31/12/2021
Một năm mới Hạnh phúc và Bình an đến với các tình yêu của Trung tâm gia sư Tiểu học.😍😍
Cung cấp các kiến thức về học sinh tiểu học.
31/12/2021
Một năm mới Hạnh phúc và Bình an đến với các tình yêu của Trung tâm gia sư Tiểu học.😍😍
Tìm gia sư Tiểu học dạy bé lớp 2 -ONLINE
Dạy tuần 3 buổi tối trên tuần
( sắp xếp với phụ huynh).
Học phí:60K\ buổi (1 tiếng 30 phút / buổi).
Yêu cầu: dạy toán+ tiếng việt, bé ngoan học tốt ( phụ huynh yêu cầu dạy thử 1 buổi) .
Thu phí giới thiệu 150k ( dạy dưới 1 tháng trung tâm sẽ hoàn lại 50℅ phí đã đóng).
Gia sư nhận lớp vui lòng nhắn tin hoặc để lại cmt.
Tìm gia sư Nữ dạy bé gái lớp 4.
Địa chỉ: Ở chợ An Thới ,đường CMT8.
Dạy tuần từ 2-3 buổi ( sắp xếp với phụ huynh).
Học phí:75K\ buổi (1 tiếng 30 phút / buổi).
Yêu cầu: dạy toán+ tiếng việt, bé ngoan học tốt ( phụ huynh yêu cầu dạy thử 1 buổi) .
Thu phí giới thiệu 200k ( dạy dưới 1 tháng trung tâm sẽ hoàn lại 50℅ phí đã đóng).
Gia sư nhận lớp vui lòng nhắn tin hoặc để lại cmt.
01/06/2021
Hè các trung tâm không mở cửa,các khu vui chơi hạn chế do dịch bệnh. Phụ huynh không cần lo lắng hãy liên hệ để tìm gia sư 1-1 tại nhà ! An toàn- Hiệu quả
Facebook :Trung tâm Gia sư Tiểu học
Chào các bạn ,xin lỗi các bạn thời gian vừa qua Page trung tâm gặp sự cố các vấn đề ứng tuyển của các bạn không giải quyết được!
Trung tâm hoạt động lại:
Mã công việc : 04
TÌM GIA SƯ DẠY TOÁN 6 và giúp bé trả lời được các câu hỏi trong SGK môn Ngữ Văn .
Học phí : 100\buổi ( 1,5 giờ)
Thời gian : 17h-18h30 các tối 3,5,7
Bé ngoan ham học,lớp 5 lên lớp 6.
Địa chỉ: đường 30\4 gần chợ Xuân Khánh
Yêu cầu : sư phạm Toán ,có kinh nghiệm dạy cấp 2
Phí giới thiệu : 300k
Lưu ý: gia sư đọc kĩ yêu cầu ,nếu thấy phù hợp hãy để lại tin nhắn cho trung tâm để tránh mất thời gian. Nhận lớp liền thứ 7 tới!
Các đơn xin việc rất nhiều nên không trả lời kịp ,các bạn gia sư thông cảm! Có lớp trung tâm sẽ nhắn lại sau!
Tìm gia sư dạy bé gái lớp 5
Địa chỉ: Ở đường Hoàng Văn Thụ
Dạy 3 buổi tối thứ 3 5 và 7
Học phí:75K\ buổi (1 tiếng 30 phút / buổi)
Yêu cầu: dạy toán cho bé,bé ở mức 8 điểm ôn thi lên mức cao hơn nên yêu cầu gia sư sư phạm Tiểu học hoặc Sư phạm Toán
Thu phí giới thiệu 200k
Tìm Gia sư dạy bé nam lớp 6
Địa chỉ: khu chung cư Hồng Loan, P. Hưng Thạnh Cái Răng , Cần Thơ
Lịch dạy sắp xếp với phụ huynh theo giờ rảnh.
Học phí:85K\ buổi ( 1 tiếng 30 phút / buổi)
Yêu cầu dạy được các môn ở mức cơ bản nhất và kèm kỹ là được.Không yêu cầu cao do bé có học thêm một số môn. Ưu tiên chuyên ngành sư phạm
Phụ huynh dễ thương.Bé rất ngoan và nghe lời.
Thu phí giới thiệu 250k
Tìm gia sư dạy bé nam lớp 4
Địa chỉ: Ở đường Lê Bình
Dạy từ 3 buổi tối tùy sắp xếp
Học phí:75K\ buổi
( 1 tiếng 30 phút / buổi)
Phụ huynh dễ thương, yêu cầu dạy nhiệt tình.
Thu phí giới thiệu 200k
25/03/2021
Ở bài viết hôm nay sẽ nói về năng lực ở phân môn Tự nhiên và Xã hội
Yêu cầu quan trọng của môn TN-XH là giúp HS hình thành và phát triển được năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội bao gồm ba năng lực thành phần:
a) Nhận thức môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh: Nhận biết ở mức độ cơ bản, ban đầu về một số sự vật, hiện tượng và mối quan hệ trong môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh như sức khoẻ và sự an toàn trong cuộc sống; Mối quan hệ của HS với gia đình, nhà trường, cộng đồng và thế giới tự nhiên; Phân biệt được sự vật và hiện tượng này với sự vật và hiện tượng khác dựa trên một số tiêu chí đơn giản.
b) Tìm tòi, khám phá môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh: Quan sát và đặt được các câu hỏi đơn giản về các sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội xung quanh và sự thay đổi của chúng; Sử dụng được những dụng cụ đơn giản để quan sát; Biết đọc để tìm thông tin, điều tra, thực hành đơn giản để tìm hiểu về sự vật, hiện tượng, mối quan hệ trong tự nhiên và xã hội xung quanh; Thu thập và ghi lại được các dữ liệu đơn giản từ quan sát, thực hành; Từ kết quả quan sát, thực hành rút ra được nhận xét về những đặc điểm bên ngoài, so sánh sự giống, khác nhau giữa các sự vật, hiện tượng xung quanh và sự thay đổi của chúng theo thời gian một cách đơn giản.
c) Vận dụng kiến thức vào thực tiễn, ứng xử phù hợp với tự nhiên và xã hội: Vận dụng kiến thức để mô tả, giải thích được một số sự vật, hiện tượng, mối quan hệ trong tự nhiên và xã hội xung quanh; Ứng xử phù hợp trong các tình huống có liên quan đến vấn đề sức khoẻ của bản thân, gia đình và cộng đồng.
20/03/2021
Ở bài trước chúng ta đã tìm hiểu năng lực đặc thù của môn Toán ,ở bài viết này chúng ta tiếp tục tìm hiểu yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù của môn Tiếng Việt. Gồm 2 năng lực là năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học.
a) Năng lực ngôn ngữ
Đọc đúng, trôi chảy và diễn cảm văn bản; hiểu được nội dung chính của văn bản, chủ yếu là nội dung tường minh; bước đầu hiểu được nội dung hàm ẩn như chủ đề, bài học rút ra từ văn bản đã đọc.
Ở cấp tiểu học, yêu cầu về đọc gồm yêu cầu về kĩ thuật đọc và kĩ năng đọc hiểu. Đối với học sinh các lớp đầu cấp (lớp 1, lớp 2), chú trọng cả yêu cầu đọc đúng với tốc độ phù hợp và đọc hiểu nội dung đơn giản của văn bản. Đối với học sinh lớp 3, lớp 4 và lớp 5, chú trọng nhiều hơn đến yêu cầu đọc hiểu nội dung cụ thể, hiểu chủ đề, hiểu bài học rút ra được từ văn bản.
Môn Ngữ văn góp phần hình thành, phát triển ở học sinh những phẩm chất chủ yếu và năng lực chung theo các mức độ phù hợp với môn học, cấp học đã được quy định tại Chương trình tổng thể.
Từ lớp 1 đến lớp 3, viết đúng chính tả, từ vựng, ngữ pháp; viết được một số câu, đoạn văn ngắn; ở lớp 4 và lớp 5 bước đầu viết được bài văn ngắn hoàn chỉnh, chủ yếu là bài văn kể, tả và bài giới thiệu đơn giản.
Viết được văn bản kể lại những câu chuyện đã đọc, những sự việc đã chứng kiến, tham gia, những câu chuyện do học sinh tưởng tượng; miêu tả những sự vật, hiện tượng quen thuộc; giới thiệu về những sự vật và hoạt động gần gũi với cuộc sống của học sinh. Viết đoạn văn nêu những cảm xúc, suy nghĩ của học sinh khi đọc một câu chuyện, bài thơ, khi chứng kiến một sự việc gợi cho học sinh nhiều cảm xúc; nêu ý kiến về một vấn đề đơn giản trong học tập và đời sống; viết một số kiểu văn bản như: bản tự thuật, tin nhắn, giấy mời, thời gian biểu, đơn từ,...; bước đầu biết viết theo quy trình; bài viết cần có đủ ba phần (mở bài, thân bài, kết bài).
Trình bày dễ hiểu các ý tưởng và cảm xúc; bước đầu biết sử dụng cử chỉ, điệu bộ thích hợp khi nói; kể lại được một cách rõ ràng câu chuyện đã đọc, đã nghe; biết chia sẻ, trao đổi những cảm xúc, thái độ, suy nghĩ của mình đối với những vấn đề được nói đến; biết thuyết minh về một đối tượng hay quy trình đơn giản.
Nghe hiểu với thái độ phù hợp và nắm được nội dung cơ bản; nhận biết được cảm xúc của người nói; biết cách phản hồi những gì đã nghe.
b) Năng lực văn học
Phân biệt văn bản truyện và thơ (đoạn, bài văn xuôi và đoạn, bài văn vần); nhận biết được nội dung văn bản và thái độ, tình cảm của người viết; bước đầu hiểu được tác dụng của một số yếu tố hình thức của văn bản văn học (ngôn từ, nhân vật, cốt truyện, vần thơ, so sánh, nhân hoá). Biết liên tưởng, tưởng tượng và diễn đạt có tính văn học trong viết và nói.
Đối với học sinh lớp 1 và lớp 2: nhận biết được văn bản nói về ai, về cái gì; nhận biết được nhân vật trong các câu chuyện, vần trong thơ; nhận biết được truyện và thơ.
Đối với học sinh lớp 3, lớp 4 và lớp 5: biết cách đọc diễn cảm văn bản văn học; kể lại, tóm tắt được nội dung chính của câu chuyện, bài thơ; nhận xét được các nhân vật, sự việc và thái độ, tình cảm của người viết trong văn bản; nhận biết được thời gian và địa điểm, một số kiểu vần thơ, nhịp thơ, từ ngữ, hình ảnh đẹp, độc đáo và tác dụng của các biện pháp tu từ nhân hoá, so sánh. Hiểu được ý nghĩa hoặc bài học rút ra từ văn bản. Viết được đoạn, bài văn kể chuyện, miêu tả thể hiện cảm xúc và khả năng liên tưởng, tưởng tượng.
15/03/2021
Ở bài những bài viết tiếp theo chúng ta sẽ tìm hiểu cụ thể năng lực đặc của từng phân môn,bài viết hôm nay là năng lực thể hiện ở môn Toán. Năng lực toán học bao gồm các thành tố cốt lõi sau: Năng lực tư duy và lập luận toán học; năng lực mô hình hóa toán học; năng lực giải quyết vấn đề toán học; năng lực giao tiếp toán học; năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán.
1. Về năng lực tư duy và lập luận toán học
Biểu hiện của năng lực này là học sinh thực hiện được các hành động sau:
- So sánh; phân tích; tổng hợp; đặc biệt hóa, khái quát hóa; tương tự; quy nạp; diễn dịch.
- Chỉ ra được chứng cứ, lí lẽ và biết lập luận hợp lí trước khi kết luận.
- Giải thích hoặc điều chỉnh cách thức giải quyết vấn đề về phương diện toán học.
Ví dụ: Giáo viên cho học sinh thực hiện yêu cầu bài tập, như sau:
Sơ đồ dưới đây mô tả vòng đời phát triển của một loài bướm ở Châu Phi:
(Sơ đồ là ảnh bên dưới bài viết )
Mỗi con bướm trưởng thành sẽ chết sau khi sinh ra trứng nhộng. Như vậy, mỗi con bướm trưởng thành sống được bao lâu?
Học sinh thảo luận nói cho bạn nghe, lý giải cho bạn nghe ý kiến của mình.
Như vậy, thông qua việc tính toán để chỉ ra chứng cứ khi lập luận con bướm trưởng thành sống được bao nhiêu ngày, học sinh có cơ hội được phát triển năng lực tư duy và lập luận toán học.
2. Về năng lực mô hình hóa toán học
Biểu hiện của năng lực này là học sinh thực hiện được các hành động sau:
- Sử dụng các mô hình toán học (gồm công thức, phương trình, bảng biểu, đồ thị,…) để mô tả các tình huống đặt ra trong các bài toán thực tế.
- Giải quyết các vấn đề toán học trong mô hình được thiết lập.
Ví dụ: Giáo viên cho học sinh thực hiện yêu cầu bài tập, như sau:
Lá cờ đỏ sao vàng trên đỉnh cột cờ Lũng Cú, Hà Giang nơi địa đầu Tổ quốc có diện tích là 54m2, tượng trưng cho 54 dân tộc cùng chung sống trên đất nước Việt Nam. Theo em, lá cờ hình chữ nhật đó có chiều dài và chiều rộng là bao nhiêu mét?
Để trả lời câu hỏi trên từ tình huống thực tiễn tìm chiều dài, chiều rộng của lá cờ, học sinh thảo luận đưa về mô hình toán học: tìm chiều dài, chiều rộng của hình chữ nhật khi biết diện tích của nó.
Khi giải quyết trên mô hình toán học, học sinh sẽ tìm được các chiều rộng, chiều dài khác nhau: 6 và 9; 1 và 54; 2 và 27; 3 và 18. Học sinh có thể vẽ mô phỏng các lá cờ hình chữ nhật khác nhau tương ứng với kích thước tìm được.
Học sinh sẽ thống nhất chọn lá cờ có chiều dài là 9m và chiều rộng là 6m.
Như vậy, thông qua tìm hiểu, phân tích vấn đề chưa có cách giải quyết, học sinh tìm cách đưa vấn đề về mô hình toán học đã biết cách giải quyết, qua đó học sinh có cơ hội được phát triển năng lực mô hình hóa toán học.
3. Về năng lực giải quyết vấn đề toán học
Biểu hiện của năng lực này là học sinh thực hiện được các hành động sau:
- Nhận biết, phát hiện được vấn đề cần giải quyết bằng toán học.
- Đề xuất, lựa chọn được cách thức, giải pháp giải quyết vấn đề.
- Sử dụng được các kiến thức, kĩ năng toán học tương thích (bao gồm các công cụ và thuật toán) để giải quyết vấn đề đặt ra.
- Đánh giá giải pháp đề ra và khái quát hóa cho vấn đề tương tự.
Ví dụ: Giáo viên cho học sinh thực hiện yêu cầu bài tập, như sau:
Chào mừng ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh 26 tháng 3, lớp em tổ chức cắm trại. Lớp có 60m dây thừng được sử dụng để tạo ra ba cạnh của một vùng cắm trại hình chữ nhật có một bức tường dài được sử dụng như một cạnh còn lại. Độ dài của mỗi cạnh hình chữ nhật đều là số tự nhiên. Hỏi diện tích lớn nhất mà dây thừng và bức tường có thể bao bọc là bao nhiêu?
- Học sinh cùng quan sát hình vẽ để phân tích bài toán.
- Học sinh thảo luận, đưa ra các ý kiến cá nhân.
- Học sinh thống nhất phương án của nhóm mình.
Thông qua quá trình phân tích, thảo luận và đưa ra phương án giải quyết của nhóm mình, học sinh có cơ hội được phát triển năng lực, học sinh có cơ hội được phát triển năng lực giải quyết vấn đề toán học.
4. Về năng lực giao tiếp toán học
Biểu hiện của năng lực này là học sinh thực hiện được các hành động sau:
- Nghe hiểu, đọc hiểu và ghi chép được các thông tin toán học cần thiết được trình bày dưới dạng văn bản toán học hay do người khác nói hoặc viết ra.
- Trình bày, diễn đạt (nói hoặc viết) được các nội dung, ý tưởng, giải pháp toán học trong sự tương tác với người khác (với yêu cầu thích hợp về sự đầy đủ, chính xác).
- Sử dụng hiệu quả ngôn ngữ toán học (chữ số, chữ cái, kí hiệu, biểu đồ, đồ thị, các liên kết logic,…) kết hợp với ngôn ngữ thông thường hoặc động tác hình thể khi trình bày, giải thích và đánh giá các ý tưởng toán học trong sự tương tác (thảo luận, tranh luận) với người khác.
Ví dụ: Tình huống hoạt động trong bài “Thực hành mua bán, trao đổi tiền tệ” tích hợp vào hoạt động giáo dục “Sắm cỗ Trung thu” như sau:
- Giáo viên chia lớp thành 3 nhóm lớn gồm:
+ Nhóm 1: Những người bán hàng
+ Nhóm 2: Khách hàng (nhóm ngày có nhiều tổ khác nhau)
+ Nhóm 3: Giám sát, đánh giá và bình chọn.
- Các nhóm tổ chức thực hiện:
+ Nhóm 1 thực hiện trưng bày sản phẩm (mô phỏng các loại hoa quả) đã được chuẩn bị, gắn giá bán lên các loại hoa quả, kêu gọi khách đến mua hàng của mình.
Giá bán các loại hoa quả:
TT Tên sản phẩm Giá Số lượng
1 Chuối 20.000đ/ 1 nải 5
2 Ổi 1000đ/ 1 quả 10
3 Bưởi 10.000đ/ 1 quả 5
4 Cam 3000đ/ 1 quả 10
5 Na 1000đ/ 1 quả 15
6 Vú sữa 500đ/ 1 quả 20
7 Chôm chôm 500đ/ 1 quả 15
8 Thanh long 2000đ/ 1 quả 10
Người bán hàng nhận tiền khi người mua hàng trả tiền và trả lại đúng số tiền thừa cho khách hàng.
+ Nhóm 2 thực hiện chọn hàng để sắm cỗ Trung thu đẹp và tiết kiệm nhất; mua hàng, đưa đúng số tiền cho người bán hàng dựa vào giá mỗi mặt hàng và số lượng mua các mặt hàng.
+ Nhóm 3 tiến hành giám sát, đánh giá sau khi đi từng nhóm, từng tổ để kiểm tra quá trình thực hiện trao đổi, mua bán có đúng hay không; bình chọn nhóm có cỗ Trung thu đẹp và tiết kiệm nhất.
Như vậy, thông qua hoạt động mua bán giả định, học sinh được cùng nhau thảo luận, trao đổi và đưa ra quyết định của mình đã tạo cơ hội cho học sinh được phát triển năng lực giải quyết vấn đề và năng lực giao tiếp toán học.
5. Về năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán
Biểu hiện của năng lực này là học sinh thực hiện được các hành động sau:
- Biết tên gọi, tác dụng, quy cách sử dụng, cách thức bảo quản các đồ dùng, phương tiện trực quan thông thường, phương tiện khoa học công nghệ (đặc biệt là phương tiện sử dụng công nghệ thông tin), phục vụ cho việc học toán.
- Sử dụng thành thạo và linh hoạt các công cụ, phương tiện học toán, đặc biệt phương tiện khoa học công nghệ để tìm tòi, khám phá và giải quyết vấn đề toán học (phù hợp với đặc điểm nhận thức lứa tuổi).
- Chỉ ra được các ưu điểm, hạn chế của những công cụ, phương tiện hỗ trợ để có cách sử dụng hợp lí.
Ví dụ: Tình huống hoạt động dạy học trong bài “Tính chu vi” như sau:
- Giáo viên chia lớp thành các nhóm, phát cho các nhóm, mỗi nhóm 4 tờ giấy hình vuông và yêu cầu các nhóm thực hành vẽ rồi tô màu các hình
- Sau đó các nhóm thảo luận và cho biết: trong các hình tô màu đó những hình nào có cùng chu vi với mảnh giấy?
Quá trình thực hành thao tác trên các mảnh giấy đã giúp học sinh có cơ hội được phát triển năng lực sử dụng công cụ và phương tiện toán học.