Khúc hoan ca Văn học

Khúc hoan ca Văn học "CUỘC ĐỜI ĐÓ CÓ BAO LÂU MÀ HỮNG HỜ..." (Trịnh Công Sơn)

19/09/2026

CHẾ LAN VIÊN VÀ 3 NIỀM SỬNG SỐT
(Trần Mạnh Hảo)
Mới mười lăm, mười sáu tuổi đầu, tâm hồn cậu thiếu niên Chế Lan Viên kỳ lạ thay, đã bằng tuổi Tháp Chàm. Hay chính là hồn vía Tháp Chàm miền Trung đã nhập vào thân xác nhà thơ từ thuở lọt lòng, mượn chú hài đồng họ Phan mà oa oa cất tiếng khóc nghìn năm ứ nghẹn tự muôn trùng gạch đá?
Sau này, lớn lên, đi học tại Quy Nhơn, Chế Lan Viên lại bị vây bủa bởi những Tháp Chàm cô độc, như những cánh tay hư vô đột ngột giơ lên xin phát biểu ý kiến với trời xanh. Những Tháp Chàm bí mật, câm nín mấy trăm năm chợt hu hu khóc nấc, chợt hú rít lên, rên la lên, chợt rúc lên u u ơ ơ tiếng tù và địa phủ bằng vần điệu, bằng thi ca "Điêu tàn", như tiếng phát ngôn của dân Hời vạn thuở. Tập thơ được viết xong lúc tác giả mười sáu tuổi, ra mắt làng thơ năm 1937. "Điêu tàn" như một hiện tượng kỳ vĩ, ngay lập tức làm sửng sốt thi đàn Việt Nam, "như một niềm kinh dị" theo chữ của Hoài Thanh. Không sửng sốt, không kinh dị sao được khi một cậu thiếu niên dáng vẻ hiền lành, bỗng học được phép chui vào quan tài của nỗi hư vô, dùng thi ca tỏ tình với cái chết.
Chế Lan Viên dẫn đầu một phái đoàn ma, kéo vào thi đàn Việt Nam như cô hồn thập loại chúng sinh của Nguyễn Du xưa kéo về rằm tháng bảy: "Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi" (Trên đường về). Ông ước: "Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh / Một vì sao trơ trọi cuối trời xa" (Những sợi tơ lòng). Tinh cầu ấy, vì sao ấy, với Chế Lan Viên chính là chiếc sọ người. Chiếc sọ người - biểu tượng hóa niềm siêu hình thăm thẳm, bao hàm ba trạng thái: cô đơn - cái chết - hư vô từng thách đố triết học và tôn giáo. Chế Lan Viên dùng thi ca giải mã chiếc sọ người mong tìm tôn giáo và triết học, tìm bí mật phía bên kia tồn tại, như tìm nỗi không đâu vơ vẩn kiếp người. Với "Điêu tàn" bầu trời kia cũng mang hình hộp sọ. Tinh cầu - sọ người bay lơ lửng trong không gian Chế Lan Viên, như một thứ hạt giống thi ca gieo vãi hư vô lên từng trang giấy. Đến nỗi nhà thơ muốn cắn chiếc sọ người vỡ tan như cắn hạt bồ đào: " Ta muốn cắn mi ra từng mảnh nhỏ / Muốn điên cuồng nuốt cả khối xương khô" (Cái sọ người). Hãy nghe Chế Lan Viên nói về công việc trước tác của mình: "Nền giấy trắng như xương trong bãi chém / Bỗng run lên kinh hãi dưới tay điên / Tiếng bút đưa rợn mình như tiếng kiếm / Nạo những thành sọ trắng của ma thiêng" (Tiết trinh). "Điêu tàn" mang âm hưởng sọ người cọ nhau ken két, như cái chết cũng biết nghiến răng.
Trong lời tựa "Điêu tàn", Chế Lan Viên viết: "Hàn Mặc Tử nói: Làm thơ tức là điên. Tôi thêm: Làm thơ là làm sự phi thường. Thi sĩ không phải người. Nó là Người Mơ, Người Say, Người Điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu. Nó thoát hiện tại... Nó gào, nó thét, nó khóc, nó cười. Cái gì của nó cũng tột cùng. Nó gào vỡ sọ, nó thét đứt hầu, nó khóc trào máu mắt, nó cười tràn ra cả tủy là tủy. Thế mà có người tự cho là hiểu được nó rồi đem nó so sánh với Người...". Có thể nói đây là tuyên ngôn của trường thơ "Loạn" bấy giờ. Một số yếu tố trong tuyên ngôn trên còn ứng với Chế Lan Viên suốt đời ví như mệnh đề "Cái gì của nó cũng tột cùng". Chịu ảnh hưởng thi pháp Beaudelaire và Edgar Poe, cộng với siêu hình tôn giáo và thơ Đường, nhà thơ đã làm nên Tháp Chàm "Điêu tàn" hay đến kinh hãi. Những tuyên ngôn thơ trên của Chế Lan Viên, phải chăng là sự mô phỏng Beaudelaire - kẻ gây sốc, "nhà thơ bị nguyền rủa" (le poète maudit), loài "Ác hoa" dị thường, mở đầu trào lưu thơ hiện đại Pháp bằng cách phá bỏ mỹ học hài hòa cổ điển Apollon, nghiêng về mỹ học phản hài hòa, xộc xệch, rách rưới, mê sảng Dionisos, mở ra một thế giới thi ca phi thường, rùng rợn, cuồng điên với tuyệt đỉnh đàn bà và cái chết.
Lấy màu vàng sắc không nhà Phật nhuộm lên thi pháp Beaudelaire, kết hợp linh diệu Christ và niềm hư ảo Ấn Độ giáo Tháp Chàm, Chế Lan Viên muốn đập vỡ sọ ma Hời tìm hư vô, tìm cái vô cùng, vô hạn. Nhưng ông đã không tìm thấy gì ngoài nỗi cô đơn co rút lại nơi hồn mình, như loài chim cú siêu hình chui vào ruột đêm lẩn trốn. Nhà ma học Chế Lan Viên tu với ma, sống với ma ngay từ tấm bé, mong tìm kiếm bản thể trầm luân mình, như nhà triết học Hy Lạp Diogène thế kỷ thứ IV trước công nguyên đốt đèn đi tìm một người hư ảnh giữa ban ngày. "Điêu tàn" tập thơ mê sảng nhất của văn học Việt Nam, biểu hiện thiên tài kỳ lạ Chế Lan Viên, là niềm sửng sốt, là cú sốc của mỹ học cái chết độc nhất vô nhị vậy.
Cách Mạng Tháng Tám vĩ đại 1945 đã cuốn mọi trào lưu tư tưởng, mọi trường phái văn chương vào đứng dưới bóng cờ đỏ sao vàng. Chế Lan Viên phải làm một lúc hai cuộc kháng chiến : chống Pháp và chống con ma Hời siêu hình từng ám hồn ông. Cuộc chia tay giữa Chế Lan Viên với con ma xó cô đơn thật quyết liệt, đớn đau, quằn quại, rớm máu suốt 15 năm, bằng với số năm lưu lạc của Thúy Kiều. Tư tưởng nhà thơ đã đi về phía con người, về phía nhân dân, phía kháng chiến, nhưng tâm hồn ông còn bị ma Hời đeo bám, cứ thập thò như cua cáy giành giật những giấc mơ, những suy tưởng trong ông. Cuộc chiến đấu giữa chàng Faust-Chế Lan Viên với con quỷ siêu hình để giành lại quyền sở hữu linh hồn mình trong thi ca là cả một chặng đường thương khó.
Cây thập tự tôn giáo đè lên đôi vai tinh thần nhà thơ nặng nề hơn một số phận, hệt như nó là một phần cơ thể khổ đau ông phải mang theo trong câm nín. Nhưng Con Người trong ông đã tuyên chiến, đã mở giao thông hào đánh lấn, giành từng tấc đất tâm hồn lại từ phía lô cốt hư vô. Và cuối cùng, con ma siêu hình đã bỏ chạy, đã hoảng loạn thoát ra từ chính những vết thương tâm hồn nhà thơ. Cuộc giằng xé, vật lộn giữa ma và người suốt 15 năm đã thai nghén, sinh nở ra thi phẩm "Ánh sáng phù sa" năm 1960 thật kỳ diệu, như thể sau khi bị đóng đinh trên câu rút siêu hình, nhà thơ đã phục sinh.
Vâng, "Ánh sáng và phù sa" quả là một Chế Lan Viên khác hẳn với Chế Lan Viên "Điêu tàn", một thi pháp khác, một phong cách khác, một thể xác và một linh hồn khác, một ngôn ngữ khác, mỹ học khác, một khổ đau và một hạnh phúc khác. "Ánh sáng và phù sa" lập tức trở thành hiện tượng văn học kinh động thời ấy, một niềm sửng sốt thứ hai Chế Lan Viên mang lại cho thi đàn Việt Nam. Qua dằn vặt, chiêm nghiệm bản thân, với chút ảnh hưởng từ các nhà thơ Cộng Sản Eluard, Aragon, Neruda, Ritsos, Hitmet..., Chế Lan Viên đã làm cho Thơ Mới mới thêm một lần nữa kể cả nội dung và hình thức, kể cả cảm thức sáng tạo và thi pháp.
Nhà thơ nới rộng không gian Thơ Mới từ tháp ngà nghệ thuật ra giữa vòm trời Nhân Dân và Tổ Quốc, cùng với thế hệ các nhà thơ chống Pháp, đưa thơ từ cặp mắt mỹ nhân, từ nỗi buồn son phấn, rong rêu xuống với đám đông, với bùn đất, với mồ hôi và máu xương cuộc đời thường: "Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ / Cỏ đón giêng hai chim én gặp mùa / Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa / Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa" (Tiếng hát con tàu). Xưa nhà thơ trầm mình trong cái chết, trong hư vô sọ người, thì nay ông được tái sinh trong ròng ròng sự sống, trong thực tại nụ cười và nước mắt, trong sự hòa điệu với triệu người: "Tôi yêu quá cuộc đời như con đẻ / Như đêm xuân người vợ trẻ yêu chồng"..."Tâm hồn tôi khi Tổ Quốc soi vào / Thấy ngàn núi trăm sông diễm lệ" (Chim lượn trăm vòng). Nếu không có Cách Mạng Tháng Tám chắc Chế Lan Viên vẫn còn phải núp vào Chiêm Thành mà khóc than nỗi vong quốc xa xưa, vẫn còn tha thẩn ngoài bãi tha ma vong thân trên chính quê hương mình, sống trong vay mượn kể cả nỗi đầu rơi máu chảy, vay mượn cả thân phận mất nước.
Đến Tổ Quốc mình ông cũng không dám gọi tên lên, không dám thốt lên lời sông Hồng, sông Mã, không dám gọi Trường Sơn lên mà hùng vĩ hồn mình. Phải chăng đây chính là ý nghĩa cứu chuộc, ý nghĩa nhân văn cao cả nhất mà Cách Mạng Tháng Tám mang lại cho không chỉ Chế Lan Viên? Vì vậy, nhà thơ lúc nào cũng rưng rưng nhớ ơn sự tái sinh của Cách Mạng, rơm rớm chạnh niềm đau cũ: "Thuở nước mất nằm mơ còn thấy khóc / Nỗi đau đón đường cướp hết vàng ta" (Nỗi đau ngày cũ). Mỹ học "Ánh sáng phù sa" là mỹ học đớn đau, mỹ học của hạt nảy mầm phải tự chết bản thể hạt đi để tái sinh một đời sống mầm, bản thể mầm thi tứ. Nhà thơ đã về lại sông Ngô siêu hình xưa để lấy lại vàng tâm hồn mình, lấy lại nước mắt hư vô xưa chợt hóa ngọc trai tư tưởng bây giờ: "Xưa ở sông Ngô ta đánh mất vàng / Đánh mất tâm hồn ta. Nhưng hiện tại / Như sông Tương đã trả vàng ta lại / Khắp đôi bờ tư tưởng chói hào quang" (Vàng của lòng tin). Từ "Ánh sáng phù sa", Chế Lan Viên nhân lên hàng chục tập thơ kỳ vĩ khác mà nghệ thuật thi ca đã đạt tới mức toàn bích của sự kết hợp hài hòa giữa phù sa của cảm xúc và ánh sáng của trí tuệ. Ông có công làm thi ca Việt Nam nồng cháy hơn, mê cuồng hơn, trí tuệ hơn, sang trọng và quý phái hơn. Quả thực, "Ánh sáng và phù sa là niềm sửng sốt thứ hai, là đỉnh thứ hai Chế Lan Viên vậy.
Một con người 69 tuổi đã để lại hai lần trong đời mình hai sự kiện có tính chất cột mốc: "Điêu tàn" năm 1937, "Ánh sáng và phù sa" năm 1960, hai lần làm sửng sốt thi đàn, trưng ra hai ông Chế Lan Viên khác nhau như nước với lửa, như hai đỉnh thi ca ngược nhau: một đỉnh âm siêu hình lộn ngược xuống đất và một đỉnh cao hiện thực vút lên trời, tưởng đến thế đã vĩ đại lắm, đã thiên tài lắm. Không dè, Chế Lan Viên sau khi chết đi vẫn còn làm kinh dị, làm sửng sốt nền thơ lần thứ ba, quá tam ba bận, bằng ba tập "Di cảo thơ I , II và III" khổng lồ ngoài sức tưởng tượng.
Đỉnh thơ thứ ba hậu Chế Lan Viên này là đỉnh sâu, đỉnh lộn trái tâm hồn nhà thi hào ra chiều thứ tư của không gian thơ: "Bắt chước đào lộn hột / Vỏ tâm hồn lộn tuốt / Bớt bớt điều kiêng khem" (Lộn trái). Quá trình lộn trái sự vật, lộn trái tâm hồn và tư tưởng, có khi lộn trái cả sự lộn trái, phản biện cả sự phản biện không chỉ là phẩm chất của nhà tư tưởng, mà còn của chính nhà thơ. Hơn nữa, Chế Lan Viên lại là nhà triết học của thi ca, lấy thi ca để làm mềm mại và dịu dàng lại hòn đá tảng triết học, như quá trình tâm hồn hóa tư tưởng, cảm xúc hóa tư duy. Từ bỏ Ma thuở "Điêu tàn" để đi theo Người nơi "Ánh sáng và phù sa", cuối đời, nhất là trước lúc chết vài ba năm, Chế Lan Viên rút vào Viên Tĩnh Viên tạm xa lánh Người để tự theo Mình, để học theo phương pháp bất tử của loài rắn thử lột xác tâm hồn mình, lột xác cả niềm tin và sự hoài nghi mà Marx cho là phẩm chất đẹp nhất của người trí thức, lột xác cả sự lột xác, Anti cả cái Anti.
Trong bài "Tự tìm mình" viết năm 1987, nhà thơ vừa tìm Mình, vừa hoài nghi Mình: "Có một kẻ vô tình trong gió nó là ai kia / Có một kẻ hữu hình trong mùi hương, đấy là anh , chẳng lẽ / Có một cái gì đâu đó / Anh tìm anh thử hỏi làm gì / Tìm phiên bản nào rồi anh cũng đốt đi". Đúng là Chế Lan Viên "Cái gì...cũng tột cùng", tột cùng Chết, tột cùng Sống, tột cùng yêu Đảng, tột cùng đánh giặc, tột cùng hoài nghi bản thân mình, như suốt đời ông mải tìm chiều thứ tư của tồn-tại-tôi, chiều thứ tư của cá nhân - thời gian - tôi, như bài "...Và chiều thứ tư" ông viết năm 1987: "Cái individu anh có ba chiều không gian, một chiều nước chảy / Tất cả những gì mất đi là mất đi trong chiều ấy / Đừng nghe, đừng nghe, đừng nhìn, đừng nhìn, đừng hỏi, đừng hỏi / Cái chiều hư huyễn ấy / Nó mới thật là anh đấy: thời gian".
Nền thơ Việt Nam tự hào vì có Chế Lan Viên, một mình mở rộng thơ ra tất cả các đề tài, từ sao trời đến con đom đóm, từ con người đến con ma, như quá trình lửa - phản Prométhée - trong bài "Prométhée" viết năm 1987: "...Phát minh ra tro phản lửa của mình .../ Phải có tro thì mới có ngày ngọn lửa hồi sinh / Có tro tàn vải liệm / Phủ lên những gì đã cháy, những hoàng hôn và cả những bình minh". Thảo nào, trước khi Chết, Chế Lan Viên di chúc lại hãy đốt xác ông thành tro bỏ vô chùa: "Tro bao giờ cũng tồn tại lâu hơn lửa / Lửa hoan lạc một giây, tro cay đắng một mùa / Anh thiêu tất cả quá khứ thành tro là thơ đấy / Và thiêu hồn anh sau này không là lửa, lại là tro" (Tro và lửa -1988). "Di cảo Thơ" chính là quá trình tro hóa ngọn lửa thi ca một đời thiêu cháy Chế Lan Viên.
Chế Lan Viên - thiên tài đầy mâu thuẫn: vừa là lửa vừa là nước, vừa mê Phật, vừa tôn sùng Chúa, vừa say Cách Mạng. Ông tự xẻ mình ra làm hai mảnh thực tại và siêu hình, vừa theo gót Dante đạt tới ba cõi: địa ngục, luyện tội, thiên đàng, vừa theo Goethe phiêu du tìm niềm vui cõi Người-thực-tại - Faust. Rốt ráo tinh thần "Di cảo thơ" chừng như giấu cả trong bài tứ tuyệt "Tháp Bay-on bốn mặt" này đây: "Anh là tháp Bayon bốn mặt / Giấu đi ba còn lại đấy là anh / Chỉ mặt đó mà nghìn trò cười khóc / Làm đau ba mặt kia trong cõi ẩn hình".
Ba chặng đường thơ quá sức đồ sộ làm sửng sốt thi đàn của Chế Lan Viên đi từ Ma qua Người đến Mình, rồi trước khi chết dường như ông lại lộn về đối thoại với Ma xưa? Phải chăng hành trình khổ đau sinh nở kia chỉ mới là gương mặt Thi Ca nhìn thấy của một Brahma-Sáng tạo Chế Lan Viên? Còn ba gương mặt Brahma siêu hình khác ông phải đau đớn chôn cất trong hồn, nén chúng vào bản thể như nén cà nén dưa, tự giấu hư vô mình đi mà tồn tại, giấu đi cả Siva hủy diệt và Vishnu bảo tồn; như giờ đây Chế Lan Viên hằng sống bằng cách tự giấu mình trong bình tro bé như bình mực của cái chết tại tháp chùa Vĩnh Nghiêm, đặng bất tử trên Niết Bàn Thi Ca cùng với Nguyễn Trãi, Nguyễn Du vậy.
T.M.H.
(Nguồn: FB Tran Manh Hao)

Kí là một thể loại văn xuôi quan trọng của văn học, lấy hiện thực đời sống làm chất liệu cơ bản, phản ánh con người, sự ...
08/09/2026

Kí là một thể loại văn xuôi quan trọng của văn học, lấy hiện thực đời sống làm chất liệu cơ bản, phản ánh con người, sự kiện, cảnh vật có thật thông qua cái nhìn trực tiếp và cảm xúc chủ quan của người viết. Khác với các thể loại văn xuôi hư cấu như truyện ngắn hay tiểu thuyết, kí không sáng tạo sự kiện, nhân vật. Kí xuất phát từ người thật, việc thật, song không phải là sự ghi chép khô khan, thuần túy mang tính tư liệu. Bản chất của kí nằm ở sự kết hợp hài hòa giữa tính chân thực của hiện thực và tính nghệ thuật của ngôn từ, giữa ghi chép đời sống và sự bộc lộ cái tôi cá nhân. Tạp chí Hồng Lĩnh số 238+239 giới thiệu bài viết Đọc ký trong nhà trường: Sức hấp dẫn của một thể loại của Đinh Thanh Huyền

Đọc ký trong nhà trường: Sức hấp dẫn của một thể loại ..

23/08/2026

MỘT SỐ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG NHÂN VẬT
🍀🍀🍀🍀🍀🍀🍀🍀🍀🍀

Ðể xây dựng thành công một nhân vật văn học, nhà văn phải có khả năng đồng cảm, phát hiện những đặc điểm bền vững ở nhân vật. Ðiều này đòi hỏi nhà văn phải hiểu đời và hiểu người. Nhưng có một điều không kém phần quan trọng là nhà văn phải miêu tả, khắc họa nhân vật ấy sao cho có sức thuyết phục mạnh mẽ đối với người đọc. Ðây là vấn đề liên quan trực tiếp đến những biện pháp xây dựng nhân vật trong tác phẩm văn học.

Có nhiều biện pháp khác nhau trong việc xây dựng nhân vật. Ơí đây chỉ xét một số biện pháp chung, chủ yếu nhất: miêu tả nhân vật qua ngoại hình, nội tâm, ngôn ngữ và hành động.

a. Qua ngoại hình.
Ngoại hình là dáng vẻ bên ngoài của nhân vật bao gồm y phục, cử chỉ, tác phong, diện mạo...Ðây là yếu tố quan trọng góp phần cá tính hóa nhân vật.
Nếu như văn học cổ thường xây dựng ngoại hình nhân vật với những chi tiết ước lệ, tượng trưng thì văn học hiện đại thường đòi hỏi những chi tiết chân thực và cụ thể sinh động. M. Gorki khuyên các nhà văn phải xây dựng nhân vật của mình đúng như những con người sống và phải tìm thấy, nêu lên, nhấn mạnh những nét riêng độc đáo, tiêu biểu trong dáng điệu, nét mặt, nụ cười, khóe mắt...của nhân vật.
Ngoại hình nhân vật cần góp phần biểu hiện nội tâm. Ðây cũng chính là sự thống nhất giữa cái bên ngoài và cái bên trong của nhân vật. Vì vậy, khi tính cách, đời sống bên trong của nhân vật thay đổi, nhiều nét bên ngoài của nhân vật cũng thay đổi theo.
Khi xây dựng ngoại hình nhân vật, nhà văn cần thể hiện những nét riêng biệt, cụ thể của nhân vật nhưng qua đó, người đọc có thể nắm bắt được những đặc điểm chung của những người cùng nghề nghiệp, tầng lớp, thời đại...Những nhân vật thành công trong văn học từ xưa đến nay cho thấy nhà văn bao giờ cũng chọn lựa công phu những nét tiêu biểu nhất để khắc họa nhân vật.

b. Qua biểu hiện nội tâm.
Khái niệm nội tâm nhằm chỉ toàn bộ những biểu hiện thuộc cuộc sống bên trong của nhân vật. Ðó là những tâm trạng, những suy nghĩ, những phản ứng tâm lí... của nhân vật trước những cảnh ngộ, những tình huống mà nó gặp phải trong cuộc đời.
Trong quá trình phát triển của lịch sử văn học, việc thể hiện nhân vật qua nội tâm ngày càng có vai trò quan trọng. Trong văn học Việt Nam, so với các giai đoạn trước, Truyện Kiều của Nguyễn Du đã đạt được những thành tựu rực rỡ. Tác phẩm chứng tỏ Nguyễn Du có khả năng nắm bắt một cách tài tình những ý nghĩ, tình cảm sâu kín của nhân vật và diễn tả nó một cách sinh động.
Sự biểu hiện hợp lí và sâu sắc nội tâm góp phần rất lớn tạo nên sức sống của nhân vật. Nói như L. Tônxtôi: "Mục đích chính của nghệ thuật...là nói lên sự thật về tâm hồn con người, nói lên những điều bí ẩn không thể diễn tả bằng ngôn ngữ thông thường được". Ðể làm được điều đó, nhà văn phải hiểu sâu sắc cuộc sống và con người, nắm bắt được những biểu hiện và diễn biến dù nhỏ nhặt nhất đời sống bên trong của nhân vật.

c. Qua ngôn ngữ nhân vật.
Khái niệm ngôn ngữ nhân vật nhằm chỉ những lời nói của nhân vật trong tác phẩm. Lời nói đó phản ánh kinh nghiệm sống cá nhân, trình độ văn hóa, tư tưởng, tâm lí, thị hiếu...Ðằng sau mỗi câu câu nói của mỗi con người đều có lịch sử riêng của nó. Sêđrin cho rằng: "Từ cửa miệng một người nói ra không hề có lấy một câu nào mà lại không thể truy nguyên đến cái hoàn cảnh đã khiến cho nó xuất hiện...Trong cuộc sống, không thể có những hành động, những câu nói mà đàng sau lại không có một lịch sử riêng". Quả là trong cuộc sống không thể có những người nói hoàn toàn giống nhau, vì vậy nhà văn cần phát hiện những nét riêng của ngôn ngữ nhân vật để thể hiện trong tác phẩm.
Trong các tác phẩm tự sự nói chung, lời nói của nhân vật thường chiếm tỉ lệ ít hơn so với ngôn ngữ người kể chuyện nhưng lại có khả năng thể hiện sinh động và khêu gợi cho người đọc hình dung về bản chất, tính cách của nhân vật. Trong đoạn báo ân, báo oán của Truyện Kiều, mặc dù đang hồn lạc phách xiêu, Hoạn Thư vẫn biết lựa điều kêu ca:
"Rằng: Tôi chút dạ đàn bà
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình
Nghĩ cho khi các viết kinh
Ðến khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo
Lòng riêng, riêng những kính yêu
Chồng chung, ai dễ ai chiều cho ai
Trót đà gây việc chông g*i
Cũng nhờ lượng bể tha bài nào chăng?"

Những lời nói trên hoàn toàn phù hợp với con người khôn ngoan, thông minh, lanh lợi, của Hoạn Thư.
Trong các trào lưu văn học hiện thực, việc cá thể hóa nhân vật qua ngôn ngữ nhân vật được nhà văn đặc biệt quan tâm và được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau. Chẳng hạn, nhà văn có thể để cho nhân vật lặp đi lặp lại nhiều lần một số từ hoặc một số câu mà nhân vật thích (Biết rồi, khổ lắm, nói mãi của cụ cố Hồng trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng), có thể để nhân vật sử dụng một số từ địa phương, từ nước ngoài, cách phát âm sai...nhưng dù sử dụng cách nào, ngôn ngữ của nhân vật cũng phải có sự chọn lọc nhằm đạt đến sự thống nhất giữa cá thể hóa và khái quát hóa, đồng thời cũng phải phù hợp với hoàn cảnh và tính cách của nhân vật.

d. Qua hành động nhân vật.
Hành động nhân vật là khái niệm nhằm chỉ các việc làm của nhân vật. Ðây là phương diện đặc biệt quan trọng để thể hiện tính cách nhân vật vì việc làm của mỗi người là căn cứ quan trọng có ý nghĩa quyết định nói lên tư cách, lí tưởng, phẩm chất cũng như những đặc điểm thuộc về thế giới tinh thần của người đó. Hơn nữa, trong các tác phẩm tự sự, tính cách nhân vật không phải ngay từ đầu đã được hình thành trọn vẹn. Chính hành động có tác dụng bộc lộ quá trình phát triển của tính cách và thúc đẩy sự diễn biến của hệ thống cốt truyện...Thông qua các mối quan hệ, sự đối xử giữa các nhân vật trong những tình huống khác nhau, người đọc có thể xác định được những đặc điểm, bản chất của nhân vật.
Thông thường, khi miêu tả hành động nhân vật, nhà văn thường kết hợp với những biểu hiện nội tâm tương ứng vì đằng sau mỗi hành động, bao giờ cũng có một tâm trạng hoặc một động cơ nào đó. Dùng nội tâm để lí giải hành động, sử dụng hành động để làm sáng tỏ nội tâm là một hiện tượng phổ biến trong việc miêu tả nhân vật.
👉
Trên đây là những biện pháp chung nhất trong việc xây dựng nhân vật. Ngoài những biện pháp trên, nhà văn còn có thể khắc họa nhân vật thông qua việc đánh giá của các nhân vật khác trong tác phẩm, thông qua việc mô tả đồ dùng, nhà cửa, môi trường xã hội, thiên nhiên...mà nhân vật sinh sống. Ở những tác phẩm tự sự, ngôn ngữ người kể chuyện là một yếu tố rất quan trọng trong việc bộc lộ, miêu tả và đánh giá nhân vật.
Việc phân biệt các biện pháp xây dựng nhân vật như trên chỉ có tính chất tương đối. Trong thực tế, các biện pháp này nhiều khi không tách rời mà gắn bó chặt chẽ với nhau. Vì vậy, nhiều khi rất khó chỉ ra các biện pháp xây dựng nhân vật dưới một hình thức thuần túy và độc lập. Một điều cũng cần lưu ý là, nắm bắt các biện pháp trên đây cũng chỉ là nhằm mục đích hiểu một cách đầy đủ và chính xác về nhân vật trong tác phẩm văn học.

21/08/2026

NGÔN NGỮ VÀ NHÀ THƠ (Đào Duy Hiệp)

I. Ngôn ngữ
Kinh Thánh kể về chuyện con cháu nhà Noé định xây một cái tháp để lên thăm lại Vườn Eden - nước Thiên đàng sung sướng ngày xưa; nhưng Chúa đã trừng phạt ý định ngông ngạo đó bằng cách làm lộn xộn tiếng “Esperanto” của Ngài đi để con người không bao giờ có thể thực hiện được ý định đó nữa. (Từ bấy, Tháp Babel đi vào điển tích có nghĩa là lộn xộn, mất trật tự; còn có nghĩa là không tưởng). Thế là con người không còn thông cảm được với nhau và coi đó là sự trừng phạt của Chúa.

Song, ngay cả tiếng Esperanto - ngôn ngữ nhân tạo do Zamenhof đã nghĩ ra vào năm 1887 cũng không cứu vãn được tình trạng “lộn xộn”, “mất trật tự” đó. Mỗi quốc gia, cộng đồng vẫn nói tiếng nói của mình.

“Hiện tượng lẫn lộn tiếng nói diễn ra sau ý đồ xây dựng tháp Babel đánh dấu việc đa dạng hoá ngôn ngữ và do đó, truyền thống nguyên thuỷ cũng trở nên đa dạng. Đó là hệ quả của việc tâm trí con người trở nên tối tăm, khiến cho ngôn ngữ đã chuyển dần từ thống nhất thành đa dạng: đây có lẽ là một quá trình tiến hoá bình thường, chứ không chỉ là sự trừng phạt của Chúa Trời. Mallarmé đã viết: "Các ngôn ngữ đều không hoàn chỉnh vì là có nhiều, mà không có một ngôn ngữ tuyệt đỉnh...”(1).

Trong Tạp chí Người đưa tin, Unesco, số 2/1994, Peter Muhlhausler đã cho rằng: bảo tồn sự đa dạng về ngôn ngữ cũng là cách bảo tồn sự đa dạng về cách thức tri nhận thế giới. Người sử dụng ngôn ngữ nào thì có cách tri nhận thế giới theo ngôn ngữ đó: tiếng xứ Wales đã không phân biệt giữa xanh da trời với xanh lá cây và chỉ gọi gọn là glas “vì trong thực tế họ đã không chú ý tới sự khác nhau đó”.

Ngày nay mỗi dân tộc vẫn coi bản ngữ của mình là đẹp nhất thế giới. Trong người Việt chúng ta cái cảm thức về ngữ nghĩa và âm hưởng cao rộng của hai chữ “bầu trời” rất khác âm vang của từ này cùng nghĩa trong các tiếng Pháp, tiếng Rumani, tiếng Anh (“le ciel”; “cerul”; “the sky”). Đó là tính chất võ đoán (chủ quan) của ngôn ngữ: cùng một sự vật, hiện tượng lại được gọi khác nhau. Câu nói của Hugo: “Có từ như một ánh nhìn, có từ như một nụ cười”(2) là nói đến ngôn ngữ của đồng bào ông mà một người ngoại quốc dẫu rất giỏi tiếng Pháp cũng chưa chắc có được cảm thức đó. Rimbaud còn “thấu thị” được màu sắc ngay cả ở những nguyên âm. Sau này Proust còn cảm nhận được màu sắc, hình thái của những tên riêng (con người, địa lí). Âm vang của từ ngữ mang nghĩa do chính cảm thức, quán tính của cộng đồng.
Ngôn ngữ - “cái sản phẩm xã hội lưu giữ trong óc mỗi người” của mỗi cộng đồng là một “con bài bắt buộc” để các thế hệ sau cứ thế mà sử dụng; và là “sự chấp nhận trong một tập thể”, là “một cái gì người ta phải chịu chứ không phải là một quy tắc tự nguyện” (3). Xin lưu ý: các nhà ngôn ngữ học trên thế giới đều thống nhất: “Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu, khẩu ngữ, võ đoán dùng trong các hoạt động giao tiếp của con người” (4). Theo đó, “ngôn ngữ” được hiểu là “lời nói” mà không phải là “chữ viết”.
Lời nói có trước, chữ viết có sau. Tôi coi “chữ” là cái “bóng” của “lời”, như chúng ta phải ra đời rồi mới có cái bóng của mình. “Tử ngữ” là “cái bóng” đã nằm im hay tiếng vang trầm đục vọng tới chúng ta từ một sinh ngữ trong quá khứ. Từ đây, để tránh lầm lẫn giữa “lời” và “chữ”, trong bài viết tôi sẽ thống nhất cách dùng: ngôn ngữ (language - lời nói, tiếng); ngôn từ (language verbal - chữ viết).

Đứa trẻ học nói trước khi học đọc, học viết. Lớn lên nó đi học, biết đọc, biết viết rồi giỏi giang, được coi là người “có chữ”, ngày xưa gọi là người “quân tử”. Kẻ “tiểu nhân” thấy người quân tử từ xa phải vái chào. Quân tử được trọng vọng và được khao khát trong ca dao: “Một đêm quân tử nằm kề/Còn hơn thằng ngọng vỗ về quanh năm" (5). Sự khao khát tinh khiết đó của các cô gái là có lí: ngoài địa vị xã hội, tiền của... người “quân tử” còn nói năng dễ nghe hơn “thằng ngọng” - (đương nhiên, không ai ngây thơ hiểu theo nghĩa đen của từ này). Do áp lực của cặp đối lập “quân tử”/“thằng ngọng” mà ta đã bắt đầu đoán ra được ẩn ý trong câu ca dao trên. Đó là: bằng trực giác, dân gian đã khái quát được con đường đi của “chữ”. “Chữ” vào đầu rồi ra miệng thành “lời” mềm mại “vỗ về” con người.
“Chữ” tác động trở lại cấu trúc nhân cách, trí tuệ.

II. Nhà thơ: từ ngôn ngữ đến ngôn từ thơ

Nhà thơ sẽ tính sao trước “con bài bắt buộc” đó? Con đường dẫn đến bài thơ như thế nào? Bài thơ được làm bằng gì? Chúng ta đã quá quen với việc đọc bài thơ bằng văn bản chữ. Và tưởng đâu đó là câu trả lời. Nhưng có bài thơ chỉ thấy chữ mà không có thơ; và ngược lại, có bài thơ “không có chữ” hay ta quên mất chữ mà lại rất thơ đã khiến ta phải đặt lại vấn đề sáng tạo thơ.

1. Bi kịch thứ nhất của nhà thơ: vật chất hoá “tiếng lòng”

Mọi bài thơ về tình yêu đều chỉ gói gọn trong một câu: “Anh yêu em” (Jacobson). Nhưng không bài nào giống bài nào do “tiếng lòng” của riêng mỗi nhà thơ trước đối tượng yêu. Nói “tiếng lòng” là bao gồm nhiều thứ, trong đó, “tức cảnh sinh tình” là một động lực: một cơn gió thu se lạnh, một tiếng còi tàu, một sớm mùa đông, một ánh mắt, một nụ cười thoáng gặp, một bài hát xưa cũ… Đã có nhiều “Mùa thu” đi vào trong thơ, nhưng “ngữ pháp” của “tiếng lòng” mỗi nhà thơ không giống nhau nên ta đã có những bài thơ thu khác nhau.

Song giữa việc xúc động của “tiếng lòng” với việc “vật chất hoá” nó ra trên trang giấy là hai chuyện khác nhau. Sắp xếp “tiếng lòng” như thế nào cho hay, cho du dương hay có vần điệu để có được “cái thú được nghe lời mình nói” là một việc làm nhọc lòng, nhưng tự nguyện.
Thơ là tự giác. Không ai bắt nhà thơ ngồi vào bàn gửi gắm tâm sự của mình. “Tiếng lòng” giống như những sợi tơ lóng lánh sẽ theo ngòi bút chảy xuống trang giấy “bện” thành các con chữ. Chữ viết là hình thức vật chất hoá ý nghĩ, tư tưởng. Ngôn từ thơ “photo” lại “tiếng lòng” của nhà thơ.

Ai đã sáng tác đều đã có những lúc chập chờn, mộng mị giữa “tiếng lòng” xôn xao với con chữ như lửa với gió: cả hai đều không cầm nắm được. Bài học “thôi”, “xao” của Giả Đảo ngày xưa. Nhà thơ phải làm mới ngôn từ để không bị sáo, rỗng, mòn. Mỗi thời đại có những “hình thái tu từ” (figure de rhétorique) của mình để mang đến một “thực tại” và hình thức mới cho thơ. Giờ đây nhà thơ sẽ rất ít dùng “tình xuân”, “chiều mộng”, “cõi đời”, “xuân hồng”, “giọt lệ”, “giọt châu”, “nét thu”, “mắt nhung”,… với những “chàng”, “nàng” nữa nếu không để đùa vui hay giễu nhại. Trong cuộc sống hôm nay chắc không chị em nào tiễn chồng hay người yêu sang Pháp, lại bịn rịn vẫy tay “chia li” ở sân bay Nội Bài bằng câu: “Chàng đi chân cứng đá mềm nhé. Đến nơi nhớ nhắn tin nhạn về cho thiếp và các con đỡ ngày ngóng đêm mong, giọt sầu vời vợi, dầu hao bấc gầy...”.

Tự thân những từ ngữ, hình ảnh trên không có “tội”, chỉ do thời đại từ chối chúng. Vấn đề thời gian đã nằm ngay trong ngôn ngữ. Nhà thơ phải vượt lên thời gian để lao động thơ.

2. Bi kịch thứ hai của nhà thơ: lao động ngôn từ

Nhà thơ phải tạo ra từ ngôn ngữ chung một thứ “phương ngữ” mang dấu ấn, “thương hiệu” riêng. Giống như đứa trẻ bập bẹ hoặc con người trong buổi bình minh của nhân loại, anh ta tìm cách gọi tên các sự vật, hiện tượng. Thơ vốn được coi là “một ngôn ngữ bí mật”, nhà thơ lao động trên sự bí mật đó. Cái “ngu dại” của nhà thơ chính là ở công việc lao động khổ sai này: anh ta đã không chịu “ăn sẵn” tiếng nói đã tiếp thu từ các thế hệ trước, mà lại đi tìm cách biểu đạt khác, võ đoán về cùng một vấn đề.
Ngôn ngữ được “nâng cấp” trở thành ngôn từ thơ.

Nhà thơ “nhặt” tiếng nói thông tục, hằng ngày đặt cạnh nhau: nhìn nắng anh ta không sợ nhức đầu hay đen da mà lại thấy là “nắng thuỷ tinh”, “vàng bay trong nắng”, “đất thêu nắng”, “nắng tưới”, tôi còn thấy ở Đà Lạt có “nắng lạnh”…; nhìn buổi chiều nhà thơ thấy “chiều lỡ thì”, “chiều mồ côi”; nhìn sương, lại thấy là “sương trinh”, “sương âu yếm”; nhìn mưa, nhà thơ thấy “mưa ái phi”, “mưa sành sứ”, “mưa hoa nhài”…; rồi đến trăng thì nhiều vô kể… Khi lựa chọn những nắng, chiều, sương, mưa để kết hợp với các từ khác thì bỗng nhiên tính võ đoán - “con bài bắt buộc” của ngôn ngữ - bị phá vỡ, bị rơi vào thế tuỳ tiện, không còn nét nghĩa “nhất thành bất biến” nguyên trạng nữa. Một “thực tại” mới đã hiện ra.

Nhà thơ là người viết đè một ngôn từ khác lên tiếng nói sẵn có của cộng đồng: cái bóng mờ ở hậu cảnh là bản ngữ - ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày, nôm na. Anh ta phải lao động cật lực mới mong có được ngôn từ mới cho thơ trong những kết hợp “siêu hình” giữa các từ ngữ. Nhưng khi đã thành tựu, thì hạnh phúc là vô biên. Chỉ có người lao động khổ sai với nó mới hưởng thụ được hết vị ngọt ngào và cay đắng mà nó đem lại. Và do đó, anh ta giàu có hơn, phong phú hơn.

“Chơi với từ không phải là một lạc thú vớ vẩn, mà là cả một hội hè của trí tuệ, bởi vì có ngôn ngữ mới, ta có những tri thức mới”(6).

3. Bài thơ

Khó gọi đích danh: Thơ là gì? Nhưng tham vọng của con người lại là đi tìm cái không thể nắm bắt được đó. “Thơ là sự phân vân giữa âm và nghĩa” (P.Valéry); “Văn xuôi thuộc phía Con người, Thơ ca thuộc phe Thượng đế” (J-P.Sartre); “Thơ là ngôn ngữ trong chức năng thẩm mĩ của nó” (Jacobson); làm thơ là “gán ý nghĩa và nhiệt tình cho những vật vô tri vô giác và là một đặc tính của nhi đồng” (Vico); “Làm thơ là nói để được cái thú nghe lời mình nói. Yêu thơ là yêu những lời nói đẹp”; “Thơ là ngôn ngữ tự lấy mình làm cứu cánh”… Chính định nghĩa của Sartre đã tôn vinh nhà thơ - người sánh vai với Chúa sáng tạo ra ngôn ngữ.

Nhưng, thơ lại được sáng tạo trên sự võ đoán của ngôn ngữ, nên việc định nghĩa nó cũng không thể không rơi vào võ đoán. Mỗi bài thơ hay đều đề nghị một định nghĩa. Vẻ đẹp của thơ là tự trị, không chia sẻ. Nếu coi mỗi bài thơ là một từ vựng (vocabulaire) - cái biểu đạt để định danh cái được biểu đạt thì tính cách võ đoán của mỗi “từ vựng-thơ” đó là tuỳ thuộc vào “tiếng lòng” (chủ quan) của nhà thơ. Có bao nhiêu nhà thơ thì có bấy bài thơ về tình yêu, chiến tranh, tổ quốc, mùa thu, lòng yêu nước,… bấy nhiêu sự võ đoán phong phú, đa dạng như trên 2500 ngôn ngữ trên hành tinh này.

Mỗi bài thơ hay là một định nghĩa cho thơ.
Về cơ bản, ngữ pháp của thơ khác với ngữ pháp điển phạm của văn xuôi. “Ngữ pháp-tiếng lòng” cùng với văn hoá của nhà thơ làm nên “giọng” hay “phong cách” (style) riêng. Đến lượt mình, vốn văn hoá, sự trải nghiệm tác động trở lại cấu trúc “tiếng lòng” của nhà thơ như con đường của “chữ” với người “quân tử” bên trên. Các nhà thơ lớn trên thế giới đều là những con người của “giọng” độc đáo trên cái nền văn hoá sâu sắc, đa diện.

Mỗi thời đại, thế hệ có thi pháp và thẩm mĩ thơ của mình. Nhà thơ “nói chí” của mình bằng tuyệt tác thơ. Mỗi tuyệt tác thơ là một niềm trân trọng tiếng nói dân tộc. Cùng một đề tài, chẳng hạn yêu nước, mỗi nhà thơ có cách diễn đạt khác nhau. “Ôi những cánh đồng quê chảy máu/Dây thép g*i đâm nát trời chiều” thì cũng ngang như: “Ôi Tổ quốc giang sơn hùng vĩ!/Đất anh hùng của thế kỉ hai mươi” hoặc bình dị, gần gũi hơn theo kiểu định nghĩa: “Đất là nơi anh đến trường/Nước là nơi em tắm”… Xét về giá trị nội dung yêu nước, cả ba trường hợp trên đều như nhau; nhưng giá trị thẩm mĩ lại tuỳ thuộc vào sự thẩm định ở mỗi độc giả, thêm vào đó là thẩm mĩ thời đại. Cùng về người con gái Sông Hương: ở Lời kĩ nữ nhà thơ nhập vào hồn cô gái để than thở: “Em sợ lắm…”; còn ở Tiếng hát sông Hương nhà thơ đối thoại cùng nàng rồi hứa hẹn: “Ngày mai…”; dù quyến rũ hay gương mẫu, vẫn đều xót xa, cảm động và cảm thông.
Những chiêm nghiệm, triết lí nhân sinh, bình dị mà sâu xa: “Em bảo Bóng tối không đáng sợ/Vì mắt nó mù không thấy xa”; “Buổi sáng thức dậy/Bắt gặp tình thương đi đưa đám hận thù”; “Cái ác đã ngủ yên trong nhuỵ đắng/Cho đất lành thơm mát đến rưng rưng”; “Chúng ta là đồ chơi của trí nhớ/Hay là đùa dai của những bậc thềm?”; “Và mùa thu thủa ấy bây giờ vẫn lấp lánh nước mắt”; “Mùa thu như người nhập cư già mặc quần áo cũ/Lạc lõng và phiền trách các đổi thay”, “Nước lùa bóng ao lên chót vót/ngập cuống nhau rã phận hoa bìm/lối về thấp thỏm” (7)… Những hình ảnh yêu và buồn.
Tôi nghĩ, thơ Việt Nam đã thành tựu nhiều bài “nói chí” thật hay. Và thơ hay mỗi ngày, bất kể ở đâu, đều đang được các nhà thơ nỗ lực đổi thay qua lao động sáng tạo. Từ đó, mà ngôn ngữ và hồn dân tộc hiện ra.

III. Kết luận
“Khởi đầu là Lời” (Cựu ước).
Bài thơ được làm bằng lời. Qua “tiếng lòng” của nhà thơ ngôn ngữ được cấu trúc lại để tạo thành ngôn từ mới, đẹp, sâu xa và triết lí.
Thời gian thấm vào mỗi dòng thơ; cũng bởi sau thời gian chúng ta mới bắt đầu chiêm nghiệm và kí ức. Thời gian không ngừng trôi qua mỗi dòng thơ như nước chảy qua kẽ tay.

Address

Da Nang

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Khúc hoan ca Văn học posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share