Bổ Trợ Phật Học - Trung Tâm Chí Dũng

Bổ Trợ Phật Học - Trung Tâm Chí Dũng Chuyên trang các lớp bổ trợ Phật Học tại Trung Tâm Chí Dũng phục vụ nghiên cứu thuộc về lãnh vực KHXH&NV (không phải tôn giáo).

23/09/2026
21/09/2026

Nhật hành tu tiến - Ban trưa - 21/9/2026

Kinh Tăng Chi Bộ
Thực hiện: Ngọc Quí

PODCAST “Người Trí Thức Học Phật” || CHUYỆN NÀNG ASITÀBHÙ (TIỀN THÂN ASITÀBHÙ)” | Series Truyện Tiền Thân—Với chủ đề Pod...
21/09/2026

PODCAST “Người Trí Thức Học Phật” || CHUYỆN NÀNG ASITÀBHÙ (TIỀN THÂN ASITÀBHÙ)” | Series Truyện Tiền Thân
—
Với chủ đề Podcast tuần này, chúng ta sẽ cùng đi vào phân tích “Truyện Tiền Thân số 234 : Chuyện Nàng Asitàbhù (Asitābhū Jātaka)”.

Qua tích truyện, chúng ta sẽ được kể về hành trình tìm kiếm sự giải thoát của nàng Asitàbhù (tiền thân của một nữ Tỳ-kheo-ni đắc quả A-la-hán). Khi bị vua cha trục xuất vào rừng sâu, chồng nàng là hoàng tử Brahmadatta đã rũ bỏ ân tình phu thê, chạy theo bóng dáng ảo ảnh của một nữ thần chim và bỏ rơi nàng. Đứng trước sự bạc bẽo ấy, thay vì oán thán hay chìm trong bi lụy, nàng Asitàbhù đã tìm đến Bồ-tát (lúc bấy giờ là một vị ẩn sĩ khổ hạnh) để xin đề mục thiền quán. Nhờ nỗ lực tinh tấn, nàng đã chứng đắc các Thắng trí và Thiền chứng, bay lên hư không để từ giã người chồng bội bạc, bỏ lại hoàng tử trong sự ân hận tột cùng vì thói tham lam, si mê dục vọng mà đánh mất đi người vợ hiền đức.

Một khía cạnh khác của câu chuyện mang đến bài học sâu sắc về sự thức tỉnh và chuyển hóa nỗi đau thành động lực tu tập. Sự ruồng rẫy của người đời đôi khi lại là nhân duyên lớn lao giúp hành giả nhìn thấu bản chất vô thường, từ đó chặt đứt sợi dây luyến ái trói buộc thế gian — "như ngà bị cưa đứt, không thể gắn lại được". Tích truyện nhắc nhở chúng ta rằng, hạnh phúc đích thực không nằm ở việc bám víu vào tình cảm dễ đổi thay hay chạy theo những ham muốn huyễn hoặc, mà nằm ở sự tự tại của nội tâm khi đã đoạn trừ phiền não và tận diệt tham ái.

Sẽ còn nhiều khía cạnh khác trong tích truyện được vấn hỏi và khai thác, để làm sáng rõ ý nghĩa, ứng dụng cho con đường tu tiến. Kính mời quý vị cùng dành thời gian lắng nghe để nhận được sự hữu ích từ việc tìm hiểu các câu chuyện Tiền Thân.
—
[Trích dẫn nguồn tra cứu]
Vị Trí Chính Thức Trong Tam Tạng (Chánh Tạng)
Vị trí của truyện Bổn Sanh này trong Chánh Tạng Kinh Điển Pali được xác định như sau:

+ Tạng (Piṭaka): Tạng Kinh (Sutta Piṭaka)

+ Bộ (Nikāya): Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka Nikāya)

+ Phần: Kinh Bổn Sanh (II) (Jātaka)

+ Chương (Nipāta): Chương Hai (Chương Hai Kệ / Chương Hai Pháp) (Dukanipāta Jātaka)

+ Phẩm (Vagga): Phẩm IX - Phẩm Chiếc Giày (Upāhanavagga)

+ Số thứ tự truyện: Truyện Tiền Thân số 234 (Truyện thứ 04 trong phẩm này) || Chuyện Nàng Asitàbhù (Asitābhū Jātaka).

***Lưu ý: Các nội dung này thuộc về Phật học nằm trong lãnh vực Khoa học xã hội và nhân văn, không phải Phật giáo (thuộc về Tôn giáo)
---
234. CHUYỆN NÀNG ASITÀBHÙ (Tiền thân Aistàbhù)

Nay chính nhờ chàng làm...,

Câu chuyện này, bậc Ðạo Sư kể trong khi trú tại Kỳ Viên về một thiếu nữ.

Ở Xá-vệ, trong gia đình một người hầu hạ hai vị Ðại đệ tử của bậc Ðạo Sư, có một thiếu nữ tuyệt sắc. Khi nàng lớn lên, nàng được gả cho một gia đình tương xứng. Nhưng người chồng không nghĩ gì đến nàng, thường tham đắm vui chơi các chỗ khác. Nàng không để ý đến sự vô lễ của chồng đối với mình, đã mời hai vị Ðại đệ tử đến để cúng dường bố thí, nghe pháp và chứng quả Dự lưu. Từ đấy trở đi nàng sống an lạc trong đạo và quả. Về sau nàng nghĩ: "Chồng ta không cần ta, ta không có việc gì phải sống trong gia đình, vậy ta sẽ xuất gia". Vì vậy, nàng báo tin cho cha mẹ rồi xuất gia và chứng quả A-la-hán.

Việc làm của nàng được các Tỷ-kheo biết đến. Một hôm, tại Chánh pháp đường, các Tỷ-kheo bắt đầu nói chuyện này:

- Thưa các Hiền giả, người con gái của gia đình ấy cố gắng đi tìm mục đích tối thượng. Biết được người chồng không kể gì đến mình, nàng cúng dường hai vị Ðại đệ tử, rồi nghe pháp với hai vị ấy và được an trú trong quả Dự lưu. Sau đó nàng xin phép mẹ cha, xuất gia và chứng quả A-la-hán. Như vậy, này các Hiền giả, thiếu nữ ấy đã đạt mục đích đối thượng.

Trong lúc ấy, bậc Ðạo Sư đến và hỏi:

- Này các Tỷ-kheo, các ông hội họp và bàn vần đề gì?

Khi nghe vấn đề trên, Ngài nói:

- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay thiếu nữ gia đình này đi tìm mục đích tối thượng. Thuở trước, nàng cũng đã làm như vậy rồi.

Rồi bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.

*

Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì xứ Ba-la-nại, Bồ-tát xuất gia làm vị ẩn sĩ khổ hạnh đạt được các Thắng trí, và các Thiền chứng rồi sống tại khu vực Hy-mã-lạp-sơn. Lúc bấy giờ, vua Ba-la-nại thấy con mình là hoàng tử Brahmadatta đầy uy nghi, oai vệ, sinh nghi ngờ, và đuổi con ra khỏi quốc độ.

Hoàng tử đem theo vợ mình tên Asitabhù, đi vào Tuyết sơn, ăn cá, thịt, các loại rau quả và trú tại một am thất bằng lá. Hoàng tử thấy một nữ thần chim và đam mê nàng; chàng muốn lấy nàng làm vợ, không đếm xỉa đến Àsitàbhù.

Aistàbhù thấy chồng mình đi theo nữ thần liền nghĩ: "Người này không đếm xỉa gì đến ta, và đi theo nữ thần, vậy cần nó làm gì?"

Nghĩ vậy tâm nàng không vui, nàng đi đến gặp Bồ-tát, đảnh lễ, và xin ngài dạy cho nàng một đối tượng để quán tưởng.

Nàng nhìn vào đối tượng ấy, rồi phát triển các Thắng trí và các Thiền chứng. Nàng đi đến Bồ-tát, và đảnh lễ rồi trở về đứng trước cửa thảo am của mình.

Bấy giờ Brahmadatta đi theo nữ thần chim, nhưng tìm khắp không thấy được con đường nữ thần chim ấy đi, chàng thất vọng, hướng mặt về phía chòi lá của mình. Asitàbhù thấy chồng đi đến, bèn bay lên hư không, đứng trên tầng trời có màu sắc châu báu, và nói:

- Này Tôn giả trẻ tuổi, nhờ chàng ta đã chứng được an lạc thiền định này.

Và nàng đọc bài kệ đầu:

Nay chính nhờ chàng làm,
Ta hết say đắm dục,
Như ngà bị cưa đứt,
Không thể gắn lại được.

Nói vậy xong, trước mắt chàng, nàng bay lên hư không và đến một chỗ khác. Khi nàng đi rồi, hoàng tử Brahmadatta than thở qua bài kệ thứ hai:

Như tham lam quá độ,
Làm tâm trí si mê
Cướp đi mọi công đức,
Ta đánh mất vợ ta!

Hoàng tử khóc than với bài kệ này, rồi sống một mình trong rừng. Khi vua cha băng hà, chàng trở về nhận vương quốc.

*

Khi thuyết Pháp thoại này xong, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:

- Lúc bấy giờ, hoàng tử và công chúa là hai người này, còn vị ẩn sĩ khổ hạnh là Ta vậy.

Trong Kinh Giáo Giới La-hầu-la ở rừng Ambala (Trung Bộ Kinh, MN 61), Đức Phật sử dụng hình ảnh một con voi chiến để chỉ ...
20/09/2026

Trong Kinh Giáo Giới La-hầu-la ở rừng Ambala (Trung Bộ Kinh, MN 61), Đức Phật sử dụng hình ảnh một con voi chiến để chỉ ra hiểm họa của việc cố ý nói dối. Điều đáng chú ý ở đây không chỉ nằm ở lời khuyên “không nói dối”, mà còn ở cách hình ảnh con voi được sử dụng để làm rõ mức độ nguy hiểm của hành vi này.

1. Hình ảnh con voi chiến
Đức Phật trước hết đưa ra hình ảnh một con voi của vua, đã được huấn luyện và thường có mặt ở chiến trường. Khi chiến đấu, con voi sử dụng nhiều bộ phận khác nhau của cơ thể:

“...ví như một con voi của vua, có ngà dài như một cán cày, to lớn, khéo luyện, thường có mặt ở chiến trường. Khi lâm trận, con voi này dùng hai chân trước, dùng hai chân sau, dùng phần thân trước, dùng phần thân sau, dùng đầu, dùng tai, dùng ngà, dùng đuôi, nhưng bảo vệ cái vòi...” (MN 61)

Ở giai đoạn này, con voi vẫn còn giữ lại cái vòi, không sử dụng nó để chiến đấu. Vì vậy, nó vẫn chưa “quăng bỏ mạng sống của mình”.

Nhưng khi con voi sử dụng cả cái vòi để chiến đấu, Đức Phật mô tả:

“Nhưng khi con voi của vua... dùng đầu, dùng tai, dùng ngà, dùng đuôi, dùng vòi... ‘Con voi của vua (như vậy) đã quăng bỏ mạng sống của mình, và nay con voi của vua không có việc gì mà không làm.’” (MN 61)

Điểm quan trọng của hình ảnh này nằm ở sự thay đổi giữa hai trạng thái: con voi vẫn bảo vệ cái vòi và con voi sử dụng cả cái vòi để chiến đấu. Chính từ sự thay đổi này, Đức Phật chuyển sang giáo giới về hành vi nói dối.

2. Từ con voi đến người nói dối
Ngay sau hình ảnh con voi, Đức Phật trực tiếp nối dụ ngôn với trường hợp của La-hầu-la:

“Cũng vậy, này Rahula, đối với ai biết mà nói láo, không có tàm quý, thời Ta nói rằng người ấy không có việc ác gì mà không làm. Do vậy, này Rahula, ‘Ta quyết không nói láo, dầu nói để mà chơi’, này Rahula, Ông phải học tập như vậy.” (MN 61)

Câu này chính là điểm tựa để hiểu phép tương ứng trong toàn bộ hình ảnh.

Ở đoạn trước, con voi sau khi sử dụng cả cái vòi được mô tả là:

“...đã quăng bỏ mạng sống của mình, và nay con voi của vua không có việc gì mà không làm.”

Sau đó, đối với người “biết mà nói láo, không có tàm quý”, Đức Phật cũng nói rằng:

“...người ấy không có việc ác gì mà không làm.”

Hai câu có cùng cấu trúc “không có việc gì mà không làm”. Vì vậy, phép tương ứng của dụ ngôn có thể được trình bày như sau: con voi tương ứng với người được giáo giới; việc sử dụng cái vòi trong chiến đấu tương ứng với việc cố ý nói dối; và trạng thái “không có việc gì mà không làm” tương ứng với người đã không còn tàm quý đối với việc nói dối.

3. Vì sao hình ảnh cái vòi lại được đặt ở vị trí này?
Trong hình ảnh con voi, khi lâm trận, nó có thể sử dụng chân, thân, đầu, tai, ngà và đuôi để chiến đấu, nhưng vẫn bảo vệ cái vòi. Chỉ khi nó sử dụng cả cái vòi, Đức Phật mới nói rằng con voi đã “quăng bỏ mạng sống của mình” và “không có việc gì mà không làm”.

Đặt cạnh lời giáo giới về nói dối, có thể thấy lời nói dối được đặt vào vị trí tương ứng với hành động dùng cả cái vòi để chiến đấu.

Như vậy, vấn đề không đơn thuần là một người đã nói một lời sai sự thật. Điểm được Đức Phật nhấn mạnh là trường hợp “biết mà nói láo, không có tàm quý”. Khi một người đã cố ý nói dối mà không còn tàm quý đối với hành vi ấy, Đức Phật nói rằng người ấy có thể đi đến chỗ “không có việc ác gì mà không làm”.

Đây cũng là lý do lời giáo giới được kết lại rất rõ ràng:

“Ta quyết không nói láo, dầu nói để mà chơi.” (MN 61)

4. Không chỉ nói dối khi có mục đích nghiêm trọng
Điểm đáng chú ý trong câu kết là cụm “dầu nói để mà chơi”. Lời giáo giới không chỉ được đặt trong trường hợp một người nói dối vì một mục đích nghiêm trọng, mà còn bao gồm cả trường hợp nói dối để đùa.

Vì vậy, trong bối cảnh giáo giới cho La-hầu-la, vấn đề được đặt ra không phải là tìm một trường hợp đặc biệt để biện minh cho lời nói dối, mà là học tập một nguyên tắc rõ ràng:

“Ta quyết không nói láo, dầu nói để mà chơi.”

Hình ảnh con voi chiến vì thế trở thành một phép tương ứng để làm rõ mức độ của hành vi nói dối: khi con voi còn giữ lại cái vòi, nó vẫn chưa “quăng bỏ mạng sống”; khi nó dùng cả cái vòi để chiến đấu, nó được mô tả là đã “không có việc gì mà không làm”. Tương tự, người biết mà nói dối, không có tàm quý được Đức Phật nói là người “không có việc ác gì mà không làm”.

Kết
Điểm cốt lõi của đoạn kinh nằm ở chính sự đối chiếu giữa con voi chiến và người cố ý nói dối. Đức Phật không giải thích dụ ngôn bằng một chuỗi liên tưởng tự do, mà sau hình ảnh con voi đã trực tiếp nối nó với trường hợp của La-hầu-la bằng câu “Cũng vậy, này Rahula...”.

Do đó, khi đọc đoạn kinh này, phép tương ứng cần được giữ ở những gì chính đoạn kinh đã nối lại: con voi – người được giáo giới; việc dùng cả cái vòi để chiến đấu – việc biết mà nói dối, không có tàm quý; “không có việc gì mà không làm” – “không có việc ác gì mà người ấy không làm”.

Và giáo giới cuối cùng được xác lập bằng một lời học tập dứt khoát:

“Ta quyết không nói láo, dầu nói để mà chơi.”

20/09/2026

Nhật hành tu tiến - Ban trưa - 20/9/2026

Kinh Tăng Chi Bộ
Thực hiện: Ngọc Quí

19/09/2026

Nhật hành tu tiến - Ban trưa - 19/9/2026

Kinh Tăng Chi Bộ
Thực hiện: Ngọc Quí

Chính thức trở lại vào học kỳ 3 năm 2026, với sự phối hợp của 2 Dự Án:1. Dự án Triết học cộng đồng lần 11.2. Dự án Người...
19/09/2026

Chính thức trở lại vào học kỳ 3 năm 2026, với sự phối hợp của 2 Dự Án:
1. Dự án Triết học cộng đồng lần 11.
2. Dự án Người Trí Thức Học Phật lần 5.
Đăng ký: https://forms.gle/iA55cdZ8zaH4XWLS9
***
Chủ đề: DẪN VÀO TRIẾT PHẬT.
1. Lịch trình sinh hoạt: 18:00, thứ 7 hằng tuần. Từ đầu tháng 10 đến hết tháng 12.
2. Phân loại thành viên tham dự:
(i) Ban tổ chức: giảng sư và người giúp việc tổ chức tham gia trọn kỳ [hoàn lại 70% phí tham gia vào cuối kỳ];
(ii) Thành viên cộng sự: Hoàn thành đầy đủ recap và hình ảnh mỗi buổi học, đồng thời đăng nội dung đó lên 2 group: Phật học và Siêu lý; [hoàn lại 50% phí tham gia vào cuối kỳ nếu hoàn thành đầy đủ, không đủ thì không được hoàn lại, chấm điểm kết thúc vào 15/12/2026];
(iii) Thành viên dự thính: tham dự với học phí 600.000vnđ/ dự án.
***
* Dự án được bảo trợ bởi quỹ: Khai Trí Kiến Minh, và Trung Tâm Chí Dũng.
** Toàn bộ chi phí thu được từ dự án sẽ góp vào quỹ Xây Dựng Làng Tỉnh Thức.
*** Quỹ Khai Trí Kiến Minh tài trợ 3 suất học bổng toàn phần và 5 suất học bổng bán phần cho 8 ứng viên phù hợp nhất, phần đăng ký ứng tuyển học bổng sẽ được thông báo sau.
LỊCH TRÌNH VÀ NỘI DUNG DỰ KIẾN NHƯ SAU
1. Gặp mặt học viên dự án, 3/10
2. Triết học - Khoa học & Phật học, 10/10
3. Phân biệt Phật học và Phật giáo, 17/10
4. Lịch sử truyền thừa: từ sơ kỳ đến hiện đại, 24/10
5. Tam tạng kinh điển: lý thuyết triết học toàn diện, 31/10
6. Tổng quan về Abhidhamma: môn triết học của đạo Phật, 7/11
7. Đối chiếu Duy thức học của Bắc truyền và Siêu lý học Nam truyền, 14/11
8. Phật học còn hơn một triết thuyết hiện sinh , 21/11
9. Năm chiều kích trong tư tưởng Phật học, 28/11
10. Giá trị thực tiễn của Phật học đối với đời sống, 5/12
11. Vị trí luận (paṭṭhāna): siêu việt thuyết, 12/12
12. Tổng kết dự án, 19/12.

18/09/2026

Nhật hành tu tiến - Ban trưa - 18/9/2026

Kinh Tăng Chi Bộ
Thực hiện: Ngọc Quí

17/09/2026

Nhật hành tu tiến - Ban trưa - 17/9/2026

Kinh Tăng Chi Bộ
Thực hiện: Ngọc Quí

Address

Số 22/48, Đường Mạc Đĩnh Chi, Ninh Kiều, Cần Thơ
Can Tho
94000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Bổ Trợ Phật Học - Trung Tâm Chí Dũng posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The School

Send a message to Bổ Trợ Phật Học - Trung Tâm Chí Dũng:

Shortcuts

Share