10/09/2026
DÙNG NGƯỜI HAY DÙNG MÌNH?
Càng làm việc với nhiều người, tôi càng thấy một điều thú vị: chúng ta thường dễ hợp tác với người mình thích. Nhưng năng lực hợp tác thật sự có lẽ chỉ bắt đầu khi ta đứng trước một câu hỏi khó hơn: Ta có thể làm việc tử tế, công bằng và hiệu quả với một người mình không thích hay không?
Tôi nói “dùng người” ở đây không phải theo nghĩa biến con người thành công cụ. Tôi cũng không thích cách hiểu rằng lãnh đạo là đứng trên cao, quan sát xem ai có ích thì giữ, ai hết giá trị thì bỏ. Con người không phải là những món đồ trong một hộp dụng cụ. Nhưng nếu bỏ bớt những lớp ngôn từ đẹp đẽ bên ngoài, trong rất nhiều mối quan hệ của đời sống vẫn có một sự thật khá giản dị: chúng ta đến với nhau bởi vì nhìn thấy một giá trị nào đó ở nhau. Trong công việc, người này có năng lực mà tôi cần; người kia có kinh nghiệm tôi chưa có; người giỏi thực thi, người mang lại góc nhìn, người có quan hệ, người cho ta sự tin cậy, có người đơn giản chỉ là đang cùng đi về một mục tiêu. Ngay cả một tình bạn cũng có trao đổi giá trị, chỉ là giá trị ấy đôi khi không phải tiền bạc hay lợi ích vật chất mà là sự có mặt, đồng cảm, niềm vui, cảm giác được hiểu.
Trao đổi giá trị, tự nó, không có gì xấu. Điều đáng bàn nằm ở cách chúng ta trao đổi với nhau: có minh bạch không, có tôn trọng không, có công bằng không, có biết giới hạn không, hay một người đang dùng người kia nhưng phủ lên trên đó một lớp từ ngữ rất đẹp? Có lẽ vì chữ “dùng” nghe hơi g*i nên chúng ta thích những từ khác hơn: truyền cảm hứng, hợp tác, quản trị nhân tài, xây dựng đội ngũ, kết nối, đồng hành. Những từ ấy đều đúng. Nhưng nói cho cùng, trong lãnh đạo vẫn có một việc rất thực tế: nhìn xem một con người có giá trị gì, phù hợp với vai trò nào, nên trao cho họ quyền hạn nào, cần đặt giới hạn gì và hai bên có thể cùng nhau tạo ra kết quả gì.
Vấn đề là chúng ta thường trộn thêm một thứ rất mạnh vào đó: cảm xúc. Tôi thích anh này. Tôi không thích chị kia. Người này nói chuyện hợp với tôi. Người kia cứ xuất hiện là trong lòng tôi tự nhiên… muốn hết giờ làm. Thế rồi rất tự nhiên, ta bắt đầu tin người mình thích hơn, nghe người mình thích nhiều hơn, trao cơ hội cho người mình có thiện cảm hơn. Còn với người làm mình khó chịu, chỉ cần họ sơ suất một chút là não lập tức có đủ bằng chứng: “Thấy chưa, tôi biết ngay mà.” Con người thú vị ở chỗ đó. Não mình đôi khi là một luật sư rất giỏi: có thể nhận vụ trước rồi mới đi tìm chứng cứ sau.
Tôi từng nghĩ trưởng thành là mình phải hết khó chịu. Sau này tôi không còn nghĩ thế. Có người gặp nhau vẫn khó chịu như thường. Có câu nói vẫn chạm đúng nút. Có hành vi vẫn khiến mình thất vọng. Có người mình không muốn ngồi cà phê cùng quá mười lăm phút nhưng làm việc chung lại rất tốt. Và cũng có những người mình cực kỳ quý, có thể nói chuyện từ sáng đến khuya, nhưng nếu rủ góp vốn làm ăn thì… thôi, chúng ta cứ tiếp tục yêu thương nhau bằng một khoảng cách tài chính an toàn.
Thích một người không có nghĩa là hợp tác được với người đó. Và không thích một người cũng không có nghĩa là không thể hợp tác. Có người làm bạn rất tốt nhưng không nên làm đối tác. Có người làm cộng sự cực kỳ tốt nhưng ngoài công việc chẳng biết nói gì với nhau. Có người hợp với mình về tình cảm nhưng không hợp về nguyên tắc. Có người khác mình gần như mọi thứ nhưng lại bổ sung chính xác phần mình thiếu. Chuyện đó bình thường. Có lẽ trưởng thành không phải là biến mọi mối quan hệ thành yêu thương, mà là bắt đầu tách được: đây là cảm xúc của tôi; đây là con người của họ; đây là vai trò của họ; đây là mục tiêu chung; và đây là giới hạn của mối quan hệ này.
Tách ra như vậy không phải để trở nên vô cảm. Ngược lại, tôi nghĩ người có khả năng cảm nhận sâu lại càng cần học điều đó. Bởi một cái đầu lạnh không nhất thiết phải đi cùng một trái tim lạnh, và một trái tim nóng cũng không có nghĩa là phải giao vô lăng cho cảm xúc. Ta có thể giận, có thể thất vọng, có thể thấy bị tổn thương, có thể rất muốn bỏ đi. Nhưng giữa cảm xúc và hành động đôi khi cần có một khoảng trống vừa đủ để ta kịp nhận ra: “À, mình đang giận.” Chỉ một câu ấy thôi đã khác rất nhiều với: “Tôi đang giận, vậy quyết định tôi sắp đưa ra chắc chắn là đúng.”
Điều khó là cảm xúc không phải lúc nào cũng xuất hiện với chiếc bảng tên ghi rõ: “Xin chào, tôi là tự ái.” Có khi nó mặc vest, thắt cà vạt rồi tự giới thiệu: “Tôi là nguyên tắc.” Nỗi sợ tự nhận mình đang thận trọng. Ham thắng tự nhận mình đang bảo vệ lẽ phải. Nhu cầu kiểm soát có thể nói mình đang làm vì tập thể. Thành kiến có thể khoác áo kinh nghiệm. Và đôi khi, sau khi cảm xúc đã đưa ra quyết định xong, lý trí mới được gọi tới để soạn thông cáo báo chí.
Đó là một phần khá tinh vi của con người. Không phải lúc nào chúng ta cũng biết mình đang bị điều gì giật dây. Rất nhiều phản ứng diễn ra cực nhanh và tự động, trước khi ta kịp nhìn rõ bên trong mình đang có chuyện gì. Có những lúc nhận ra ngay, có khi vài ngày sau, và cũng có những chuyện phải mất vài năm, sau vài lần vấp đúng một cái hố, ta mới ngồi xuống và bật cười: “À… hóa ra ngày ấy mình đâu có sáng suốt như mình tưởng.”
Tôi cũng không nghĩ vì vậy mà chúng ta phải sống trong trạng thái soi xét bản thân liên tục: “Liệu tôi đang bị vô thức điều khiển không?” Sống như thế chắc mệt lắm. Cứ sống. Cứ chọn. Cứ chịu trách nhiệm. Cứ nhìn kết quả. Đời nhiều khi là một phòng thực hành rất kiên nhẫn: bài chưa hiểu, nó cho làm lại. Có khi đổi người, đổi công ty, đổi bối cảnh, nhưng câu hỏi thì cứ quen quen. Và qua đủ trải nghiệm, ta dần biết nội lực của mình thật sự tới đâu — chứ không phải nội lực trong câu chuyện mình vẫn kể về chính mình.
Trong hợp tác cũng vậy. Chúng ta hay nói đến “win-win”. Tôi nghĩ win-win không phải một khẩu hiệu đẹp treo trong phòng họp. Nó đơn giản hơn nhiều: hai người còn tiếp tục đi cùng nhau khi cả hai vẫn cảm thấy mình nhận được một giá trị đủ đáng để tiếp tục. Giá trị ấy không nhất thiết bằng nhau, và hai bên cũng chưa chắc nhìn nó giống nhau. Một người có thể nghĩ: “Tôi đã đối xử với anh rất tốt”, trong khi người còn lại nghĩ: “Tôi đang bị đối xử bất công.” Một người nghĩ mình hy sinh, người kia nghĩ đó là nghĩa vụ. Một người nghĩ mình đang tạo cơ hội, người kia lại cảm thấy mình đang bị tận dụng. Khó nhất là không phải lúc nào ai cũng cố tình xấu. Đôi khi hai bên thực sự nhìn cùng một sự việc qua hai hệ quy chiếu rất khác nhau.
Vậy nên tôi ngày càng bớt tin vào câu chuyện: “Chỉ cần mình sống đúng thì mọi mối quan hệ sẽ tốt đẹp.” Không hẳn. Có những mối quan hệ mình đã rất tử tế nhưng vẫn kết thúc. Có người đến để hợp tác. Có người đến để thử giới hạn của nhau. Có người đi cùng được mười năm, có người mười tháng, có người mười ngày đã thấy nên cảm ơn nhau rồi ai về nhà nấy. Nếu gọi đó là nhân duyên thì tôi thích hiểu chữ ấy thật nhẹ: mỗi cuộc gặp đều có thể để lại cho ta một điều gì đó. Không nhất thiết phải giữ tất cả mọi người lại mới chứng minh được rằng mình sống có tình.
Có những mối quan hệ nên tiếp tục nhưng cần đổi cách chơi. Có những mối quan hệ cần thêm giới hạn. Và có những mối quan hệ nên dừng lại. Công tư phân minh, theo tôi, không phải là giả vờ không có cảm xúc. Không phải bị tổn thương mà vẫn mỉm cười nói: “Không sao, chúng ta vì đại cuộc.” Cũng không phải biết người kia liên tục vi phạm nguyên tắc mà vẫn hợp tác bằng mọi giá. Nó có lẽ chỉ là biết cảm xúc nằm ở đâu, nguyên tắc nằm ở đâu, mục tiêu nằm ở đâu và giới hạn nằm ở đâu. Rồi quyết định.
Đặc biệt trong lãnh đạo, chuyện này càng khó. Một người quản lý "còn non" rất dễ dùng một tiêu chuẩn mà chính họ không biết mình đang dùng: “Tôi có thích người này hay không?” Từ đó quyết định ai được gần, ai được nghe, ai được tin, ai có cơ hội, ai được giao việc lớn, và ai mãi mãi nằm ở vùng ngoại biên chỉ vì… không hợp tần số với sếp. Nhưng một tổ chức không thể lớn lên bằng tần số cá nhân của người lãnh đạo.
Một người lãnh đạo trưởng thành hơn có lẽ nên hỏi những câu khó chịu hơn: Người này thật sự giỏi điều gì? Giá trị của họ nằm ở đâu? Vai trò nào phù hợp với họ? Tôi nên tin họ tới mức nào? Đâu là giới hạn cần giữ? Hai bên có mục tiêu chung nào không? Điểm nào giữa chúng tôi chỉ là khác biệt cá nhân, điểm nào là vi phạm nguyên tắc thật sự? Và câu quan trọng nhất: Tôi có đang để thành kiến, tự ái hay cảm xúc làm méo cách nhìn về người này không?
Bởi vậy, “dùng người” không chỉ là biết người khác. Một nửa nghệ thuật dùng người thực ra là hiểu chính mình khi đang dùng người. Biết mình dễ thiên vị kiểu người nào. Biết ai thường kích hoạt tự ái của mình. Biết mình có sợ những người quá giỏi hay không. Biết mình có thích người nghe lời hơn người nói thật không. Biết mình đang trao cơ hội vì năng lực hay vì thân quen. Biết lúc nào mình thật sự đang bảo vệ tổ chức, và lúc nào chỉ đang bảo vệ cái tôi.
Đến đây thì câu chuyện “dùng người” lại quay ngược về “dùng mình”. Mình đang sử dụng cái đầu này thế nào? Sử dụng quyền lực mình có thế nào? Sử dụng cảm xúc thế nào? Sử dụng trải nghiệm quá khứ thế nào? Hay tất cả những thứ đó đang sử dụng mình?
Tôi nghĩ sự tỉnh táo, nếu bóc bớt lớp vỏ trừu tượng, cũng chỉ bắt đầu từ những câu hỏi rất đời như vậy: mình có biết điều gì đang xảy ra trong mình khi mình đang sống và lựa chọn hay không? Càng hiểu mình, có lẽ ta càng bớt cần thao túng người khác, bớt cần chứng minh, bớt những cuộc hơn thua vụn vặt mà cái giá phải trả lại quá đắt; bớt giữ một người chỉ vì sợ mất, bớt đẩy một người đi chỉ vì tự ái, và cũng bớt ép những mối quan hệ đã hết giá trị phải tồn tại chỉ để giữ một hình ảnh đẹp.
Tôi cũng ngày càng ít chắc rằng mình có thể nhìn một lát cắt ngắn của đời người rồi kết luận ai khôn hơn ai. Có người hôm nay thắng một cuộc thương lượng nhưng vài năm sau mới hiểu cái giá của chiến thắng ấy. Có người hôm nay mất một cơ hội nhưng chính cú mất đó lại đẩy họ sang một con đường khác. Không phải để tin rằng có một chiếc cân vô hình nào ngoài kia luôn tự động chia phần công bằng. Chỉ đơn giản là đời dài hơn một khoảnh khắc. Và mình thường biết ít hơn mình tưởng.
Có lẽ dùng người giỏi không phải là có thật nhiều người phục vụ mục tiêu của mình. Mà là có khả năng nhìn một con người tương đối rõ: thấy giá trị của họ nhưng không thần thánh hóa; thấy giới hạn của họ nhưng không phủ định toàn bộ con người; hợp tác khi còn giá trị chung; đặt giới hạn khi cần; rời đi khi không còn phù hợp; và trong toàn bộ quá trình ấy, không quên nhìn lại chính mình.
Bởi đôi khi, người khó “dùng” nhất không phải người đối diện...
Mà là chính mình.