. Thiếp dám đâu đem mối khuê tình để lỗi bề hiếu đạo. Mặc dầu cho phấn nhạt hương phai, hồng rơi tía rụng, xin chàng đừng bận lòng đến chốn hương khuê.
Câu 1: Chỉ ra phương thức biểu đạt chính sử dụng trong đoạn trích
Câu 2: Theo đoạn trích cách cư xử của Nhị Khanh khi về nhà họ Phùng như thế nào?
Câu 3: Vì sao Nhị Khanh thường vẫn phải can ngăn chồng mình là Trọng Qùy?
Câu 4: Nêu nội dung chính của đoạn trích.
Câu 5: Đoạn trích trên giúp anh/ chị hiểu gì về phẩm chất con người Nhị Khanh?
Bài làm
Câu 6: Nhận xét về nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn Dữ trong đoạn trích.
II. LÀM VĂN (6.0 điểm)
Phân tích tội ác của giặc Minh xâm lược được Nguyễn Trãi thể hiện trong đoạn trích:
Vừa rồi:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,
Để trong nước lòng dân oán hận.
Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ,
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh.
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế,
Gây thù kết oán trải mấy mươi năm.
ĐỀ 7
I.PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi từ 1 đến 6
Lúc bấy giờ, ta cùng các ngươi sẽ bị bắt, đau xót biết chừng nào! Chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc các ngươi cũng bị mất; chẳng những gia quyến của ta bị tan, mà vợ con các ngươi cũng khốn; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị giày xéo, mà phần mộ cha mẹ các ngươi cũng bị quật lên; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục, rồi đến trăm năm sau, tiếng dơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà đến gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang tiếng là tướng bại trận. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui vẻ phỏng có được không?
(Hịch tướng sĩ – Trần Quốc Tuấn)
Câu 1: Chỉ ra phương thức biểu đạt chính sử dụng trong đoạn trích
Câu 2: Trong đoạn trích này, tác giả nêu ra hậu quả về thái độ, hành động sai trái của các tướng sĩ trước cảnh “nước mất nhà tan”. Em hãy chỉ rõ những hậu quả đó?
Câu 3: Việc Trần Quốc Tuấn nêu ra những hậu quả trên nhằm mục đích gì?
Câu 4: Biện pháp nghệ thuật nào đã được tác giả sử dụng trong đoạn trích trên? Tác dụng?
Câu 5: Qua đoạn trích trên, em hiểu như thế nào về nhân vật “ta”?
Câu 6: Nếu là “tướng sĩ” của nhân vật “ta” trong hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ, em sẽ làm gì trước những “lời bộc bạch thống thiết tâm can” của vị chủ tướng?
ĐỀ 9
I.PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi từ 1 đến 6
Thư kính đưa quan Tổng binh và các vị đại nhân.
Người giỏi dùng binh là ở chỗ hiểu biết thời thế. Được thời và có thế thì biến mất thành còn, hóa nhỏ thành lớn; mất thời và không thế, thì mạnh hóa ra yếu, yên lại nên nguy, sự thay đổi ấy chỉ ở trong khoảng bàn tay. Nay các ông không hiểu rõ thời thế, lại che đậy bằng lời dối trá, thế chẳng phải là hạng thất phu đớn hèn ư? Sao đủ để cùng nói việc binh được?
Trước đây các ông trong lòng gian dối, ngoài mặt mượn cớ giảng hòa, đắp lũy đào hào, chờ quân cứu viện, lòng dạ và hành động bất đồng, trong ngoài bất nhất, sao đủ khiến ta tin mà không ngờ được. Cổ nhân có câu nói rằng: "Bụng dạ kẻ khác ta lường đoán được", nghĩa là thế đó. Ngày xưa nhà Tần thôn tính sáu nước, chuyên chế bốn bể, không chăm lo đức chính, thân mất nước tan. Nay Ngô[1]mạnh không bằng Tần, mà hà khắc lại quá, không đầy một năm tất sẽ theo nhau mà chết, ấy là mệnh trời, không phải sức người vậy. Hiện nay phía bắc có kẻ địch Thiên Nguyên[2], phía nam có mối lo nội loạn ở các xứ Tầm Châu[3], một khu Giang Tả[4]không tự giữ được, huống còn mưu toan đi cướp nước khác ư ? Các ông không hiểu sự thế, bị người ta đánh bại, lại còn chực dựa uy Trượng Phụ[5], thế có phải là đại trượng phu chăng, hay chỉ là đàn bà thôi ?
(Trích Thư dụ Vương Thông, Nguyễn Trãi, SGK lớp 10, nâng cao, NXB Giáo dục)
Câu 1: Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích
Câu 2: Theo tác giả người giỏi dùng binh là người như thế nào?
Câu 3: Theo đoạn trích trên, trước đây quan Tổng binh và các vị đại thần đã có những việc làm khiến tác giả không tin tưởng?
Câu 4: Ý nghĩa của việc tác giả đưa ra những bất lợi trong tình hình thực tế của quân Minh?
Câu 5: Anh/chị hãy chỉ ra tác dụng của câu hỏi tu từ trong các câu văn sau: Nay các ông không hiểu rõ thời thế, lại che đậy bằng lời dối trá, thế chẳng phải là hạng thất phu đớn hèn ư? Sao đủ để cùng nói việc binh được?
Câu 6: Bài học mà anh/chị tâm đắc nhất qua đoạn trích trên là gì? Vì sao?
ĐỀ 10
ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản:
Một hôm, chủ nhà bảo anh đầy tớ về quê có việc, người đầy tớ xin mấy đồng tiền
Để uống nước dọc đường.
Chủ nhà ngẫm nghĩ một lúc rồi nói:
- Thằng này ngốc thật, hai bên đường thiếu gì ao hồ. Khát nước thì xuống đó
mà uống, tìm vào quán xá cho nó phiền phức.
- Thưa ông, độ này trời đang cạn, ao hồ ruộng nương cạn khô hết cả.
- Thế thì tao cho mày mượn cái này!
Nói rồi đưa cho anh đầy tớ cái khố tải. Người này chưa hiểu ra sao, thì chủ nhà đã giải thích luôn cho biết ý tứ:
- Vận vào người, khi khát vặn ra mà uống.
Người đầy tớ liền thưa:
- Dạ, trời nóng thế này vận khố tải ngốt lắm! Hay là ông cho tôi mượn cái
Chày giã cua vậy.
- Để mày làm gì chứ?
- Dạ, vắt cổ chày ra nước ạ!
(Vắt cổ chày ra nước, Tinh hoa văn học dân gian người Việt- Truyện cười
NXB Khoa học xã hội, 2009, tr.119-120)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản.
Câu 2. Trong câu chuyện, hoạt động giao tiếp diễn ra giữa các nhân vật nào?
Câu 3. Trong câu chuyện, người đầy tớ xin tiền chủ nhà để làm gì?
Câu 4. Theo anh/chị, chi tiết người đầy tớ mượn ông chủ cái chày giã cua có ý nghĩa gì?
Câu 5. Câu chuyện phê phán thói xấu nào của con người?
Câu 6. Hãy nêu bài học ý nghĩa nhất đối với anh/chị rút ra từ văn bản trên.
II. LÀM VĂN (6,0 điểm)
Anh/Chị hãy tưởng tượng mình là nhân vật Mị Châu kể lại Truyện An Dương Vương. Và Mị Châu – Trọng Thủy với một kết thúc khác bản kể trong sách giáo khoa Ngữ văn
ĐỀ 11
===================================================
HỌC KÌ II
ĐỀ THI HỌC KÌ 2 2021 _ 2022
I. Phần đọc hiểu (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:
"Năm tháng qua đi, bạn sẽ nhận ra rằng ước mơ không bao giờ biến mất. Kể cả những ước mơ rồ dại nhất trong lứa tuổi học trò - lứa tuổi bất ổn định nhất. Nếu bạn không theo đuổi nó, chắc chắn nó sẽ trở lại một lúc nào đó, day dứt trong bạn, thậm chí dằn vặt bạn mỗi ngày.
Nếu vậy, sao bạn không nghĩ đến điều này ngay từ bây giờ?
Sống một cuộc đời cũng như vẽ một bức tranh vậy. Nếu bạn nghĩ thật lâu về điều mình muốn vẽ, nếu bạn dự tính được càng nhiều màu sắc mà bạn muốn thể hiện, nếu bạn càng chắc chắn về chất liệu mà bạn sử dụng thì bức tranh trong thực tế càng giống với hình dung của bạn. Bằng không, có thể nó sẽ là những màu mà người khác thích, là bức tranh mà người khác ưng ý, chứ không phải bạn.
Đừng để ai đánh cắp ước mơ của bạn. Hãy tìm ra ước mơ cháy bỏng nhất của mình, nó đang nằm ở nơi sâu thẳm trong tim bạn đó, như một ngọn núi lửa đợi chờ được đánh thức..."
(Theo Phạm Lữ Ân, Nếu biết trăm năm là hữu hạn, NXB Hội Nhà văn, 2012, trang 43-44)
Câu 1 (0,5 điểm) Nêu phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên?
Câu 2 (0,5 điểm) Theo tác giả nếu không theo đuổi ước mơ bạn sẽ rơi vào trạng thái tâm lí nào?
Câu 3 (1,0 điểm) Xác định và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn sau:
"Sống một cuộc đời cũng như vẽ một bức tranh vậy."
II. Phần làm văn (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm) Hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ của anh chị về ý kiến được nêu trong đoạn trích ở phần đọc hiểu: "Hãy tìm ra ước mơ cháy bỏng nhất của mình, nó đang nằm ở nơi sâu thẳm trong tim bạn đó, như một ngọn núi lửa đợi chờ được đánh thức..."
Câu 2 (5,0 điểm)
Anh/chị hãy phân tích đoạn thơ sau;
"...Cậy em em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai
Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ thay lời nước non."
(Trích Trao duyên - Nguyễn Du sách Ngữ văn 10, tập 2, trang 104, NXB Giáo dục, 2008
Trung tâm Gia sư ANA
Họ và tên:
………………………….
Lớp: 11/
KIỂM TRA 15 PHÚT(HKI)
Phân môn: VĂN BẢN
Đề 1 Điểm:
Đọc các câu thơ sau:
Bãi cát dài, bãi cát dài ơi!
Tính sao đây? Đường bằng mờ mịt,
Đường ghê sợ còn nhiều, đâu ít?
Hãy nghe ta hát khúc “đường cùng”,
Phía bắc núi Bắc, núi muôn trùng,
Phía nam núi Nam, sóng dào dạt.
Anh đứng làm chi trên bãi cát?
(“Bài ca ngắn đi trên bãi cát”, Cao Bá Quát)
Câu1
Các yếu tố nghệ thuật được dùng và tác dụng của chúng trong đoạn thơ trên?
Câu2
Anh/chị hiểu câu thơ “Anh đứng làm chi trên bãi cát?” thế nào? Tư tưởng sâu sắc, mới mẻ của tác giả qua câu thơ ấy?
Lời giải
Câu1
Các yếu tố nghệ thuật được dùng:
+ Từ xưng hô: ta, anh
+ Sử dụng câu hỏi, câu cảm
+ Hình ảnh biểu tượng: “đường cùng”
+ Hình ảnh thiên nhiên: bãi cát dài, núi muôn trùng, sóng dào dạt
Tácdụng:
Thể hiện thái độ trăn trở, bức xúc, nỗi băn khoăn, bế tắc và tuyệt vọng của tác giả trên con đường công danh sự nghiệp.
Câu2
Ông trăn trở, bức xúc về sự tồn tại và hành động của mình: đứng làm chi trên bãi cát?
Ông như đối thoại với mình và cảm thấy sẽ là vô nghĩa nếu vẫn tiếp tục đi trên con đường ấy: Anh đứng làm chi trên bãi cát?
Không thể tiếp tục như thế. Không thể đi trên bãi cát mãi như vậy mà cần tìm một con đường khác, lối đi khác.
Câu thơ thể hiện khát khao thay đổi cuộc sống đương thời, khát khao một sự đổi mới của nhà thơ.
Trung tâm Gia sư ANA
Họ và tên:
………………………….
Lớp: 11/
KIỂM TRA 15 PHÚT(HKI)
Phân môn: VĂN BẢN
Đề 1 Điểm:
ĐỀ 2
Đọc bài thơ Bài ca ngắn đi trên bãi cát và trả lời câu hỏi sau:
Câu 1
Nêu ý nghĩa tượng trưng của các yếu tố tả thực hình ảnh người đi trên bãi cát trong bài thơ “Bài ca ngắn đi trên bãi cát”.
Câu 2
Trong bài thơ “Bài ca ngắn đi trên bãi cát”, tâm trạng của lữ khách khi đi trên bãi cát là gì?
Câu 3
Giá trị nội dung và nghệ thuật trong “Bài ca ngắn đi trên bãi cát” của Cao Bá Quát.
Câu 1
• Những yếu tố tả thực:
- Hình ảnh bãi cát được nhắc đi nhắc lại (điệp ngữ), gợi lên một không gian khó khăn, nhọc nhằn. Trên bãi cát ấy là con đường rộng lớn nhưng mờ mịt, không xác định được phương hướng. Đó không phải là con đường thực mà là con đường theo nghĩa tượng trưng. Trên con đường ấy là hình ảnh nhà thơ với giấc mộng danh lợi thôi thúc bước đi.
- Mờ mịt, núi muôn lớp, sóng muôn đợt, một sa mạc cát mênh mông vô tận, bãi cát lại bãi cát, một người đi đến mặt trời lặn vẫn chưa thôi, vừa đi vừa lệ tuôn đầy.
Từ con đường thực nhiều lần đi qua để về kinh ứng thí, Cao Bá Quát đã sáng tạo thành một con đường đến danh lợi với nhiều khó khăn trong bài thơ. Con đường thực đi trên cát đã thành con đường theo danh lợi trong bài ca. Qua đó cũng thể hiện được nỗi niềm day dứt, đau xót của tác giả đi trên con đường tìm lý tưởng nhưng xã hội bù nhìn không cho ông lối thoát.
Câu 2
• Tâm trạng của lữ khách: chán nản ( 6 câu đầu), bế tắc ( 4 câu cuối).
• Sự vô nghĩa của chế độ khoa cử làm ông muốn thoát ra khỏi chúng.
• Câu hỏi ở câu thơ cuối: là lời nhắc nhở , thúc giục tìm kiếm lối thoát, tìm kiếm một đường đi mới, thoát khỏi bãi cát dài càng đi càng lún. => Tư tưởng rộng lớn, sâu sắc.
Câu 3
Giá trị nội dung:
• Sự chán ghét của Cao Bá Quát đối với con đường mưu cầu danh lợi tầm thường của hầu hết những con người trong xã hội đương thời. Gần như ai cũng bị ràng buộc bởi vòng luẩn quẩn của danh lợi, của tiền tài, kể cả chính ông cũng buộc lòng phải theo đuổi.
• Niềm khao khát đến mãnh liệt được đổi mới cuộc sống, được phá tung những rào cản, lễ giáo phong kiến trong hoàn cảnh xã hội nhà Nguyễn bảo thủ, trì trệ. Qua đó, ta cũng thấy được khí phách hiên ngang của Cao Bá Quát - một con người có ý chí, có khát khao và hoài bão lớn.
Giá trị nghệ thuật:
• Tác giả sử dụng thể hành (thể thơ cổ), có tính chất tự do, phóng khoáng, không bị gò bó về số câu, độ dài của câu, niêm luật, bằng trắc, vần điệu.
• Hình ảnh biểu tượng giàu ý nghĩa: Bãi cát dài, người say - tỉnh,...
• Sử dụng bút pháp đối lập nhuần nhuyễn, sáng tạo trong việc dùng điển tích, điển cố
Trung tâm Gia sư ANA
Họ và tên:
………………………….
Lớp: 11/
KIỂM TRA 15 PHÚT(HKI)
Phân môn: VĂN BẢN
Đề 1 Điểm:
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
Thương vợ
Trần Tế Xương
Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm con với một chồng. Lặn lội thân cò khi quãng vắng Eo sèo mặt nước buổi đò đông. Một duyên hai nợ, âu đành phận Năm nắng mười mưa, dám quản công Cha mẹ thói đời ăn ở bạc, Có chồng hờ hững cũng như không!
Câu 1. Văn bản trên sử dụng phương thức biểu đạt nào ?
Câu 2 : Phân tích 1 phép tu từ được sử dụng trong hai câu thơ thực ?
Câu 3 : Nêu ngắn gọn sự vận dụng sáng tạo hình ảnh thân cò trong bài thơ?
Câu 4 : Sự vận dụng sáng tạo thành ngữ dân gian được thể hiện như thế nào trong bài thơ?
Câu 5 : Viết đoạn văn ngắn (10 đến 15 dòng) bày tỏ suy nghĩ về chân dung tinh thần của Tú Xương qua bài thơ.
Trung tâm Gia sư ANA
Họ và tên:
………………………….
Lớp: 11/
KIỂM TRA 15 PHÚT(HKI)
Phân môn: VĂN BẢN
Đề 1 Điểm:
Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi:
Vũ trụ nội mạc phi phận sự,
Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng.
Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.
Lúc bình Tây, cầm cờ Đại tướng,
Có khi về, Phủ doãn Thừa Thiên
( Trích Bài ca ngất ngưởng- Nguyễn Công Trứ)
Câu 1: Nêu nội dung chính của đoạn thơ trên ?
Câu 2:Câu thơ Vũ trụ nội mạc phi phận sự được hiểu như thế nào? Ý nghĩa của câu thơ là gì?
Câu 3: Trong câu 2: việc xưng hô ông Hy Văn trong câu thơ thể hiện điều gì?
Câu 4:Xác định phép liệt kê trong đoạn thơ và nêu hiệu quả nghệ thuật của phép liệt kê đó.
Câu 5: Qua đoạn thơ, viết đoạn văn ngắn (10 đến 15dòng) bày tỏ suy nghĩ về tác giả Nguyễn Công Trứ?
Trung tâm Gia sư ANA
Họ và tên:
………………………….
Lớp: 11/
KIỂM TRA 15 PHÚT(HKI)
Phân môn: VĂN BẢN
Đề 1 Điểm:
ĐỀ 1
Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi
Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.
Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại.
Mảnh tình san sẻ tí con con!
Câu 1: Cho biết xuất xứ và ý nghĩa nhan đề của bài thơ?
Câu 2: Tác dụng của từ láy “văng vẳng” và từ “dồn” trong việc thể hiện tâm trạng nhà thơ?
Câu 3: Nghĩa của từ “trơ” trong câu thơ “Trơ cái hồng nhan với nước non” là gì?
Câu 4: Tác dụng của biện pháp đảo ngữ và các động từ được sử dụng trong hai câu
Xiên ngang, mặt đất rêu từng đám
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn
Câu 5: Viết 1 đoạn văn ngắn (5-7 dòng) bày tỏ suy nghĩ của em về hai câu thơ cuối:
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại.
Mảnh tình san sẻ tí con con!
Trung tâm Gia sư ANA
Họ và tên:
………………………….
Lớp: 11/
KIỂM TRA 15 PHÚT(HKI)
Phân môn: VĂN BẢN
Đề 1 Điểm:
:
Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo
Tựa gối buông cần lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo
Câu 1. Cho biết hoàn cảnh sáng tác và xuất xứ của bài thơ?
Câu 2. Tác dụng của từ láy “lạnh lẽo” và từ “tẻo teo” trong việc miêu tả cảnh sắc thiên nhiên trong hai câu thơ đầu?
Câu 3. Cách gieo vần trong bài thơ có gì đặc biệt? Cách gieo vần ấy gợi cảm giác gì về cảnh thu, tình thu ?
Câu 4. Sáu câu thơ đầu tác giả đã sử dụng thành công bút pháp nghệ thuật nào? Tác dụng của bút pháp nghệ thuật đó?
Câu 5. Em hãy cho biết đằng sau bức tranh ngoại cảnh ẩn chứa điều gì ? Vì sao ?
Trung tâm Gia sư ANA
Họ và tên:
………………………….
Lớp: 11/
KIỂM TRA 15 PHÚT(HKI)
Phân môn: VĂN BẢN
Đề 1 Điểm:
Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi
Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.
Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại.
Mảnh tình san sẻ tí con con!
Câu 1: Cho biết xuất xứ và ý nghĩa nhan đề của bài thơ?
Câu 2: Tác dụng của từ láy “văng vẳng” và từ “dồn” trong việc thể hiện tâm trạng nhà thơ?
Câu 3: Nghĩa của từ “trơ” trong câu thơ “Trơ cái hồng nhan với nước non” là gì?
Câu 4: Tác dụng của biện pháp đảo ngữ và các động từ được sử dụng trong hai câu
Xiên ngang, mặt đất rêu từng đám
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn
Câu 5: Viết 1 đoạn văn ngắn (5-7 dòng) bày tỏ suy nghĩ của em về hai câu thơ cuối:
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại.
Mảnh tình san sẻ tí con con!
Trung tâm Gia sư ANA
Họ và tên:
………………………….
Lớp: 11/
KIỂM TRA 15 PHÚT(HKI)
Phân môn: VĂN BẢN
Đề 1 Điểm:
Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo
Tựa gối buông cần lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo
Câu 1. Cho biết hoàn cảnh sáng tác và xuất xứ của bài thơ?
Câu 2. Tác dụng của từ láy “lạnh lẽo” và từ “tẻo teo” trong việc miêu tả cảnh sắc thiên nhiên trong hai câu thơ đầu?
Câu 3. Cách gieo vần trong bài thơ có gì đặc biệt? Cách gieo vần ấy gợi cảm giác gì về cảnh thu, tình thu ?
Câu 4. Sáu câu thơ đầu tác giả đã sử dụng thành công bút pháp nghệ thuật nào? Tác dụng của bút pháp nghệ thuật đó?
Câu 5. Em hãy cho biết đằng sau bức tranh ngoại cảnh ẩn chứa điều gì ? Vì sao
ĐỀ 1
ĐÁP ÁN
Câu 1: - Bài thơ nằm trong chùm 3 bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương (1,0 điểm)
- Nhan đề bài thơ “Tự tình II”: tự bộc lộ tâm tình. Ở đây nhà thơ tự đối diện với chính mình để tự vấn, xót thương (1,0 điểm)
Câu 2: Từ “ văng vẳng”: gợi không gian quạnh hiu, vắng lặng (0,5 điểm)
Từ “dồn”: Gợi bước đi vội vã, dồn dập, gấp gáp của thời gian
=> Hai từ “văng vẳng, dồn”: gợi tâm trạng rối bời, lo âu, buồn bã, cô đơn của con người khi ý thức được sự trôi chảy của thời gian, của đời người (0,5 điểm).
Câu 3: Từ “trơ”: Nghĩa trong câu thơ: trơ trọi, cô đơn, có gì như vô duyên, vô phận, rất bẽ bàng và đáng thương (0,5 điểm) .
– Ý nghĩa: Thể hiện sự bền gan, thách thức, sự kiên cường, bản lĩnh của con người, nhất là người phụ nữ trong cảnh ngộ trớ trêu.(0,5 điểm).
Câu 4: Tác dụng của phép đảo ngữ: (2,0 điểm)
- Miêu tả hình ảnh thiên nhiên như muốn vùng lên, phá ngang, phẫn uất với đất trời
– Đó là hình ảnh thiên nhiên qua cảm nhận của người mang sẵn niềm phẫn uất và sự bộc lộ cá tính, bản lĩnh không cam chịu như muốn thách thức số phận của Hồ Xuân Hương.
Câu 5: HS có thể diễn đạt nhiều cách khác nhau song cần thể hiện được nội dung: (4 điểm)
Hai câu thơ thể hiện tâm trạng của người phụ nữ mang thân đi làm lẽ, bạc bẻo, trớ trêu. Đó là nỗi lòng của người phụ nữ trong xã hội xưa, với họ hạnh phúc chỉ là cái chăn quá hẹp
ĐỀ 2
Câu 1. (2 điểm)
+ Vị trí : Bài thơ “ Mùa thu câu cá “ một trong chùm ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến.
+ Hoàn cảnh sáng tác: Viết trong thời gian khi Nguyễn Khuyến về ở ẩn tại quê nhà.
Câu 2. (1 điểm)
- Giải nghĩa từ (0.5 điểm)
+ Lạnh lẽo : gợi cảm giác khí lạnh của hơi nước, làn nước mùa thu
+ Tẻo teo : gợi hình ảnh bé nhỏ, như teo lại, co rút lại
- Ý nghĩa (0.5 điểm)
+ Hai từ láy góp phần diễn tả hình ảnh của cảnh vật bình dị và đặc trưng của làn nước mùa thu Bắc Bộ
+ Cảnh vật không chỉ thể hiện cái hồn của cảnh thu mà còn thể hiện cái hồn của cuộc sống ở nông thôn xưa.
Câu 3.(1,0 điểm)
+ Vần "eo" (tử vận) khó làm, được tác giả sử dụng một cách thần tình, độc đáo, góp phần diễn tả một không gian vắng lặng, thu nhỏ dần, khép kín, phù hợp với tâm trạng đầy uẩn khúc của nhà thơ.
Câu 4. (2,0 điểm)
+ Bút pháp nghệ thuật lấy động tả tĩnh - nghệ thuật thơ cổ phương Đông.
+ Tác dụng :
Góp phần làm nổi bật cảnh thu với những hình ảnh quen thuộc, dân dã, bình dị mang đặc trưng mùa thu của đồng bằng Bắc bộ. Mùa thu đẹp, nên thơ, tĩnh lặng, phảng phất buồn.
Câu 5 (4 điểm)
Đằng sau bức tranh ngoại cảnh là không gian thu tĩnh lặng như sự tĩnh lặng trong tâm hồn nhà thơ, khiến ta cảm nhận về một nỗi cô đơn, man mác buồn, uẩn khúc trong cõi lòng thi nhân
ĐỀ 1
ĐÁP ÁN
Câu 1: - Bài thơ nằm trong chùm 3 bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương (1,0 điểm)
- Nhan đề bài thơ “Tự tình II”: tự bộc lộ tâm tình. Ở đây nhà thơ tự đối diện với chính mình để tự vấn, xót thương (1,0 điểm)
Câu 2: Từ “ văng vẳng”: gợi không gian quạnh hiu, vắng lặng (0,5 điểm)
Từ “dồn”: Gợi bước đi vội vã, dồn dập, gấp gáp của thời gian
=> Hai từ “văng vẳng, dồn”: gợi tâm trạng rối bời, lo âu, buồn bã, cô đơn của con người khi ý thức được sự trôi chảy của thời gian, của đời người (0,5 điểm).
Câu 3: Từ “trơ”: Nghĩa trong câu thơ: trơ trọi, cô đơn, có gì như vô duyên, vô phận, rất bẽ bàng và đáng thương (0,5 điểm) .
– Ý nghĩa: Thể hiện sự bền gan, thách thức, sự kiên cường, bản lĩnh của con người, nhất là người phụ nữ trong cảnh ngộ trớ trêu.(0,5 điểm).
Câu 4: Tác dụng của phép đảo ngữ: (2,0 điểm)
- Miêu tả hình ảnh thiên nhiên như muốn vùng lên, phá ngang, phẫn uất với đất trời
– Đó là hình ảnh thiên nhiên qua cảm nhận của người mang sẵn niềm phẫn uất và sự bộc lộ cá tính, bản lĩnh không cam chịu như muốn thách thức số phận của Hồ Xuân Hương.
Câu 5: HS có thể diễn đạt nhiều cách khác nhau song cần thể hiện được nội dung: (4 điểm)
Hai câu thơ thể hiện tâm trạng của người phụ nữ mang thân đi làm lẽ, bạc bẻo, trớ trêu. Đó là nỗi lòng của người phụ nữ trong xã hội xưa, với họ hạnh phúc chỉ là cái chăn quá hẹp
ĐỀ 2
Câu 1. (2 điểm)
+ Vị trí : Bài thơ “ Mùa thu câu cá “ một trong chùm ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến.
+ Hoàn cảnh sáng tác: Viết trong thời gian khi Nguyễn Khuyến về ở ẩn tại quê nhà.
Câu 2
ĐÁP ÁN – BIỂU ĐIỂM
ĐỀ 1
Câu 1 (1 điểm):Văn bản sử dụng phương thức: miêu tả, biểu cảm
- Trả lời đúng 2 đáp án: 1 điểm
- Trả lời 1 đáp án: 0,5 điểm
- Trả lời sai, không trả lời: 0 điểm
Câu 2 (2 điểm):
- HS chỉ ra được 1 trong các đáp án sau:
+ Đảo ngữ: từ lặn lội, eo sèo được đảo lên đầu câu
+ Phép đối ( cân đối về hình ảnh, số tiếng, thanh điệu….)
+ Ẩn dụ: thân cò
- Tác dụng:
+ Nhấn mạnh, gợi thực cảnh những nỗi vất vả, khó nhọc, gian truân và đầy nguy hiểm trong công việc làm ăn của bà Tú,
+ Tấm chân tình của ông Tú: sự chia sẻ cảm thông, tấm lòng xót thương da diết đối với vợ.
- Trả lời đúng đáp án: 2 điểm
- Trả lời phép tu từ hoặc nêu được tác dụng: 1 điểm
- Trả lời sai, không trả lời: 0 điểm
Câu 3 (2 điểm):Sự vận dụng sáng tạo hình ảnhthân cò:
-Hình ảnh con cò trong ca dao nhiều khi nói về thân phận người phụ nữ lam lũ, vất vả, chịu thương chịu khó: “Con cò lặn lội bờ sông …”, thân phận người lao động với nhiều bất trắc, thua thiệt “Con cò mà đi ăn đêm…”
- Con cò trong ca dao đã hóa thành thân cò trong bài Thương vợ . Thân ở đây còn có nghĩa là thân phận. Tú Xương dùng hình ảnh này để nói về bà Tú có phần xót xa, tội nghiệp hơn . Nhà thơ đảo lại "Lặn lội thân cò..." nhấn mạnh sự vất vả và lam lũ lặn lội. Khung cảnh kiếm ăn của thân cò không phải là cái bờ sông bất kì mà là nơi quãng vắng để nói rõ hơn sự vất vả của người vợ .
- Trả lời đúng đáp án: 2 điểm
- Trả lời 1 trong 2 ý trên: 1 điểm
- Trả lời sai, không trả lời: 0 điểm
Câu 4 (2 điểm):Sự vận dụng sáng tạo thành ngữ dân gian được thể hiện:
-"Một duyên hai nợ" của dân gian có nghĩa là: thứ nhất là...thứ hai là.. được Tú Xương vận dụng sáng tạo. Nó không còn là thứ tự ngẫu nhiên ấy nữa, từ số đếm trở thành số tính, số nhân: duyên chỉ có một mà nợ đến những hai.
-Thành ngữ năm nắng mười mưa được vận dụng sáng tạo: nắng, mưa chỉ sự vất vả,
Đề 1
Tình yêu cuộc sống thiết tha và say đắm của Xuân Diệu:
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất;
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.
Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si;
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,
Mỗi buổi sớm, thần vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.
BÀI LÀM
I. MỞ BÀI
"Thơ Xuân Diệu còn là một nguồn sống dào dạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này. Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống Vội vàng, sống cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình. Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn, tha thiết” (Hoài Thanh và Hoài Chân). Qủa đúng vậy, nhà thơ là người yêu đời đến cuồng nhiệt, sống ở đời, ông hòa mình vào cuộc sống và cảm nhận tất cả vẻ đẹp ấy bằng cả trái tim. Nhưng cũng cuống quýt, vội vàng, lo sợ vì thời gian trôi đi mà đời người thì hữu hạn. Bài thơ Vội vàng tiêu biểu cho điều ấy, trong đó 13 câu đầu đã để lại những ấn tượng khó quên: (trích thơ)
KHÁI QUÁT CHUNG
Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới. Bài thơ “Vội vàng” nằm trong tập “Thơ thơ” xuất bản năm 1938. Bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ phóng khoáng, yêu đời và thể hiện cái tôi một cách sâu sắc của ông. Cả bài thơ thể hiện một nhân sinh mang ý nghĩa nhân văn. Cuộc sống là thiên đường, hãy sống hết mình, sống trọn vẹn để tuổi xuân trôi qua không phải sống hoài, sống phí.
PHÂN TÍCH
Bốn câu thơ đầu là sự khát khao giao cảm với đời, với thiên nhiên mãnh liệt, táo bạo trong lòng nhà thơ:
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.
Bốn câu thơ đầu có lẽ độc đáo nhất trong bài thơ vì chỉ riêng nó là thể ngũ ngôn. Nhà thơ sử dụng những câu thơ ngắn với âm điệu nhanh, ngôn ngữ thơ dứt khoát để thể hiện ứơc muốn mãnh liệt muốn níu giữ thời gian. Bởi lẽ thời gian là nỗi ám ảnh nhất trong cuộc đời của thi nhân. Là một hồn thơ rạo rực, tha thiết với đời, ông muốn tận hưởng những khoảnh khắc tươi đẹp nhất của trần thế. Vì thế thi nhân rất trân trọng những giây phút tươi đẹp của cuộc đời. Người dùng tất cả giác quan tạo hoá ban tặng để cảm nhận thời gian. Thời gian vốn vô hình, vô vị, vô tình đi vào thơ Xuân Diệu bỗng rất hữu hình, nên thơ qua hình ảnh nắng, gió. Điệp ngữ tôi muốn kết hợp với những động từ mạnh như tắt (nắng), buộc (gió) thể hiện một tư thế chủ động, một ước muốn táo bạo: Nắm bắt thiên nhiên, đoạt quyền tạo hóa để có thể níu giữ những phần tươi đẹp nhất của cuộc đời màu đừng nhạt mất và hương đừng bay đi. Bảy câu thơ tiếp nói lên ước muốn tạo bạo của nhà thơ bởi ông đã cảm nhận được có một thiên đường ngay trên mặt đất, bao quanh mỗi chúng ta:
Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si;
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,
Mỗi buổi sớm, thần vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.
Những câu thơ với âm điệu nhẹ nhàng, hình ảnh tươi sáng đã vẽ nên một khung cảnh thiên nhiên đậm sắc, hương, thanh. Chim chóc, hoa lá, ong bướm như vực dậy để tận hưởng cảnh xuân tươi tắn, mựơt mà. Tuần tháng mật của đôi vợ chồng đắm say trở thành mùa của ong bướm dập dìu rất lãng mạn. Tiếng hót của chim yến chim oanh trở thành khúc tình si hút hồn biết bao con người yêu cảnh thiên nhiên tươi đẹp. Và ánh nắng được nhân hoá như một kiều nữ e thẹn với những ánh mi dài cuốn hút vạn vật. Tất cả như chan hoà làm nên một mảnh vườn đẹp nên thơ mà rất trần đời. Từ đó cái đẹp của mùa xuân thiên nhiên còn ẩn dụ như cái đẹp của con người ở độ sắc xuân, đương thì. Qua đó, ta thấy được thi sĩ có sự cảm nhận mùa xuân rất tinh tế và có tài khéo léo vẽ lại những hình ảnh ấy với một thứ sức sống căng tràn, nảy nở. Thi sĩ chọn thời điểm rạo rực nhất tháng giêng, tươi mới nhất mỗi buổi sớm, để miêu tả khiến bức tranh thiên nhiên mùa xuân càng tinh khôi, xinh đẹp. Không chỉ vậy, nhà thơ còn tạo nên một thiên đường của xúc cảm. Nghệ thuật chuyển đổi cảm giác được dùng rất linh hoạt từ xúc giác tuần tháng mật, thính giác khúc tình si, thị giác ánh sáng chớp hàng mi.
Vào lúc ấy, hồn thơ, hồn người, hồn của thiên nhiên đất trời như giao hoà để Xuân Diệu viết nên một câu tuyệt bút:
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần
Tháng giêng vốn vô hình bỗng trở nên hữu hình căng đầy một tình yêu trần thế. Tháng giêng giống như cặp môi của người thiếu nữ đang căng tràn sức sống, giàu sức mời gọi. Một thứ tình cảm rạo rực, cháy bỏng trong tâm hồn thi nhân đã được dồn nén kết tụ trong một từ ngon duy nhất rất tài hoa. Nghệ thuật chuyển đổi cảm giác nhằm nhấn mạnh vể đẹp của bức tranh thiên nhiên, đồng thời cũng bộc lộ một khát khao mãnh liệt trong tâm hồn tác giả. Quả thật, Xuân Diệu bên cạnh có đôi mắt nhìn đời rất tinh tế còn có một tâm hồn rất thiết tha, nhạy cảm với cuộc sống. Nhà thơ đã lấy con người làm khuôn mẫu để tạo ra những hình thái thiên nhiên mang một sức hấp dẫn kì lạ, một sự tươi mới chưa từng có. Qua đó, ta thấy thêm tin yêu một hồn thơ mới đã đem đến cho ta một hình ảnh đầy thi vị, một ánh màu mới mẻ trong thơ ca.
Càng yêu đời, nhà thơ càng luyến tiếc trước dòng chảy của thời gian.
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.
Hai câu thơ dài, giữa câu hạ một dấu chấm đột ngột như sự dồn nén cảm xúc đến tột cùng. Thể hiện một khao khát cháy bỏng trong lòng tác giả. Vì Xuân Diệu cảm nhận được lúc vạn vật đang căng tràn nhựa sống cũng chính là lúc đang đứng trên ranh giới của sự lụi tàn, héo úa. Vì thế khi đang sống trong niềm hạnh phúc tràn đầy tác giả lại thôi thúc mình cần phải vội vàng, cần phải tận hưởng hết những năm tháng tuổi trẻ và hạnh phúc. Qua đó, tác giả gửi đến mọi người thông điệp sống: hãy sống hết mình và trân trọng những gì bạn đang có, đừng để nó trôi qua rồi mới tiếc nuối.
Nhà thơ đã tái hiện lại khung cảnh hết sức lãng mạn, một thiên đường dưới mặt đất. Trong con mắt của nhà thơ cuộc sống thật tươi đẹp và đáng sống biết bao, nhưng cuộc sống thật ngắn ngủi nên phải sống vội vàng để tận hưởng hết niềm vui và hạnh phúc của cuộc sống. Đó là tư tưởng lạc quan yêu đời mà tác giả đã tạo ra cho thế hệ trẻ, họ cần phải sống cho đúng, không để phí hoài tuổi trẻ một cách vô ích.
TIỂU KẾT
Đoạn thơ thể hiện một một khát vọng sống thiết tha mãnh liệt rất trần đời. Một hương vị lạ góp phần làm đa dạng sự mới mẻ trong phong trào Thơ mới. Dù rằng thơ Xuân Diệu mang một phong cách rất Tây nhưng nhìn chung lầu thơ của ông được xây dựng trên mảnh đất thơ ca truyền thống. Sự tiếp thu những tư tưởng mới, biết hoà nhập nhưng không hoà tan là nét chung rất đáng ngợi ca khâm phục của Xuân Diệu nói riêng và các nhà thơ mới nói chung. Vì thế Xuân Diệu xứng đáng là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới (Hoài Thanh).
Đề 2
Tâm trạng băn khoăn của tác giả về tuổi trẻ của đời người trước sự qua đi nhanh chóng của thời gian:
Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất.
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian;
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lạị
Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;
Mùi tháng, năm đều rớm vị chia phôi,
Khắp sông, núi vẫn than thầm tiễn biệt....
Con gió xinh thì thào trong lá biếc,
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi ?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa ?
Chẳng bao giờ, ôi ! chẳng bao giờ nữa...
* Đặt vấn đề:
- Xuân Diệu được mệnh danh là ông Hoàng thơ tình Việt Nam. Đến với thơ ông, người đọc bắt gặp những vần thơ thiết tha yêu đời, yêu cuộc sống đến cuồng nhiệt. Bài thơ Vội vàng là tiếng nói con tim của một kẻ đang say mê trong tình yêu với những cung bậc cảm xúc khác nhau. Đoạn hai của bài thơ thể hiện nỗi băn khoăn trước thời gian và cuộc đời.
- Vội vàng được trích trong tập Thơ Thơ, xuất bản năm 1938. Đoạn hai của bài thơ là tâm trạng băn khoăn của tác giả về tuổi trẻ của đời người trước sự qua đi nhanh chóng của thời gian:
Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,
…
Chẳng bao giờ, ôi ! chẳng bao giờ nữa...
* Triển khai:
- Khổ thơ thể hiện nỗi băn khoăn trước thời gian và cuộc đời của Xuân Diệu:
Xuân đang đến nghĩa là xuân sẽ qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Xuân Diệu đã đưa đến cho chúng ta những ý niệm thú vị, mới mẻ về thời gian. Theo ông, thời gian là tuyến tính, nó là một dòng chảy xuôi chiều, một đi không trở lại: đương tới- đương qua; còn non- sẽ già. Đứng trước cảm nhận này, tác giả thấy lo lắng khi thời gian trôi đi. Ông bắt đầu sợ, cuống cuồng vì mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu rồi cũng qua đi.
- Ý niệm về thời gian đối với Xuân Diệu là một chiều. Điều này khiến nhà thơ thấy mình thật bé nhỏ:
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất
Lòng tôi rộng mà lượng trời cứ chất
Không cho dài tuổi trẻ của nhân gian
+ Những câu thơ dường như càng khắc nghiệt hơn vì tác giả tự vận mình vào mùa xuân. Bởi rằng, với ông, đời người đẹp nhất là tuổi trẻ. Khi mùa xuân tuổi trẻ qua đi thì coi như hết. Con người vẫn luôn khát khao sống, khát khao yêu nồng cháy nhưng thời gian có hạn. Vạn vật chuyển biến, tuổi trẻ cứ vơi cạn đi theo năm tháng. Tác giả nuối tiếc, tiếc vì không được sống thêm không được nhiệt huyết hơn nữa.
- Có lẽ Xuân Diệu là một nhà thơ có cái nhìn chân thực và đầy mới mẻ về tuổi trẻ của con người.
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại
Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi
+ Đến đây dường như người đọc càng nhận ra triết lý về thời gian sâu sắc. Mùa xuân rồi sẽ trở lại, đất trời lại rạo rực và đẹp đẽ như thế nhưng tuổi trẻ của con người lại vĩnh viên trôi qua không trở lại. Đây là điều tàn nhẫn nhất mà Xuân Diệu không muốn đối mặt.
+ Giọng thơ sôi nổi như nước tự mạch nguồn tuôn ra. Một hệ thống tương phản đối lập: tới- qua, non- già, hết- mất, rộng- chật, vô hạn - hữu hạn - để khẳng định một chân lý - triết lý: Tuổi xuân một đi không trở lại. Phải quý tuổi xuân.
- Cách nhìn nhận về thời gian cũng rất tinh tế, độc đáo, nhạy cảm. Trong hiện tại đã bắt đầu có quá khứ và tương lai; cái đang có lại đang mất dần đi… Và mối tương giao mầu nhiệm của cảnh vật, của tạo vật hình như mang theo nỗi buồn chia phôi hoặc tiễn biệt, hờn vì xa cách, sợ vì phai tàn sắp sửa. Cảm xúc lãng mạn dào dạt trong cái vị đời:
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt
- Câu hỏi tu từ xuất hiện cũng là để làm nổi bật nghịch lí giữa mùa xuân - tuổi trẻ và thời gian:
Con gió xinh thì thào trong lá biếc
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng dứt tiếng reo thi
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?
- Thi sĩ bỗng thốt lên lời than. Tiếc nuối. Lo lắng Câu cảm thán với cách ngắt nhịp biến hóa làm nổi bật nỗi lòng vừa lo lắng băn khoăn, vừa luống cuống, bâng khuâng:
Chẳng bao giờ/ôi/chẳng bao giờ nữa…
Mau đi thôi/mùa chưa ngả chiều hôm.
- Cách cảm nhận về thời gian như vậy xét đến cùng là xuất phát từ ý thức sâu xa về giá trị của sự sống cá thể. Mỗi khoảnh khắc trong đời mỗi người đều vô cùng quý giá, chính vì một khi đã mất đi là vĩnh viễn mất đi. Quan niệm ấy khiến cho con người biết quý từng giây phút của đời mình. Và người ta biết làm cho mỗi khoảnh khắc của đời mình cần phải tràn đầy ý nghĩa. Có như thế mới là biết sống. Đây là cơ sở sâu xa của thái độ sống Vội Vàng.
- Đoạn thơ sử dụng phép điệp ngữ, điệp cấu trúc; giọng điệu thơ sôi nổi nhưng không tạo được niềm vui vì không che giấu sự nuối tiếc, xót xa, hờn dỗi (nói làm chi, nếu, tiếc…); Hệ thống từ ngữ, hình ảnh được đặt trong thế tương phản đối lập cao độ. Tất cả đã tạo nên một đoạn thơ hay và giàu ý nghĩa mang đậm dấu ấn Xuân Diệu. Dưới con mắt tinh tế, nhạy cảm của nhà thơ, cuộc sống thật tươi đẹp và đáng sống biết bao. Nhưng cuộc sống ấy cũng thật ngắn ngủi nên phải sống vội vàng để tận hưởng hết niềm vui và hạnh phúc của cuộc sống.
* Đánh giá:
- Đoạn thơ trên, Xuân Diệu đã thể hiện một quan niệm nhân sinh rất tiến bộ về thời gian, về mùa xuân và tuổi trẻ. Cái tôi cá nhân trữ tình được khẳng định. Ham sống và yêu đời; sống hết mình, sông trong tình yêu - đó là những ý tưởng rất đẹp, vẻ đẹp của một hồn thơ lãng mạn.
- Vội vàng đã hình thành ý niệm thời gian sâu sắc đối với người đọc. Tuổi trẻ và tình yêu là những thứ mà chúng ta cần phải gìn giữ, chứ không phải để nó trôi qua vô nghĩa.
Đề 3
Khát vọng tận hưởng của Xuân Diệu:
Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướn với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
Cho chếnh choáng mùi hương, cho đã đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!
* Đặt vấn đề:
- Xuân Diệu là người yêu cuộc sống đến đắm say, cuồng nhiệt, nhưng éo le thay lại Không cho dài thời trẻ của nhân gian để mà yêu. Cho nên, thi nhân muốn níu giữ lấy thời gian để tận hưởng. Song có ai níu giữ được thời gian bao giờ. Nên tâm hồn trẻ ấy sợ thời gian và đuổi theo thời gian một cách cuống quít, vội vàng để hưởng thụ cho hết mọi vẻ đẹp hạnh phúc của trần gian.
- Ngày Xuân Diệu mới xuất hiện trên thi đàn Việt Nam, nhà phê bình Hoài Thanh đã đánh giá rất xác đáng Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cuộc đời. Có lẽ, cái nét đặc sắc ấy của hồn thơ Xuân Diệu được biểu hiện đầy đủ nhất trong bài thơ Vội vàng, mà đoạn cuối là đoạn hay nhất của bài thơ:
Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,
…
Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!
* Triển khai:
- Ở phần trên của bài thơ, thi sĩ cho người đọc thấy được tạo hoá có sinh ra con người để mãi mãi hương lạc thú ở chốn trần gian này đâu. Đời người ngắn ngủi, tuổi xuân có hạn và thời gian trôi đi vĩnh viễn không trở lại giục giã chúng ta phải nhanh lên, vội vàng lên để tận hương bữa tiệc của trần gian khi mà mùa chưa ngả chiều hôm, khi mà xuân đang non. Xuân chưa già:
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
- Ở trên, tác giả xưng tôi để đối thoại với đồng loại, ở dưới lại xưng ta để đối diện với sự sống (Chu Văn Sơn). Giữa những câu thơ dài, đột ngột xen vào một câu thơ rất ngắn, chỉ có ba chữ Ta muốn ôm. Câu thơ như thắt ngang giữa bài làm ta liên tương đến vòng tay đang ôm bó, níu giữ cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn của nhà thơ. Mơn mởn là từ láy rất gợi cảm và giàu ý nghĩa diễn tả. Nó gợi cảm giác sự vật, cây cối đang ở độ non mướt, tươi tốt đầy sức sống.
- Tác giả bộc lộ một tình yêu mãnh liệt, táo bạo:
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng
+ Cảm xúc của Xuân Diệu như một dòng suối ào ạt tuôn chảy, tưởng chừng ngôn từ xô đẩy vào nhau chen lấn nhau để theo kịp dòng cảm xúc ấy. Những tiếng ta muốn láy đi láy lại mãi để khẳng định niềm khao khát mãnh liệt và cháy bỏng. Những từ ngữ Xuân Diệu sử dụng ở mức độ mãnh liệt nhất: muốn ôm, muốn riết, muốn say, muốn thâu… cái hôn nhiều chữ nghĩa của Xuân Diệu thật mới lạ và đầy cảm xúc.
- Sống như thế với Xuân Diệu mới thực là sống sống như thế đi đến chỗ tận cùng của niềm hạnh phúc được sống:
Cho chếnh choáng mùi thơm ,cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi
+ Hạnh phúc của sự sống là mùi thơm là ánh sáng là thanh sắc tận hưởng cuộc đời là có được cảm nhận về những điều ấy ở độ tràn trề nhất: chếnh choáng, đã đầy, no nê. Trong niềm cảm hứng ở độ cao nhất Xuân Diệu nhận ra cuộc đời mùa xuân như một cái gì quý giá nhất trọn vẹn như một trái đời đỏ hồng chín mọng thơm ngát