Quyền Xích Lô

Quyền Xích Lô

Share

hỗ trợ và chăm sóc sức khỏe trẻ em.

01/12/2025

🩺 1. Nhận định bệnh lý (Đông y)
Đau thần kinh tọa thường thuộc:
Thấp – Hàn – Thấp Nhiệt tý (đau dọc mặt sau chân)
Khí trệ – Huyết ứ (đau dữ dội, cố định)
Thận hư – Can huyết hư (đau mạn, tê, yếu chân)
Kinh Bàng Quang – Kinh Đởm bị trở trệ theo đường đi của dây thần kinh
Đường đi đau: mông → mặt sau đùi → bắp chân → gót → lòng bàn chân → ngón út
→ chính là đường kinh Bàng Quang + nhánh kinh Đởm.

🌟 2. Ứng dụng Ngũ Du huyệt
A. HUYỆT HỢP – mạnh nhất trong đau lưng, đau chân
Hợp chủ trị “nghịch khí → giáng xuống”, rất hiệu quả trong đau thần kinh tọa.
1. UB40 – Uỷ Trung
Hợp của kinh Bàng Quang
→ Chủ trị “lưng đau, chân đau”, kinh đi qua hông – mông – chân
→ Đây là huyệt kinh điển cho đau thần kinh tọa.
2. GB34 – Dương Lăng Tuyền
Hợp của kinh Đởm
→ Trị đau mặt ngoài – sau chân, đau dạng co rút, tê chân.

B. HUYỆT KINH – trị đau dọc đường kinh
UB60 – côn Lôn
Kinh huyệt Bàng Quang
→ Giảm đau lưng dưới, hông, mặt sau chân.
GB38 – Dương Phụ
Kinh huyệt Đởm
→ Đau lan dọc mặt ngoài đùi – chân.

C. HUYỆT TĨNH – HUỲNH (trị cấp tính, đau dữ dội)
Dùng khi đau lan nhanh, nóng rát, viêm.
UB67 (Chí Âm) – Tỉnh
UB66 (Thông Cốc) – Huỳnh
→ Giảm đau tập trung vùng chi dưới theo đường Bàng Quang.

🌟 3. Ứng dụng Huyệt Khích (giảm đau cấp, đau nhói)
UB63 – Kim Môn → Khích của Bàng Quang
→ Đau cấp, đau lan mạnh xuống chân.
GB36 – Ngoại Khâu → Khích của Đởm
→ Đau kiểu kim châm, đau lan mặt ngoài chân.
KI5 – Thủy Tuyền → Khích của Thận
→ Đau do Thận hư gây yếu lưng – chân.

🌟 4. Ứng dụng Nguyên – Lạc
A. Kinh Bàng Quang
UB64 (Kinh Cốt – Nguyên)
UB58 (Phi Dương – Lạc về Thận)
→ Thông bế tắc vùng lưng – chân, tê lan bàn chân.
B. Kinh Đởm
GB40 (Khâu Khư – Nguyên)
GB37 (Quang Minh – Lạc về Can)
→ Đau mặt ngoài chân – hông.

🌟 5. Ứng dụng Du – Mộ (khi đau do tạng phủ suy)
A. Thận hư (đau mạn, tê, yếu chân, đau âm ỉ)
Thận Du (BL23)
Kinh Môn (GB25)
→ Bổ Thận – mạnh gân xương.
B. Bàng Quang bị thấp – hàn
Bàng Quang Du (BL28)
Trung Cực (CV3)
→ Thấp hàn – tê mông – đau lạnh chân.

🌟 6. Hệ thống huyệt Đổng Thị đặc hiệu đau thần kinh tọa
(Lý luận Đổng Thị, không mô tả kỹ thuật châm)
Hoạt Nhân
Thượng Tứ Hoành
Hạ Tứ Hoành
Tĩnh Huyệt
→ Đặc hiệu cho đau thắt lưng – thần kinh tọa.

🌟 7. Ứng dụng theo thể bệnh
A. Hàn Thấp tý (gặp lạnh đau tăng, nặng chân, khó cúi)
Huyệt tiêu biểu:
UB40, UB60
UB23
GB34
B. Thấp Nhiệt (đau nóng rát, tê buốt)
UB40
UB66, UB67
GB34, GB38
C. Huyết ứ – khí trệ (đau cố định, sắc tím)
UB63, GB36
UB57 (thư cân vùng bắp chân)
D. Thận hư – đau mạn, tái phát
BL23 + GB25
KI3 (Thái Khê)
KI10 (Âm Cốc)

🌟 8. Tóm tắt 10 huyệt hay dùng nhất cho đau thần kinh tọa
UB40 – chủ trị đau lưng – chân (huyệt chính)
UB57 – đau cẳng chân – gót
UB60 – đau dây thần kinh hông
GB34 – đau mặt ngoài chân – hông
GB30 (theo lý luận đường kinh vùng mông)
GB36 – đau cấp
UB63 – khích huyệt giảm đau nhanh
UB23 – thận hư đau mạn
GB37 – đau lan mặt ngoài chân
KI3 – bổ Thận, mạnh gân xương

29/11/2025

Phong trì tứ thích

Tại huyệt phong trì có thể tiến hành bốn phương pháp châm như sau:

(1) Phương pháp châm xiên: Còn được gọi là phương pháp châm tuần kinh, khi châm mũi kim hướng về khóe mắt, hướng vào trong, lên trên mà châm xiên vào sâu 1 – 1,5 thốn, thủ pháp dùng niệm chuyển tả pháp, thứ nhất có thể sơ phong tán tà, sử dụng trong điều trị ngoại cảm, viêm kết mạc cấp tính, đau đầu, đặc biệt thích hợp sử dụng trong điều trị giai đoạn cấp tính của các chứng viêm nhiễm; thứ hai có thể thanh can lợi đảm, thường dùng trong điều trị huyền vựng, ù tai, tăng huyết áp.

(2) Phương pháp châm bằng (bình thích pháp): Còn được gọi là phương pháp châm thông kinh, khi châm mũi kim hướng về bờ thân đốt sống cùng bên, tiến kim theo phương ngang, có tác dụng thông kinh hành khí, tuyên tý chỉ thống, thường dùng trong điều trị đau vai, đau cánh tay, đau lưng, tý quyết, đau đám rối thần kinh bả vai.

(3) Phương pháp châm sâu: Còn được gọi là phương pháp châm thông quan, khi châm mũi kim hướng về lồi thanh quản tiến kim vào sâu, có tác dụng thông quan lợi khiếu, giáng nghịch khai bế, thường dùng trong điều trị yên hầu tắc trở, liệt hành tủy, quan cách (bí tiểu + ẩu thổ), chứng mất giọng, rối loạn biểu hiện cảm xúc không tự nguyện.

(4) Phương pháp châm ngang: Cò được gọi là phương pháp châm đối xứng, khi châm thì mũi kim hướng về huyệt phong trì bên đối thấu thích, thứ nhất có thể sơ thông kinh lạc, hoạt huyết hóa ứ, thường dùng trong điều trị chứng huyết mạch ứ tắc tại vùng cục bộ chẳng hạn như cứng cổ, lạc chẩm, thoái hóa đốt sống cổ, b**g gân cổ gáy; thứ hai có thể dưỡng huyết, ích tủy, kiện não, cải thiện tuần hoàn đốt sống – nền, thường dùng trong điều trị trúng phong, di chứng sau trúng phong, chóng mặt, chứng hay quyên, alzheimer.

Huyệt phong trì là huyệt quan trọng của kinh túc thiếu dương đảm tại vùng cổ, được vận dụng rộng rãi trong thực tiễn lâm sàng, nhưng đối với việc định vị, phương pháp châm và công dụng của huyệt phong trì vẫn tồn tại nhiều bàn luận. Tôi căn cứ vào kinh nghiệm lâm sàng mà đưa ra các quan điểm như sau: ① Định vị: Đã từ rất lâu, trong giáo trình “Châm cứu học” và “Du huyệt học” đều đưa ra cách định vị huyệt phong trì như sau: “Huyệt phong trì nằm ở phía sau gáy, tại vị trí hõm nằm phía trên của cơ ức đòn chũm và cơ thang, ngang với huyệt phong phủ”, tức là muốn lấy huyệt phong trì thì tham chiếu vị trí của huyệt phong phủ. Huyệt phong phủ có vị trí tại trung điểm của đường chân tóc sau gáy đi lên khoảng 1 thốn, nhưng đối với mỗi người khác nhau thì đường chân tóc của con người có sự khác biệt rất lớn, do đó nếu lấy huyệt phong phủ làm tiêu chuẩn tham chiếu thì rất dễ xảy ra sai sót. Vậy nên, căn cứ vào kinh nghiệm lâm sàng và kết cấu giải phẫu cục bộ, tôi điều chỉnh lại phương pháp lấy huyệt phong phủ như sau: “trên đường chính giữa phía sau, nằm giữa đốt sống cổ thứ nhất và thứ hai, tại hõm phía trên bờ trên mỏm g*i đốt sống cổ thứ hai.” Căn cứ vào đó mà lấy huyệt phong trì.

Khi tiến hành châm tại huyệt phong trì cần chú ý các điểm sau: ① Cần phải biện chứng, biện bệnh chính xác: Chẩn đúng bệnh, lấy đúng huyệt, tinh chuẩn, linh hoạt vận dụng huyệt phong trì, sử dụng phương pháp châm và thủ pháp hợp lí nhất. ② Cần phải nắm rõ kết cấu giải phẫu và tuần hành kinh mạch tại vùng huyệt phong trì: Cần nghiên cứu chuyên sâu và nắm vững phương hướng châm kim và độ sâu châm kim đối với huyệt phong trì, như vậy mới có thể linh hoạt vận châm, du nhẫn hưu dư. ③ Thủ pháp thực hiện cần khéo léo linh hoạt: Thao tác thực hiện cần tinh tế, chuẩn xác, đắc khí thì ngừng lại, bệnh nhân cảm thấy đau thì dừng lại, đồng thời khi châm cần chú ý tới cảm nhận của bệnh nhân, phát huy tối đa sự tương tác giữa kim và huyệt.

Huyệt phong trì có vị trí đặc thù, tại tầng sâu của huyệt có động mạch đốt sống, khoang dưới nhện, đầu trên của tủy sống và đầu dưới của hành tủy, là vị trí của trung tâm hô hấp và tuần hoàn, rất dễ xảy ra sự cố. Do đó khi vận dụng huyệt vị này, y gia cần phải nắm vững giải phẫu cục bộ của huyệt, thận trọng tiến kim, tránh làm tổn thương động mạch đốt sống, hành tủy và tủy sống, tránh gây ra sự cố ngoài ý muốn.
trích châm cứu tân ngộ

Photos from Quyền Xích Lô's post 19/11/2025

TẢN MẠN VUI CHÚT VỀ CHÂM CỨU:
VÔ CHIÊU THẮNG HỮU CHIÊU

Hôm trước ngồi nhâm nhi ly cà phê cùng thầy Ngưu. Mình có hỏi về việc làm sao để đạt cảnh giới cao trong châm cứu. Thầy vừa nói vừa cười:" ông cứ làm đi, khi nào quên hết huyệt, quên hết công thức mà bệnh khỏi là khi đó đạt cảnh giới cao rồi." Thời gian này làm nhiều, ngẫm lại lời thầy quả thật cao thâm.
Phải chăng, Học châm cứu thực sự giống hệt học võ: ban đầu phải có chiêu – nhưng cuối cùng phải đạt tới “vô chiêu” ????

1. Châm cứu không thể chỉ dựa vào công thức:
Các phương huyệt và bài châm chỉ là khuôn mẫu để bắt đầu.
Chúng hữu ích khi:
- Bạn mới học
- Cần hình dung tổng thể
- Cần hướng dẫn ban đầu
Nhưng nếu chỉ biết áp công thức, thì:
- Gặp bệnh nhân khác với "mẫu học" sẽ lúng túng
- Gặp bệnh khó không giải được.
- Lúc nào cũng phải “nhìn sách”.
- Không thể phát huy được linh hoạt của tứ chẩn – biện chứng
- Đông y là biện chứng, không phải “lắp ráp huyệt”.

2. Giống như võ học: thoát chiêu mới nhập đạo
Trong võ:
Giai đoạn 1: luyện chiêu
Giai đoạn 2: hợp chiêu
Giai đoạn 3: quên chiêu
Giai đoạn cuối: vô chiêu
Trong châm cứu cũng vậy:
Học công thức — biết huyệt, biết phối huyệt.
Hiểu lý luận — nắm âm dương, tạng tượng, kinh lạc.
Biện chứng — mỗi bệnh nhân, mỗi trạng thái, mỗi thời điểm tạo ra tổ hợp huyệt khác nhau.
Tùy cơ – ứng biến — xem mạch, nhìn sắc, nhìn thần, cảm khí là biết nên dùng huyệt nào; không cần sách.
Đây chính là “vô chiêu thắng hữu chiêu” trong châm cứu.

3. Uyển chuyển nhưng không tùy tiện:
Uyển chuyển trong châm cứu không có nghĩa là làm loạn, mà là:
Hiểu cơ chế bệnh
Cảm được năng lượng của bệnh.
Nắm được nguyên tắc bổ tả
Biết lấy ít trị nhiều
Biết “một huyệt đúng còn hơn mười huyệt sai”
Uyển chuyển = sáng tạo dựa trên nguyên lý
Tùy tiện = làm theo cảm giác không có sự dẫn dắt của lý luận
Chúng hoàn toàn khác nhau nhé!

4. Khi nào châm cứu đạt cảnh giới cao?
Khi chỉ cần:
Nhìn sắc mặt
Nghe giọng nói
Sờ chẩn
Nghe hơi thở
Xem mạch
Là biết ngay nên dùng 1–3 huyệt nào để điều trị.
Lúc đó, châm cứu không còn là công thức, mà là:
- Sự giao cảm giữa khí của thầy thuốc và khí của người bệnh.
- Một Đạo
- Một nghệ thuật.

Ấy là chỗ mà cổ nhân gọi:
“Không dùng chiêu mà chiêu tự tại;
không cầu pháp mà pháp vô biên.”

Đó chính là cảnh giới tối cao của Châm Đạo vậy.

---------------------------
Kim châm nhập lý hỏi hàn ôn,
Khí mạch tùy cơ vận chuyển tôn.
Học giả thủ chiêu như thủ pháp,
Y gia dụng đạo tự thành ngôn.

Hữu pháp nan trừ thiên biến bệnh,
Vô chiêu khả độ vạn loạn cơn.
Tâm tĩnh thủy minh thông bệnh tượng,
Châm thành nhất kích đắc thần hồn.

Đà nẵng ngày mưa
19/11/2025

( Bài viết dưới góc nhìn cá nhân, ắt không khỏi thiếu sót. Mong các châm hữu hoan hỷ và góp ý ạ)

08/08/2025

Có bạn hỏi... vấn đề này rất lý thú...thường gặp...

Trong y học cổ truyền Đông y, hai chứng trạng "Âm hư sinh nội nhiệt" và "Dương hư sinh ngoại hàn" là những biểu hiện bệnh lý liên quan đến sự mất cân bằng âm dương trong cơ thể. Để giải thích và phân tích biện chứng luận trị các chứng này, ta cần hiểu rõ khái niệm âm dương, cơ chế bệnh sinh, triệu chứng lâm sàng, và cách điều trị theo nguyên tắc biện chứng của Đông y. Dưới đây là phân tích chi tiết:

---

# # # **1. Âm hư sinh nội nhiệt**

# # # # **Giải thích khái niệm**
- **Âm hư**: Âm là yếu tố đại diện cho sự tĩnh, mát, dưỡng chất, và chất lỏng trong cơ thể (như tân dịch, huyết). Âm hư là trạng thái âm khí hoặc tân dịch trong cơ thể suy giảm, dẫn đến thiếu sự nuôi dưỡng và làm mát các tạng phủ.
- **Nội nhiệt**: Khi âm hư, cơ thể thiếu chất lỏng để kiềm chế dương khí (dương mang tính chất động, nóng). Dương khí tương đối thịnh, gây ra hiện tượng "nội nhiệt" (nhiệt sinh ra từ bên trong cơ thể).

# # # # **Cơ chế bệnh sinh**
- Âm hư dẫn đến sự mất cân bằng âm dương, trong đó âm không đủ để kiểm soát dương. Dương khí trở nên quá vượng, sinh ra nhiệt bên trong cơ thể.
- Các tạng thường liên quan đến âm hư bao gồm **Thận**, **Can (gan)**, **Phế (phổi)**, và **Tâm (tim)**, vì đây là các tạng liên quan mật thiết đến tân dịch và huyết.
- Nguyên nhân gây âm hư có thể bao gồm:
- Lao tâm lao lực quá độ, làm hao tổn tân dịch.
- Bệnh mãn tính kéo dài, làm suy kiệt âm chất.
- Uống ít nước, ăn uống thiếu chất, hoặc sống trong môi trường nóng ẩm lâu dài.
- Sử dụng quá nhiều thuốc hoặc thực phẩm có tính nóng (như rượu, đồ cay).

# # # # **Triệu chứng lâm sàng**
- **Biểu hiện của âm hư**:
- Gầy yếu, mệt mỏi, chóng mặt, ù tai.
- Miệng khô, họng khô, khát nước nhưng không muốn uống nhiều.
- Mất ngủ, hồi hộp, hay quên (do Tâm âm hư).
- Đau lưng, mỏi gối (do Thận âm hư).
- **Biểu hiện của nội nhiệt**:
- Cảm giác nóng trong người, sốt nhẹ về chiều hoặc ban đêm (triều nhiệt).
- Đổ mồ hôi trộm (mồ hôi khi ngủ).
- Má đỏ, lòng bàn tay bàn chân nóng.
- Tiểu tiện vàng, ít; đại tiện táo bón.
- Lưỡi đỏ, ít hoặc không rêu, mạch Tế Sác (nhỏ, nhanh).

# # # # **Biện chứng luận trị**
- **Nguyên tắc điều trị**: Tư âm thanh nhiệt (bổ sung âm chất và làm mát cơ thể để loại bỏ nội nhiệt).
- **Phương pháp điều trị**:
1. **Dược liệu**:
- Sử dụng các vị thuốc tư âm dưỡng chất như: **Sa sâm**, **Mạch môn**, **Thục địa**, **Hoài sơn**, **Kỷ tử**, **Hà thủ ô**.
- Nếu có nội nhiệt rõ, thêm các vị thanh nhiệt như **Tri mẫu**, **Hoàng bá**, **Sinh địa**.
- Ví dụ bài thuốc: **Lục vị địa hoàng hoàn** (bổ Thận âm) gia giảm với **Tri mẫu**, **Hoàng bá** để thanh nhiệt.
2. **Châm cứu**:
- Huyệt vị: **Thái khê (Thận 3)**, **Tam âm giao (Tỳ 6)**, **Thận du (Bàng quang 23)** để tư âm.
- Huyệt thanh nhiệt: **Khúc trì (Đại trường 11)**, **Hợp cốc (Đại trường 4)**.
3. **Chế độ sinh hoạt**:
- Tránh lao tâm lao lực, nghỉ ngơi đầy đủ.
- Uống đủ nước, ăn thực phẩm mát như rau xanh, trái cây (lê, táo).
- Tránh thức khuya, tránh đồ ăn cay nóng hoặc rượu bia.

# # # # **Phân tích biện chứng**
- Âm hư sinh nội nhiệt là hiện tượng **hư nhiệt**, tức nhiệt sinh ra do thiếu âm, không phải do ngoại tà xâm nhập. Vì vậy, điều trị tập trung vào bổ âm là chính, kết hợp thanh nhiệt để giải quyết triệu chứng.
- Cần phân biệt với **thực nhiệt** (nhiệt do ngoại tà hoặc dương quá vượng), vì thực nhiệt cần thanh nhiệt mạnh hơn và không cần bổ âm.

---

# # # **2. Dương hư sinh ngoại hàn**

# # # # **Giải thích khái niệm**
- **Dương hư**: Dương đại diện cho sự động, ấm, năng lượng, và chức năng hoạt động của cơ thể. Dương hư là trạng thái dương khí suy yếu, dẫn đến thiếu sự ấm áp và năng lượng để duy trì hoạt động của các tạng phủ.
- **Ngoại hàn**: Khi dương khí không đủ để sưởi ấm cơ thể, hàn khí (lạnh) sẽ biểu hiện ở bên ngoài, gây ra cảm giác lạnh ở bề mặt cơ thể hoặc các chi.

# # # # **Cơ chế bệnh sinh**
- Dương hư dẫn đến giảm khả năng sưởi ấm và vận hành khí huyết, khiến cơ thể dễ bị hàn khí xâm nhập hoặc tự sinh hàn từ bên trong.
- Các tạng thường liên quan đến dương hư là **Tỳ**, **Thận**, và **Tâm**. Trong đó, **Thận dương** là gốc của dương khí toàn thân.
- Nguyên nhân gây dương hư:
- Sống lâu dài trong môi trường lạnh, ẩm.
- Ăn uống thực phẩm lạnh, sống (như đồ ăn sống, lạnh).
- Bệnh mãn tính làm hao tổn dương khí.
- Tuổi già, cơ thể suy yếu tự nhiên.

# # # # **Triệu chứng lâm sàng**
- **Biểu hiện của dương hư**:
- Sợ lạnh, tay chân lạnh, đặc biệt là đầu chi.
- Mệt mỏi, uể oải, thiếu sức sống.
- Đau lưng, mỏi gối, yếu sinh lý (do Thận dương hư).
- Tiêu chảy mãn tính, phân lỏng (do Tỳ dương hư).
- **Biểu hiện của ngoại hàn**:
- Cảm giác lạnh toàn thân, đặc biệt ở tay chân.
- Da nhợt nhạt, môi tái.
- Tiểu tiện trong, dài; đại tiện lỏng.
- Lưỡi nhạt, rêu trắng mỏng, mạch Trầm Hoãn (sâu, chậm).

# # # # **Biện chứng luận trị**
- **Nguyên tắc điều trị**: Ôn bổ dương khí, tán hàn (làm ấm cơ thể, bổ sung dương khí, và xua tan hàn khí).
- **Phương pháp điều trị**:
1. **Dược liệu**:
- Sử dụng các vị thuốc ôn bổ dương khí như: **Phụ tử**, **Quế chi**, **Can khương**, **Đỗ trọng**, **Ba kích**, **Nhục quế**.
- Nếu hàn rõ, thêm các vị tán hàn như **Tế tân**, **Ma hoàng**.
- Ví dụ bài thuốc: **Kim quỹ thận khí hoàn** (bổ Thận dương) hoặc **Lý trung thang** (bổ Tỳ dương) gia giảm.
2. **Châm cứu**:
- Huyệt vị: **Quan nguyên (Nhâm mạch 4)**, **Khí hải (Nhâm mạch 6)**, **Mệnh môn (Đốc mạch 4)** để ôn bổ dương khí.
- Huyệt tán hàn: **Hợp cốc (Đại trường 4)**, **Phong trì (Đởm 20)**.
3. **Chế độ sinh hoạt**:
- Giữ ấm cơ thể, đặc biệt vào mùa đông.
- Ăn thực phẩm tính ấm như gừng, thịt bò, thịt dê.
- Tránh ăn đồ lạnh, sống; hạn chế tiếp xúc với môi trường lạnh, ẩm.

# # # # **Phân tích biện chứng**
- Dương hư sinh ngoại hàn là hiện tượng **hư hàn**, tức hàn do thiếu dương khí, không đủ sức chống lại hàn tà. Điều trị tập trung vào ôn bổ dương khí là chính, kết hợp tán hàn để giải quyết triệu chứng.
- Cần phân biệt với **thực hàn** (hàn do ngoại tà xâm nhập), vì thực hàn cần tán hàn mạnh hơn và không cần bổ dương.

---

# # # **So sánh và phân tích mối quan hệ biện chứng**
1. **Điểm chung**:
- Cả hai chứng đều là biểu hiện của sự mất cân bằng âm dương trong cơ thể.
- Đều thuộc nhóm bệnh **hư chứng** (hư âm hoặc hư dương), không phải thực chứng do ngoại tà trực tiếp gây ra.
- Điều trị đều dựa trên nguyên tắc bổ sung phần hư (âm hoặc dương) để khôi phục cân bằng.

2. **Điểm khác biệt**:
- **Âm hư sinh nội nhiệt**: Liên quan đến thiếu hụt tân dịch và âm chất, dẫn đến nhiệt bên trong. Triệu chứng thiên về nóng, khô, và mất ngủ.
- **Dương hư sinh ngoại hàn**: Liên quan đến thiếu hụt dương khí, dẫn đến lạnh bên ngoài. Triệu chứng thiên về lạnh, mệt mỏi, và yếu chi.
- **Điều trị**:
- Âm hư cần tư âm thanh nhiệt (bổ âm, làm mát).
- Dương hư cần ôn bổ dương khí, tán hàn (làm ấm, bổ dương).

3. **Mối quan hệ biện chứng**:
- Âm và dương có mối quan hệ hỗ căn, tức âm hư lâu ngày có thể dẫn đến dương hư, và ngược lại. Ví dụ, Thận âm hư kéo dài có thể làm tổn thương Thận dương, hoặc Tỳ dương hư lâu ngày có thể ảnh hưởng đến tân dịch (âm).
- Trong điều trị, cần chú ý không bổ âm quá mức gây tổn thương dương, hoặc bổ dương quá mức gây tổn thương âm. Điều này đòi hỏi sự cân bằng trong sử dụng thuốc và huyệt vị.

---

# # # **Kết luận**
- **Âm hư sinh nội nhiệt** và **Dương hư sinh ngoại hàn** là hai chứng trạng điển hình của sự mất cân bằng âm dương, với các triệu chứng và phương pháp điều trị khác nhau nhưng đều dựa trên nguyên tắc biện chứng luận trị của Đông y.
- Việc điều trị cần dựa trên việc xác định chính xác chứng trạng (hư âm hay hư dương), đồng thời kết hợp điều chỉnh lối sống, chế độ ăn uống, và các liệu pháp bổ trợ như châm cứu để đạt hiệu quả tối ưu.
- Trong thực hành lâm sàng, cần theo dõi sát sao để tránh điều trị quá mức, đồng thời chú ý đến mối quan hệ biện chứng giữa âm và dương để đảm bảo sự cân bằng tổng thể của cơ thể.
Nguồn: am thần núi

06/07/2025

Sáng nay mình đi làm, thấy chú đèo cô bằng xe máy, mình hỏi:
– Chú chở cô đi đâu đó?
Chú cười buồn:
– Chở cô đi xin thuốc tiểu đường, huyết áp...

Nghe xong tự dưng thấy lòng chùng lại.
Vì mình nhớ cách đây hơn 10 năm, cô vẫn còn rất khỏe.
Chỉ là đau khớp gối nhẹ.
Đi bệnh viện vài lần không đỡ, rồi nghe người ta mách:
– Xuống dưới kia có ông thầy chích thuốc “thần kỳ” lắm!

Cô đi.
Chích xong, gối êm ru. Cô khoe cả làng.
Thế là đều đặn mỗi vài tháng lại chích một mũi.

Chích riết... đến khi thuốc không còn "thần kỳ" nữa.
Khớp gối bắt đầu biến dạng.
Rồi bác sĩ bảo: loãng xương nặng, thêm tiểu đường, thêm huyết áp.
Càng bất ngờ hơn, vì cô không hề thuộc nhóm nguy cơ:
– Nhà không ai bị tiểu đường, huyết áp
– Ăn uống bình thường
– Không béo, không thừa cân

Mọi thứ bắt đầu từ... mũi thuốc “thần kỳ” năm ấy.

---

🧠 Vì sao lại như vậy?

Vì đó là Corticoid – loại thuốc giảm viêm, giảm đau mạnh, thường được tiêm vào khớp.
Nhưng dùng lâu dài hoặc lạm dụng sẽ gây ra:

Loãng xương (mục xương)

Tăng đường huyết → thành tiểu đường

Tăng huyết áp, mỡ máu, hại tim mạch

Suy tuyến thượng thận âm thầm

Đáng sợ nhất là:
→ Nó âm thầm phá cơ thể từng chút mà người bệnh không hề hay biết.
→ Tới khi phát hiện thì... đã muộn!

---

Buồn thay!
Chỉ vì muốn giảm đau nhanh, mà cả quãng đời về sau gắn liền với bệnh viện và toa thuốc.

Mong rằng,
Ai đang “nghe mách” chữa gì đó – hãy chậm lại một nhịp.
Hỏi kỹ hơn. Tìm hiểu kỹ hơn.
Đừng để một mũi thuốc hôm nay thành gánh nặng cả đời mai sau.

---
Ps: bài viết là 1 câu chuyện có thật, không phải dựng chuyện để cảnh báo.

19/04/2025

THUỐC ĐẮP KHỐI U....BÍ TRUYỀN ...NHIỀU ĐỜI CỦA VÕ Y VIỆN
AM THẦN NÚI
1. Các con tôi không học thuốc...khi trực trường rảnh thời gian ngồi viết bài này... để giúp đời.. ai có khối u lồi bị sưng đau không kể lành tính hay ác tính đều dùng rất tốt.. giảm đau nhanh sau 3 phút... rẻ tiền... cũng không nên lạm dụng để kiếm tiền trên sự đau khổ của đồng loại... chỉ có 4 vị....
2. a rượu nấu 45 độ trở lên 1, 25 l
b... băng phiến 100g
c ... nga truật.. 30g
d...xạ hương..1 túi xạ của con chồn hương hoặc cầy hương già.... hoặc 10 ống xạ hương nhân tạo bán trên thị trường.... bài thuốc chỉ có 4 vị nhưng đủ cả quân thần tá sứ
3. Giã nhỏ băng phiến nga truật và xạ hương cho vào cối sinh tố xay cho hòa tan.... nếu quậy thì rất lâu tan hết hoạt chất...
4. Dùng miếng bông gòn... nhúng thuốc đắp vào khối u... khoảng 15 phút.... sau đó dùng cây ngãi cứu....hơ ấm khoảng 1/3 cây... làm liên tục 15 ngày là khối u nhỏ dần tùy người .... có người bị u vú rất đau to như quả trứng gà.... đắp nửa tháng ... teo lại như hạt nhãn... nghỉ 5 ngày làm tiếp liệu trình 2... có người tiêu luôn.. có người chỉ còn lại như hạt đậu
5. Thuốc này kỵ thai, giảm đau rất nhanh, thấm sâu, kháng viêm mạnh.
6. Nguồn gốc bài thuốc này do Hoa Đà...dùng chỉ có 2 vị là rượu và băng phiến.. giảm đau sát trùng mạnh, tiêu viêm, gây tê nhẹ... khi mổ xẻ. Mẹ tôi dùng thêm vị Nga Truật tiêu sưng giảm viêm hóa ứ bảo vệ da, đến khi tôi dùng thêm vị xạ hương cho thấm sâu và tiêu u giảm đau nhanh... và cách dùng như trên..
7. Bài thuốc này chỉ truyền cho người hữu duyên, nếu lành bệnh mời về núi dâng hương sư tổ mẫu Am thần núi... cũng có thể kế hợp thêm thuốc uống và thủy châm vào khối u phối hợp thêm với các phương pháp khác.
8. Tệ nạn ăn cắp bản quyền ở nước ta rất đáng buồn.
Khi trích dẫn lại các bạn nhớ dẫn nguồn do thầy Đoàn Đình Thuấn Am Thần Núi truyền...
Một thầy thuốc chân chính thì phải lương thiện và biện chứng luận trị khoa học, không nên ăn cắp tri thức của người khác ... nói là của mình. Cảnh giới cao nhất của một thầy thuốc hay một kiếm thủ là ... tâm không kiếm... tứ đại giai không....
Ta sinh ra đời này rồi ra đi không mang theo được gì... cứ học được gì...suy ngẫm trả lại cho đời... mai này có giai nhân nào giận… tìm đến mộ thầy đái lên đó cũng không sao..
Vô ngã vị tha... tứ đại giai không..

16/02/2025

🫢🫢🫢

12/11/2024

LƯỠI NỨT: ngang, dọc, sâu mô tả trạng thái bệnh lý khác nhau như thế nào?

[Hình minh họa:]Trên bề mặt lưỡi xuất hiện các vết nứt với số lượng, độ sâu cạn, hình dạng khác nhau được gọi là lưỡi nứt (裂纹舌 - Lièwén shé).

Bệnh chính và các nghiên cứu liên quan: Lưỡi nứt đa phần thuộc chứng âm hư nhiệt thịnh.

Bệnh chính của lưỡi nứt:

(1) Nhiệt thịnh làm tổn thương âm, đa phần là lưỡi đỏ sẫm có vết nứt.
(2) Huyết hư không nhuận, đa phần là lưỡi nhạt có vết nứt.
(3) Tỳ hư thấp trọc, đa phần lưỡi nhạt bệu, mép lưỡi có dấu răng, đồng thời có vết nứt.

Điều trị nên tư bổ âm tinh, ích khí sinh tân; bổ tỳ thẩm thấp; bổ âm tả hỏa; thanh nhiệt nhuận táo.

Ngoài ra, lưỡi nứt chỉ vết nứt trên chất lưỡi, cũng chỉ vết nứt trên rêu lưỡi; khi biện chứng, cần dựa vào tính khô hay ướt của rêu để phân biệt, nếu do khô mà nứt, là bệnh ngoại cảm nhiệt thiêu tân dịch, táo nhiệt nghiêm trọng.

Nếu rêu lưỡi có tân dịch mà nứt, đa phần do khí hư gây ra. Nghiên cứu hiện đại cho rằng các vết nứt nông trên lưỡi chủ yếu do niêm mạc lưỡi teo, khiến các đường vân dọc hoặc ngang lộ ra bề mặt mà hình thành, các vết nứt sâu trên lưỡi là tổn thương teo lưỡi nghiêm trọng hơn, khiến lớp biểu bì lưỡi mất cấu trúc bình thường, một phần g*i lưỡi bị dẹt và hợp nhất, một phần teo và đứt gãy tạo thành vết nứt, phía dưới có thể thấy hiện tượng sẹo dày lên co rút.

Sách "Biện Thiệt Chỉ Nam - Biện Thiệt Chi Chất Bản" (辨舌指南·辨舌之质本 - Biàn shé zhǐnán · Biàn shé zhī zhì běn) cho rằng lưỡi người bình thường không có vân, có vân là huyết suy, số lượng, độ sâu cạn của vết nứt phản ánh mức độ suy của huyết.

— Lưỡi mọc vân ngang là tố thể âm hư, như vân băng phiến, đa phần là người già âm hư.
— Lưỡi đỏ sẫm không rêu hoặc có vân ngang dọc mà ngắn nhỏ, là âm hư dịch khô.
— Lưỡi thấy nứt, đứt vân như chữ nhân (人), chữ xuyên (川), thuộc chứng vị táo dịch khô mà thực nhiệt bức bách bên trong.
— Lưỡi đỏ thấy vân chữ nhân, là tà mới vào tâm, hoặc chứng âm dùng nhầm thuốc hàn.
— Lưỡi đỏ mà nứt, khát nhiều, uống nhiều là chứng thượng tiêu.
— Lưỡi đỏ sẫm rêu lưỡi dày nhờn mà nứt, là tạng phủ thực nhiệt.
— Không rêu, không điểm mà đỏ nứt, là âm hư hỏa vượng.
— Lưỡi đỏ sẫm khô nứt, là tà nhiệt vào can hoặc âm dịch bị tổn thương nặng.
— Chỉ nứt không bóng, là vị âm bất túc, đàm nhiệt ngưng kết.
— Nếu lưỡi đỏ sẫm mà mép, đầu lưỡi vỡ nát, lại có vết máu và đau, là âm dịch rất hư, tâm hỏa bốc lên.
— Lưỡi vàng có vân hổ vằn, là khí huyết đều suy.
— Lưỡi đỏ nhuận mà có vân đen, là chứng hàn của quyết dương.
— Sau khi hạ sốt ngược lại thấy vân chữ nhân, là thận khí lấn tâm.
— Giữa lưỡi có vân chồng lên nhau, đa phần thuộc vị khí trung hư.
— Lưỡi nhạt có vân phân bố khắp nơi, là tỳ hư thấp trọc. Lưỡi đỏ lộ ra vài vân đen mà rêu trơn, là chứng hàn của thủy thừa hỏa vị.
— Lưỡi xuất hiện vân xanh, trong thương hàn là vị khí suy vi, trong các bệnh tạp chứng là hàn tích trệ ở cung.
— Nứt mà chảy máu, huyết bị hun đốt, đầu lưỡi chảy máu, là tâm kinh tà nhiệt rất thịnh.

— Do lưỡi nứt thường kèm theo nhiều chứng bệnh khác nhau, nên trong lâm sàng, các trường hợp bệnh lý này tương đối ít gặp. Để biết rõ hơn, có thể tham khảo từng chứng bệnh kèm theo. Bệnh nhân có loại lưỡi này thường có tình trạng bệnh lý phức tạp, vì vậy việc điều trị cần căn cứ vào việc biện chứng luận trị mà dùng thuốc."

Nguồn bài viết: https://read01.com/mE0NkGy.html
Trans by tiengtrungtrongdongy

Want your school to be the top-listed School/college in Buon Me Thuot?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Telephone

Website

Address


31 Đào Duy Anh
Buon Me Thuot