Não trái - Não phải

Não trái - Não phải

Share

Chuyên trang giáo dục sớm cho trẻ; Cung cấp thông tin về giáo dục trẻ; Các sản phẩm giáo dục kĩ năng cho trẻ

Trang của Gia Đình Cam Quýt

25/04/2026

Thăm họ hàng ố/m thì đưa tiền trực tiếp, tiếp bạn bè n:ghèo thì mời đi quán xá ăn, tiếp anh em giàu có thì tự mình xuống bếp. Mấy câu này hãy nhớ kỹ trước đã.

Vì những quy tắc xã hội sắp nói hôm nay, không ai công khai dạy bạn cả, nhưng mỗi điều đều là những bài học được đúc kết bằng tiền bạc, mồ hôi nước mắt.

Điều thứ nhất: Đi thăm người b/ệ.n.h, hãy đưa thẳng tiền

Đến b/ệ.n.h v/i.ệ.n thăm người b/ệ.n.h đừng xách giỏ trái cây, hãy đưa thẳng một phong bì. Nhiều người đi t:hăm b/ệ.n.h có thói quen mua vài thùng sữa, trái cây. Nói thẳng ra, trong b:ệnh v/i.ệ.n thứ không thiếu nhất chính là những thứ này, thứ thiếu nhất chính là tiền c:ứ.u m/ạ.n.g.

Xách một giỏ trái cây đến, người nhà còn phải tìm chỗ để, lúc xuất viện những thứ này ngược lại còn trở thành g/á.n.h n/ặ.n.g. Chiếc phong bì bạn đưa có thể chính là nguồn động lực để người nhà b/ệ.n.h n:hân mua một bát canh nóng sau một đêm thức trắng. Trước s/i.n.h l:ão b/ệ.n.h t/ử, tiền là thứ thiết thực nhất.

Điều thứ hai: Quy tắc "đố:i đ:ãi ngược" với họ hàng

Họ hàng có điều kiện kém thì mời ra ngoài ăn, họ hàng khá giả thì mời về nhà ăn. Điều này nhiều người làm ngược lại, nhưng nếu bạn suy nghĩ kỹ sẽ hiểu ra. Trong tâm lý học có một quan điểm: người ta càng t:hiếu t:hốn thứ gì thì càng quan tâm đến thứ đó.

Người họ hàng có điều kiện kém thường ít khi đi ăn nhà hàng, trong lòng họ sợ nhất là bạn c:oi th:ường họ. Dẫn họ đến một nhà hàng sang trọng, gọi một bàn đầy món ngon, cảm giác được tôn trọng này họ sẽ nhớ cả đời. Khi về, họ sẽ nghĩ rằng người anh em này thành đạt rồi mà không quên gốc gác, vẫn c/o.i mình như người nhà.

Còn người họ hàng khá giả, cao lương mỹ vị nào mà họ chưa từng ăn? Bạn mời họ một bữa ăn thịnh soạn vài triệu bạc, họ cũng chẳng mảy may xúc động. Trong mắt họ, thứ quý giá nhất không phải là sự phô trương, mà là sự gần gũi, coi nhau như người thân. Gọi họ về nhà, xào vài món tủ, mở một chai rượu ngon, đó mới là tình cảm mà họ trân trọng. Hãy cho người khác thứ họ thiếu nhất, chứ không phải thứ bạn nghĩ là đắt nhất.

Điều thứ ba: Tiền lớn nói chuyện lợi ích, tiền nhỏ nói chuyện tình cảm

Đồ đắt tiền thì tìm người lạ mà mua, đồ rẻ tiền thì tìm người quen mà mua. Điều này có quá nhiều người làm ngược lại. Mua nhà, mua xe lúc nào cũng muốn tìm người quen, kết quả là giá không rẻ hơn, mà có vấn đề cũng ngại trở mặt.

Những món đồ giá trị cao phải mua của người lạ, vì đó là một cuộc giao dịch thuần túy. Bạn có thể thoải mái mặc cả, có vấn đề thì cứ yêu cầu b:ồi th:ường, không cần phải nể nang ai cả.

Đồ rẻ tiền thì mua của người quen: đến tiệm của bạn bè mua bao thuốc, cắt cái tóc... tiền bỏ ra không nhiều, nhưng lại vun đắp được tình cảm. Tình cảm vun đắp từ những khoản tiền nhỏ này, vào thời điểm quan trọng chính là mối quan hệ c/ứ.u c:ánh của bạn.

Đối nhân xử thế không phải là dạy bạn sống g:iả t/ạ.o, mà là để bạn hiểu rõ mỗi người thực sự muốn gì. Cho đúng thứ họ cần thì gọi là sống thấu đáo, cho sai thì chỉ là làm ơn m/ắ.c o/á.n.

Trong xã hội hiện nay, người tài giỏi chưa chắc đã thành công bằng người biết cách đối nhân xử thế "thấu tình đạt lý.

Sưu tầm

03/04/2026

3 cha con sơn lại phòng trọ cho khách

26/03/2026

Dạy con tốt nhất là làm gương.
- Muốn con tập thể dục hãy tập cùng con
- Muốn con dậy sớm, hãy dậy sớm cùng con
- Muốn con ăn uống lành mạnh, hãy ăn lành mạnh cùng con!

24/03/2026

𝗟à𝗺 𝗺ẹ 𝘁𝗵ế 𝗻à𝗼 để 𝗸𝗵ô𝗻𝗴 𝘁𝗿𝘂𝘆ề𝗻 “𝗻𝗴𝗵𝗶ệ𝗽” 𝗰𝗵𝗼 𝗰𝗼𝗻
Một đứa trẻ sinh ra không chỉ mang gen di truyền… mà còn mang cả nỗi đau chưa lành của người mẹ.

“Nghiệp” không phải là thứ gì quá xa xôi hay huyền bí.
Nghiệp là tập khí , là thói quen, là cách phản ứng, là năng lượng mà mỗi người tạo ra từ hành động, lời nói, ý nghĩ của mình, lặp đi lặp lại suốt năm tháng.

Và khi một người mẹ nuôi dạy con, những điều chưa lành trong tâm thức của mẹ nếu không được nhận diện và chuyển hóa sẽ âm thầm đi vào đời sống đứa trẻ như một vòng xoay lặng lẽ.

Mẹ từng lớn lên trong tiếng la mắng, nên bỗng dưng thấy “mắng là dạy”.
Mẹ từng thiếu thốn tình cảm, nên vô thức áp đặt con phải giỏi giang, để được yêu như mẹ từng mong.
Mẹ từng bị tổn thương vì bị so sánh, nên chẳng kịp nhận ra mình cũng đang so con với “con nhà người ta”.

Tâm lý học gọi đó là “vết thương thế hệ”.
Phật giáo gọi đó là “nghiệp lực truyền tiếp”.
Dù gọi bằng tên gì, thì sự thật vẫn là:
Con không chỉ học từ lời dạy của mẹ, mà học từ chính tâm trạng, hành xử và năng lượng sống hằng ngày của mẹ.

Muốn không truyền nghiệp cho con, người mẹ cần bắt đầu từ việc quay về chữa lành chính mình.

Mẹ ơi, trước khi làm mẹ… hãy học cách làm bạn với nội tâm mình.
Hãy học cách nhận diện khi mình đang giận thay vì trút giận.
Học cách dừng lại khi lòng đang rối thay vì cố kiểm soát con cái theo ý mình.
Học cách ôm lấy đứa trẻ bên trong mình, cô bé từng tổn thương, từng mong manh, từng chưa được yêu đúng cách.

Bởi khi bạn nhìn ra được “đứa trẻ” ấy bên trong mình, bạn mới đủ bao dung để hiểu đứa trẻ thật sự bên cạnh mình hôm nay.

Làm mẹ không phải là trở thành “người hoàn hảo”.
Làm mẹ là hành trình tu sửa liên tục, là học cách yêu thương mà không dính mắc, hướng dẫn mà không áp đặt, dạy con mà không rập khuôn theo những nỗi sợ cũ.

“Muốn giáo dục con cái, trước tiên hãy giáo dưỡng chính mình.”
Muốn con biết yêu thương, mẹ cần học yêu bản thân.
Muốn con biết tha thứ, mẹ cần học thứ tha với quá khứ của mình.
Muốn con trưởng thành, mẹ cần học đứng lên từ nỗi đau của chính mình.

Một người mẹ biết dừng lại để thở, để lắng nghe, để sống tỉnh thức đã là một bài học sống động và quý giá cho con.

Không ai sinh ra đã là người mẹ tốt.
Nhưng người mẹ biết tu tập mỗi ngày để không truyền tổn thương cho thế hệ sau ấy là người mẹ đang gieo những hạt giống lành cho cả dòng họ.

Vì yêu con… không phải là cho con điều tốt nhất của đời,
Mà là không vô tình truyền lại điều tồi tệ nhất mình từng nhận.

St

05/03/2026

ÔNG VÕ VĂN KIỆT: “TÔI ĐÃ LÀM TẤT CẢ NHƯNG KHÔNG AI CHỊU NGHE TÔI!”

Cái khó bây giờ là đội ngũ giáo sư giỏi. Các anh là những trí thức dưới thế hệ các anh. Qua lớp trí thức các anh, tôi thấy một sự sàng lọc tự nhiên.
Thằng Tây nó là thằng đế quốc, có nhiều cái đáng lên án. Nhưng ở mặt giáo dục, nó biết chọn lọc nhân tài thực sự mà không chạy theo thành tích như ta, nó cũng không có lập trường máy móc như ta, tại sao ta lại không dám học nó, học cái cách đào luyện nhân tài của nó! Đâu phải cái gì của Tây, của tư bản đều dở hết, đều đáng lên án hết. Theo cách đào tạo như hiện nay, chúng ta sẽ chỉ có một đội ngũ thầy giáo phổ thông dạy đại học. Nguy hiểm quá! Đất nước có bề dày lịch sử đáng tự hào, còn trong thời hiện tại thì chúng ta có gì để tự hào? Chẳng lẽ cứ đưa cái đánh giặc ra mà tự hào mãi vậy sao?

Phải có một đội ngũ giáo sư giỏi, đủ tầm cho một nền giáo dục tiên tiến của thế giới. Chắc chắn là thiếu. Thiếu thì ta thuê, ta thỉnh giảng các giáo sư nước ngoài. Tại sao thế giới, cả các nước tư bản, họ dám mời cả giáo sư của ta qua giảng dạy đại học của họ, còn ta lại sợ, lại không dám? Đầu tư vào giáo dục, đặc biệt là ở bậc đại học không bao giờ thiệt hết. Tôi rất tiếc, chúng ta đã không làm tốt việc này, nếu không nói là coi thường.

Tôi không đánh giá thấp nền giáo dục Xôviết và các nước xã hội chủ nghĩa, nhưng tôi nghĩ, nước chịu chơi, dám chiêu hiền đãi sĩ lại là Mỹ chớ không phải là Liên Xô. Người làm ra pháo thăng thiên đầu tiên là Trung Quốc, nhưng người làm ra bom nguyên tử đầu tiên lại là Mỹ. Phải nghiên cứu nhiều mô hình giáo dục trên thế giới, học những cái hay của họ mà hợp với hoàn cảnh mình để tìm cho ra một mô hình thích hợp cho giáo dục của ta.

Cuối cùng, Tạ Quang Bửu nói:
- 25 thế kỷ trước, trong Đại học, Khổng Tử có nói: "Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại thân dân, tại chỉ ư chí thiện". Ông đặt ra những vẫn để lớn của "đại học" là làm tỏ được cái đức sáng, cách tân được xã hội, phải đạt tới chỗ cực giỏi, tới chỗ hoàn hảo.

Đúng là lâu nay ta đã làm lệch, làm sai ở bậc đại học. Chúng ta đồng nhất phổ cập và nâng cao. Tôi đã từng can thiệp vào những trường hợp như anh Sáu đã can thiệp, nhưng đấy là những trường hợp cá biệt mà tôi thấy, tôi biết. Còn bao nhiêu trường hợp mà ta không biết đã bị loại ra khỏi đại học, tói không biết được. Vấn để này không phải tôi không nói, không góp ý. Tôi đã làm tất cả, nhưng không thể được! Không ai chịu nghe tôi, không ai chịu hiểu tôi, thậm chí tôi còn bị quy là lập trường có vấn đề. Lập trường có vấn để thì tôi tham gia cách mạng, tham gia kháng chiến làm gì?

Tôi cũng như anh Trần Đại Nghĩa, anh Phạm Ngọc Thạch, anh Nguyễn Hữu Thọ đều học trường Tây ở ngay đất Tây. Nhưng hầu hết trong chúng tôi một lòng yêu mảnh đất đã sinh ra mình, yêu cái làng quê nghèo khổ của dân mình, căm thù cái thằng Tây bóc lột dân mình. Đấy chính là lòng yêu nước trong mỗi chúng tôi. Phải tin rằng, ở trong mỗi người Việt Nam đều có lòng yêu nước thì chúng ta mới có một thay đổi sách lược trong giáo dục đại học được.

Tôi nghĩ, nếu không có sự thay đổi từ hôm nay, 20 năm nữa giáo dục chúng ta sẽ bế tắc, sẽ không gỡ nổi.

Trích Hồi ký Võ Văn Kiệt

01/03/2026

Cần làm gì khi con đi học bị bạn đánh?

Có ai làm cha, làm mẹ mà nhìn con mình đi học về, trên má có vết xước, trên tay có vết bầm mà không sôi máu? Không có đâu anh chị ạ. Đứa trẻ là khúc ruột đẻ ra. Nó đau một thì cha mẹ đau mười. Nó kể bị bạn đánh, bị túm tóc, bị đẩy ngã… thì phản ứng tự nhiên nhất là muốn lao đi ngay, bằng tinh thần đấu tranh không khoan nhượng để “dạy lại” đứa đã làm con mình tổn thương.

Nhưng trước Tết anh Ba từng xem clip một ông bố vì quá nóng giận, thấy con bị xước mặt đã phóng xe đến tận nhà bạn cùng lớp chửi bới rồi đánh luôn đứa bé kia. Camera quay lại toàn bộ. Kết cục không phải là “bảo vệ con” mà là bị xử lý về hành vi vi phạm pháp luật. Con chưa kịp được bảo vệ đúng cách thì bố đã vướng pháp lý. Rất đáng tiếc.

Bức xúc là đúng. Nhưng hành xử sai là tự đẩy mình vào thế yếu. Vậy cần phải làm gì?

Như anh chị đã biết, Anh Ba cái gì cũng thánh nhưng thánh nhất là luật. Hôm nay cuối tuần gió mát, tôi lại cào phím, vén mây hạ phàm ban vài lời vàng ngọc để chúng mình nghiêm túc quán triệt làm kim chỉ nam cho mọi hành động.

Việc đầu tiên: thu thập chứng cứ ngay lập tức.

Chụp ảnh vết thương ở nhiều góc, rõ nét, ánh sáng đủ, thể hiện mức độ nghiêm trọng nhất có thể. Nên dùng app có ghi nhận ngày giờ, địa điểm. Quay một đoạn video để con tường thuật lại sự việc: ai đánh, ở đâu, lúc nào, có ai chứng kiến. Không gợi ý, không mớm lời. Để con nói tự nhiên, mạch lạc.

Việc thứ hai: đưa con đi khám.

Dù vết thương nhẹ hay nặng cũng phải có giấy xác nhận của cơ sở y tế. Hồ sơ khám bệnh là tài liệu pháp lý quan trọng. Đừng chủ quan kiểu “thôi xước tí mà”. Khi có giấy tờ y tế, câu chuyện chuyển từ “cãi nhau trẻ con” thành “hành vi gây thương tích có căn cứ”.

Việc thứ ba: làm việc chính thức với nhà trường.

Báo cáo bằng văn bản. Hẹn lịch rõ ràng giữa phụ huynh hai bên và đại diện nhà trường. Trong buổi làm việc, tuyệt đối không để ai dùng những cụm từ như “nghịch ngợm”, “va quệt”, “xô xát trẻ con” vào biên bản. Phải gọi đúng bản chất: hành vi sử dụng vũ lực gây thương tích trong môi trường học đường. Từ ngữ quyết định cách nhìn nhận vấn đề.

Sẽ có khả năng nhà trường mở đầu bằng câu: “Con anh chị ở lớp cũng nghịch lắm, hay chọc bạn…”. Đây là cách đánh tráo khái niệm rất phổ biến: chuyển trọng tâm từ hành vi bạo lực sang lỗi ứng xử. Anh chị phải dứt khoát nói rõ: nếu con tôi vi phạm nội quy, nhà trường xử lý theo quy định. Hôm nay chúng ta đang làm việc về hành vi gây thương tích. Hai việc hoàn toàn khác nhau. Không ai có quyền đánh người khác, dù lý do gì.

Và một điều quan trọng: đừng quay sang nghi ngờ con ngay tại bàn họp. Nếu con đã bị đánh ở trường, về nhà lại bị bố mẹ hoài nghi thì sợi dây tin tưởng cuối cùng sẽ đứt. Đứa trẻ đó sẽ học được một điều rất nguy hiểm: “Không ai đứng về phía mình”. Đó mới là vết thương sâu nhất.

Nếu đây là lần đầu, hậu quả không lớn, anh chị nên yêu cầu lập biên bản đầy đủ: mô tả sự việc, mức độ thương tích, cam kết của phía gia đình kia và nhà trường về việc không tái phạm. Trong biên bản phải ghi rõ trách nhiệm pháp lý nếu hành vi lặp lại. Khi mọi thứ được đặt trên giấy trắng mực đen, câu chuyện sẽ dừng lại đúng chỗ.

Tin tôi đi, làm đúng quy trình, giữ bình tĩnh, cứng rắn nhưng đúng luật hiệu quả còn mạnh hơn gấp nhiều lần việc nóng giận lao đi “dạy người”. Bởi khi anh chị hành xử bằng chứng cứ và pháp lý, người ta không chỉ sợ một lần, mà sẽ nhớ rất lâu.

Bảo vệ con không phải bằng vũ lực. Bảo vệ con là giữ cho con một người cha, người mẹ còn nguyên vẹn cả uy tín lẫn tự do.
————————————————————————
❤Vui lòng trích nguồn Facebook Nguyen Khanh (Anh Ba Sài Gòn) nếu bê bài đi nơi khác❤️
-Mời anh chị like page Anh Ba Sài Gòn và follow thêm Facebook Nguyễn Quốc Khánh của tôi để đọc bài-

25/02/2026

Mùng 10 cúng đất tạ ơn người xưa: Ý thức giữ đất và tranh đấu của người Lục Tỉnh Nam Kỳ xưa

Người Miền Nam chúng ta ghi nhớ: Cúng mùng 10 là cúng Chú Thổ, cúng đất đai, không phải vía thần tài và ào ào đi mua vàng!

Vậy là đã vô mùng 10 Tết, cái mùng cuối cùng của Tết. Ông bà Miền Nam mình có câu:

"Mùng chín cúng trời
Mùng mười vía đất."

Lật tự điển Huỳnh Tịnh Của, trong mục từ vía thấy ông có ghi rõ câu này.

Thấy mọi người nghe lời truyền thông cứ nói mùng 10 dân Nam Kỳ "vía" Thần Tài, cúng Thần Tài, dân ào ào mua vàng lấy hên, tiệm vàng không còn vàng để bán, nghe riết thành quen mà phát chán.

Tụi bây phản động quá! Tụi bây tuyên truyền quá! Tại sao truyền thông Việt Nam cứ mặc định ngày mùng 10 là vía thần tài? Đó là có chủ đích rõ ràng.

Bỏ chữ cúng đất, nhét vô vía thần tài, nhồi nhét và nhồi nặn cho người dân quên tuốt luôn về đất Miền Nam, quên luôn nguồn cội và ý thức chánh trị.

Khi nước lèo bị biến thành nước dùng, khi xe lửa bị biến thành tàu hỏa, bừng binh thành vòng xuyến, khi con nít Miền Nam vâng ạ nhé nhỉ cùng trộm vía xin vía thì người ta thấy chỉ là câu chữ.

Nhưng một phong tục Miền Nam như cúng đất mùng 10 mà bị biến thành vía thần tài và ra tiệm vàng thì cái chủ đích này có mùi chánh trị.

Quên nguồn cội, cũng huy động một đám đông lên án vua Gia Long, miệt thị Tả Quân Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Petrus Ký là kẻ tội đồ, là một sự phủ nhận.

Giới trẻ Miền Nam giờ phải tự tìm nguồn khác để mà tìm hiểu ông bà mình thôi!

Xin thưa với các bạn trẻ Miền Nam! Nếu nói mùng 10 vía thần tài là xái phong tục, là trái với văn hoá Nam Kỳ Lục Tỉnh của chúng ta!

Với người Nam Kỳ Lục Tỉnh ngày mùng 10 rất quan trọng, nó không phải vì Thần Tài.

Miền Nam xưa rày không có tục lệ mùng 10 "vía Thần Tài" và chầu chực xếp hàng mua vàng từ sáng sớm ở các tiệm vàng. Người Miền Nam không ai lý lẽ kiểu "Mùng 10 giá vàng rất cao nhưng không quan trọng bị lỗ vì mua là cầu may."

Ngày mà các tiệm vàng đồng loạt đẩy giá vàng lên và người mua chắc chắn bị lỗ nếu bán lại sau đó. Theo quy luật thị trường thì đầu năm mất tiền là bị xui chứ may mắn cái gì?

Những ngày Tết ở Miền Nam nhìn kỹ rất đơn giản trong cúng tế và ăn Tết, nó gói gọn như sau:

-Ngày dựng nêu là 20 tháng Chạp, có nhà từ 23 tháng Chạp. Ngày hạ nêu là ngày mùng 7 tháng Giêng.
-Chiều 23 tháng Chạp đưa Ông Táo chầu trời. Chiều 30 đón ông về.
-Ngày 25 tháng Chạp tảo mộ ông bà.
-Ngày 28 kho thịt kho nước dừa, hầm nồi khổ qua.
-Ngày 30 làm lễ đón ông bà về nhà. Bắt đầu cúng cơm ngày hai bữa.
-Mùng 3 Tết làm gà nấu bánh tét cúng Tết nhà, Tết vườn, Tết trâu. Mùng 3 làm lễ kiếu ông bà.

"Ăn mừng năm mới
Chữ an, chữ thới
Dán trước hàng ba
Phú quới vinh hoa
Dán vô trước cửa
Tài lợi lộc phước
Dán trước hàng nhì
Vạn trực duy tân
Dán vô trước cửa."

Và mùng 10 Tết, cái mùng cuối cùng của Tết là ngày cúng đất mà người Miền Nam nào trước 1975 cũng biết và tuân thủ. Mùng 10 cúng đai đai, cúng chú Thổ, tri ơn người lưu dân mở đất Lục Tỉnh xưa.

Người Miền Nam cúng mùng 10 là cúng đất đai, ôn lại quá trình khai mở đất và tri ơn người mở đất chứ không phải vía thần tài.

Lịch sử Nam Kỳ quá trẻ, quá gần, không có nhiều quá khứ quá xưa, nhưng quá khứ huy hoàng, bản sắc Nam Kỳ đậm đặc, không ai lộn được phong tục văn hoá Nam Kỳ chúng ta.

Bản chất dân Nam Kỳ đôn hậu mộc mạc. Hồi xưa dân Nam Kỳ thích ở ruộng vườn nên để thương trường cho người Tàu thao túng.

Từ lịch sử Nam Kỳ, có nhiều người thắc mắc vì sao người Tàu lại nắm kinh tế, nền thương mãi của Nam Kỳ, trong khi người Nam Kỳ suốt ngày lo làm ruộng, làm vườn?

Tàu lập chành lập vựa gao lúa, xuất khẩu, nắm luôn tiệm tạp hóa, lũng đoạn thị trường, duy trì độc quyền, đầu cơ tích trữ, làm giá, đút lót, mua chuộc nhân sự trong chánh quyền làm giàu bất chấp thủ đoạn.

Nguyễn Chánh Sắt giải thích vầy:

“Trong Nam Kỳ dân ít mà đất đã tốt lại nhiều, thì tất nhiên dân chẳng cần phải lo làm nghề chi khác nữa, chỉ chuyên lấy một nghề nông thì cũng đủ mà kinh dinh sự nghiệp. Xưa nay người Nam Kỳ không lo thương mãi và công nghệ là bởi cớ đó.”

Người Nam Kỳ mình không luông tuồng, chuyên về ruộng vườn, người Việt sống bên những ruộng lúa quằn bông nặng hột, có đám lúa chín vàng, có đám còn vừa mới ửng vàng nửa hột chen chúc trong đám lá xanh rì.

Nhà văn Sơn Nam trong “Cơn chuyển mình trước và sau Âu châu đại chiến” ghi:

“Vào khoảng năm 1875 đến năm 1880, dân số Nam kỳ hơn 1.620.000 người, diện tích trồng tỉa là 520.000 mẫu, tính đổ đồng, mỗi người sản xuất được 518 kí lô lúa.”

Cuộc khai phá Nam Kỳ là vì tìm đất mới, tìm đất sống, đất đai luôn là ước mơ của nhiều lưu dân. Ông bà ta khẩn hoang, phát đất rừng, bồi đất trũng thành khoảnh vuông vức mà làm ruộng, làm vườn.

Ruộng Nam Kỳ là ruộng dây, ruộng mẫu. Nhà có chừng 500 mẫu điền là nhà giàu rồi, mà người Nam Kỳ có vài trăm ,vài ngàn mẫu điền nhiều vô kể.

Nghề làm ruộng ở Nam Kỳ là nghề hái ra tiền ,có một lớp điền chủ rất giàu có sống bằng nghề này, bao nhiêu người tá điền sống nhờ gieo mạ, cấy lúa, đập lúa, vác lúa, làm mướn.

Chúng ta dân Nam Kỳ kêu là điền chủ và đại điền chủ chứ không phải là “địa chủ” như ngoài Bắc là vì sao?

Điền chủ nó thoáng, nó vẫn mở và nó ở mức độ dễ chịu nhiều hơn “địa chủ”. Ở ngoài Bắc địa chủ đồng nghĩa với cường hào ác bá, cái vế cường hào ác bá cũng của xứ Bắc, mức độ khốc liệt vì đất Bắc ít mà lại có nạn nhân mãn, cộng với thói quen “lũy tre làng”, hương ước, dòng tộc, dân thủ cựu dân ngụ cư khắc nghiệt.

Nam Kỳ có tá điền, nếu không mướn ruộng bà này thì qua xứ khác mướn đất ông kia, làm gì có cảnh máu me, dồn nén, ruột đổ gan bầm như ngoài Bắc.

“Xứ Nam Kỳ nầy là một xứ đất rộng dân thưa. Đã vậy mà ruộng đất lại cao du, từ sông Bến Lức, Vũng Gù thẳng xuống giáp Vịnh Xiêm, chẳng luận là tỉnh nào, hễ phát cỏ gieo mạ thì tới mùa lúa đổ đầy vựa; chớ khỏi tốn tiền mua phân mà vãi trong ruộng, lại cũng khỏi đắp bờ rồi cả ngày phải cong lưng mà tát nước dưới ruộng thấp đam lên ruộng cao; như thế thì dân Nam kỳ làm ruộng sung sướng là dường nào” (Nguyễn Chánh Sắt 1919)

Cha bà Nam Phương Hoàng Hậu là ông Nguyễn Hữu Hào có 1.000 mẫu điền ở Long Mỹ Hậu Giang. Khi cha mất bà làm văn tế khắc trên bia mộ rằng:

"Giữ thân đoan chánh, gặp buổi văn minh
Kiến thức sâu rộng, giàu lòng đạo đức, người đều ngưỡng mộ.".

Và bà chị ruột cùng Nam Phương đã đề bia cho cha mẹ mình bắt đầu bằng dòng chữ: Đồng Nai anh linh, Tiền Giang vượng khí, hun đúc nơi người, sanh đấng anh minh.

Cái mục đích đầu tiên của tổ tiên ta là làm ruộng kiếm hột lúa đặng nuôi con, để ăn sống ấm no. Thành ra cái chữ lẫm lúa là của Miền Nam, dân đong lúa thiên, lúa vạn.

Điền địa, ruộng đất và lúa gạo làm nên văn minh Nam Kỳ.

Ông bà Nam Kỳ xưa có câu ”Tiền muôn bạc vạn” chỉ sự giàu sang phú quới của những nhà giàu nứt vách đổ tường. Bạc muôn là từ 10.000 ,bạc vạn là trên 10.000 đồng.

Đồng tiền xưa rất mắc, năm 1925, một mẫu ruộng tốt ở Nam Kỳ có giá 50 đồng, có khi 80 đồng. Được xếp loại đại điền chủ thì gia đình đó phải có 50 mẫu ruộng trở lên, vị chi 50 mẫu điền x 50 đồng = 2.500 đồng bạc, hoặc 80 x 50 = 4.000 đồng bạc là gia tài của một đại điền chủ thấp nhứt.

Năm 1930 Nam Kỳ có cả thảy 6.690 đại điền chủ có từ 50 mẫu đất trở lên.

Coi truyện Hồ Biểu Chánh ta thấy chưa có ông đại điền chủ nào có tiền mặt trong nhà quá 40.000 đồng. Trong tiểu thuyết “Con nhà giàu” ta thấy cha mẹ cậu tư –một đại điền chủ có 500 mẫu điền ở Chợ Gạo chết để lại có 25.000 đồng trong tủ.

Nam Kỳ cũng là nơi có vườn trù phú, cái danh văn minh miệt vườn của văn hóa Miền Nam ai cũng hiểu.

"Anh đi ghe cá trảng lườn
Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em."

Con gái miệt vườn một thời nổi tiếng là đẹp và có giá ở Miền Nam:

"Đồng Nai, Châu Đốc, Định Tường
Lòng anh sở mộ con gái vườn mà thôi."

Nói tới dân Lục Tỉnh xưa rày chỉ nghe nhắc tới những người chỉ biết lo làm ruộng, làm vườn, đi làm ruộng hò vang trời, đọc thơ Vân Tiên, tối vác cây đờn ra tăng tẳng đờn ca tài tử, hát cải lương, rồi ba chưn bốn cẳng chạy đi về đình khi nghe trống thúc thùng thùng vì qua say mê hát bội.

Xin nói thẳng về mùng 10 tháng Giêng ở Lục Tỉnh chúng ta:

Văn Minh Miệt Vườn là tên một cuốn sách của Sơn Nam xuất bản ở Sài Gòn từ năm 1970, ông để trang trọng "văn minh miệt vườn".

Sơn Nam viết vầy:

"Miệt Vườn là nơi trù phú. Đất đai viền trạch, tức là đất ruộng, đất vườn và đất thổ cư, tiêu biểu cho thôn xóm. Cúng mâm đất đai, trước khi cúng vái ông bà, tức là cúng cho những người đầu tiên sáng lập thôn xóm, tiền hiền và hậu hiền.”(Hết trích)

Để viên trạch thì cúng đất đai, cúng người đi trước, tri ơn người khai phá để lại ruộng vườn nhà cửa cho ta. Cúng đất đai viên trạch là cúng các vị thần linh, tiền chủ hoặc các bậc khuất mày khuất mặt cai quản cuộc đất, vườn ao nơi ở.

Cúng đất đai hay cúng lề là một tục trong đám giỗ của người Miền Nam. Luôn có một mâm cúng đất đai.

Mùng 10 tháng Giêng từ ngày ban đầu cũng được định ra là cúng Đất, là Tạ Ơn. Đầu năm cúng đất.

Rất hợp lý, Tết có mùng 9 là ngày cúng Trời, mùng 10 cúng Đất, còn tất cà các mùng khác là vì tổ tiên, ông bà, là chữ Nhơn- Con Người. Cái quan niệm Thiên-Địa-Nhơn ngẫm quá trúng!

Người Miền Bắc có ngày 23 tháng Chạp là cúng "Ông Công Ông Táo", tức là cúng Táo Quân và cúng luôn Thổ Công. Dân Nam Kỳ thì 23 tháng Chạp chỉ đưa Ông Táo, còn Đất (Thổ) thì cúng riêng ngày mùng 10.

Ngày mùng 10 ,bà con Nam Kỳ mình có tục sẽ làm một mâm cúng cho vị thần thích ngồi ở cái bàn thờ sát đất ngoáy đầu nhìn ra cửa chánh, đó là đất đai, là Ông Địa, là Chú Thổ.

Mâm cúng đó gồm bộ tam sên như tôm, cua, hột vịt, thêm dĩa bún tươi, dĩa rau sống, dĩa trầu cau, đặc biệt Nam Kỳ gốc phải có cá lóc nướng trui.

Bà ngoại tôi giải thích Chú Thổ là Thổ Địa và Ông Địa. Chú Thổ là Nam Kỳ gốc người Miên nên đen thui. Cũng kêu là cúng chủ đất.

Cúng cá lóc nướng trui ngày mùng 10 là một phong tục văn hoá của người Nam Kỳ Lục Tỉnh xưa nay. Cúng đất là cúng tạ ơn Chú Thổ và những người khai khẩn đã chết trong quá trình hình thành đất Nam Kỳ.

Lễ cúng phải có con cá lóc nướng trui, nướng trui là nướng nguyên con còn vẫy cá, bắt con cá dưới sông lên nướng rơm mà cúng. Đó là món thời ông bà mình còn làm lưu dân khai khẩn Nam Kỳ.

Đó là nguồn cội của người Nam Kỳ nên phải giữ nó. Cúng cá lóc là cúng tạ ơn, nó không dính dáng bắt cứ tôn giáo nào.

Nhiều người kêu mùng 10 vía Thần Tài ,tôi cực lực bác bỏ và phản đối!

Nhìn cách cúng thì biết không phải cúng ông Thần Tài rồi. Thần Tài là một sản phẩm của người Tàu và sau này được đem vô thờ "ké" chung với Ông Địa thôi!

Có những câu hỏi kỳ cục kiểu: "Vì Sao Mọi Người Thường Cúng Cá Lóc Trong Ngày Vía Thần Tài?"

Và trả lời cũng kỳ cục kiểu: "Từ xưa người dân miền Nam đã coi cá lóc là loài vật mạnh mẽ, mang đến may mắn, lộc vận trong năm mới. Vì vậy, cá lóc nướng trở thành lễ vật được nhiều người dân miền Nam chọn để cúng tiến trong ngày vía Thần Tài."

Cá lóc nướng trui là của chú Thổ.

Vì lịch sử Tàu cũng chưa nói tới Ông Thần Tài nào ngồi dưới đất ăn cá lóc nướng trui hết.

Trong nhà người Nam Kỳ có Ông Địa tượng trưng cho đất, ngồi bàn thờ sát đất mà ngoài Bắc, ngoài Trung và người Hoa ở các nước khác không hề có tục này.

Cá lóc nướng trui là món thuộc trường phái ẩm thực khẩn hoang Miền Nam.

Từ ẩm thực dân gian con cá lóc nướng trui của lưu dân Lục Tỉnh xưa đã lên bàn thờ mùng 10 để thành phong tục tập quán.

Nguyên thủy thì tục mùng 10 là cúng chú Thổ, tức đất đai. Người già Nam Kỳ vẫn kêu cúng mùng 10 là cúng đất đai, cúng Tết đất,Tết nhà.

Bao đời nay, từ đời ông bà cố tổ, ông bà sơ ông bà cố, ông bà nội ngoại, đời cha và đời con đều như vậy.

Biết ơn mảnh đất cho ta có cơm ăn, áo mặt, mảnh đất làm ruộng vườn, mảnh đất cất nhà, mảnh đất chôn ông bà mình.

Những khoảnh ruộng Nam Kỳ có lác đác vài lùm mả là bằng chứng vậy!

Mái nhà Miền Nam um khói chiều lan tỏa đặng cả nhà đề huề bên mâm cơm đơn sơ với rau cải tôm cá. Không cao lương mỹ vị, nhưng tràn đầy niềm yêu thương nồng đậm của gia đình Nam Kỳ.

Người Nam Kỳ kêu con lớn là anh hai, không có anh cả, số hai là lớn nhứt vì dân Nam Kỳ đi khai hoang đất, lấy quẻ Thuần Khôn (đất) làm trọng.

Cúng chú Thổ tức cúng chủ đất, cũng là gợi lên hình ảnh người chủ đất cũ là người Khmer (Người Thổ).

Món cúng bắt buộc là con cá lóc nướng trui, sau này có bộ tam sên là cua, tôm hay thịt ba rọi luộc, hột vịt.

Chú Thổ ăn bốc, thành ra nguyên mâm cá lóc nướng trui, bộ tam sên cúng đâu có đôi đũa hay muỗng nĩa gì. Bà ngoại tôi giải thích vậy đó!

Chú Thổ gợi ta điều gì?

Nam Kỳ xưa còn được ông bà mình kêu là xứ Đàng Thổ vì đất Nam Kỳ vốn trên danh nghĩa là đất của người Khmer, nói “danh nghĩa” vì Nam Kỳ vốn đất của Phù Nam, sau đó Khmer tuyên bố chủ quyền nhưng dân sống trên đất này rất ít thành ra đất Nam Kỳ xưa gần như vô chủ.

Nhưng khi vô trong này, người Việt đã gặp người Khmer bổn địa tóc quắn, da đen, mắt có khoen, đó là người đang sống ở đất Nam Kỳ.

Lưu dân Nam Kỳ tìm đất mới đã rất kiên trì, mềm dẻo, hiền hòa, theo lẽ sống an vui, thân thiện và khả năng thích ứng tốt.

Người Nam Kỳ đi khai hoang đất, tìm đất mới để sanh tồn mà tạo ra văn minh Nam Kỳ Lục Tỉnh nên đất trong tâm linh xứ này vô cùng quan trọng.

Miền Nam có nhiều làng tên là Trạch và Điền có nghĩa đất đai, thí dụ Long Trạch, Vĩnh Trạch, Tân Trạch, An Trạch, Long Điền, Vĩnh Điền, Điền Hải.

Văn minh Nam Kỳ là văn minh miệt vườn, là di dân mới nên đất quan trọng lắm, cúng đất quan trọng, người mình có buôn bán giống người Tàu đâu mà cúng thần tài đặng mà "mong ước" mua một bốn lời, giàu nứt trứng.

Sau này ảnh hưởng người Tàu nên có thờ thêm ông thần tài chung với ông địa, ông thần tài chỉ là thêm vô, là ở đậu cái bàn thờ của ông địa, và nhiều người lộn xộn nói cúng mùng 10 là vía thần tài là sau này thôi.

Thêm thắt thần tài là cho "ăn ké" chú Thổ rồi bắt chước người Tàu, sau đó hớt luôn ngày mùng 10 thành "ngày vía thần tài" giống như đảo chánh đất đai vậy.

Nhiều người nói cúng bộ tam sên là của ông Thần Tài cũng không đúng.

Tam sên cua, tôm và hột vịt luộc cũng là lễ vật cúng đất, bằng chứng là khi động thổ xây nhà và trước khi hạ huyệt chôn cất người chết thì người Nam Kỳ cũng cúng bộ tam sên.

Trong phong tục tập quán, người Nam Kỳ gốc và người Việt không cúng cây mía trong ngày mùng 10.

Nói cúng mùng 10 là cúng thần tài là đánh tráo khái niệm. Xứ tui vẫn kêu cúng mùng 10 là cúng đất đai hoặc Tết nhà cửa, cúng chú Thổ.

Khẳng định lại rằng, Lục Tỉnh cúng mùng 10 tháng Giêng là cúng đất đai, tạ ơn Chú Thổ giữ sung túc, an vui nhà cửa trong năm mới.
Điền trạch đất đai viên mãn.

Người Mỹ có ngày Tạ Ơn diễn ra vào ngày thứ năm của tuần lễ thứ 4 trong tháng 11 thì Lục Tỉnh mình có ngày Tạ Ơn vào Mùng 10 Tháng Giêng.

Cúng đất là cúng tạ ơn đất đai cho một mùa bội thu, cho nhà cửa an bề và ghi nhớ những người khai khẩn đã chết trong quá trình hình thành đất Nam Kỳ.

Đó là nguồn cội của người Nam Kỳ. Tổ tiên ta là ai?

Trước tiên là ông bà cha mẹ trực hệ sanh ra ta, có máu mủ với ta, những người đang ngồi trên bàn thờ giữa nhà đó!

Xa hơn, là tất cả những người Miền Nam đi trước đã gầy dựng, bảo vệ, giữ và đòi quyền lợi chánh trị cho mảnh đất này.
Nhà văn Bình-nguyên Lộc dạy rằng:

”Một quê hương phải bắt nguồn trong một dĩ vãng lâu đời mà nước mắt và nụ cười của bao thế hệ đã ràng buộc con người vào đất, vào vật, vào người.Đất, có ở lâu, tình đất mới sâu.”

Nói gọn lại là đất Nam Kỳ không phải tự dưng trên trời rớt xuống cái chủm cho người Việt, tổ tiện Nam Kỳ phải trầy vi tróc da giữ nó, khai phá nó mới có cơm gạo.

Xứ Nam Kỳ Lục Tỉnh gần như là một thế giới riêng biệt.

Người Miền Nam có giọng nói và cách nói riêng biệt, ẩm thực huy hoàng, có quan điểm sống, nhìn nhận cuộc sống và tư duy dân chủ, tự do cũng khác.

Chúng ta tự hào là con cháu của Đỗ Thành Nhơn, Võ Tánh, Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Thủ Khoa Huân, Quản Lịch Nguyễn Trung Trực, Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trần Chánh Chiếu ...

“Canh trắng, chong đèn soi quá khứ
Viết đời biển lặng tiếp sông trong".

Kết luận:

Đất Nam Kỳ này có chủ, đất này có Thần, đất này có văn hiến, đất này có con người lanh lợi, con cháu ghi ơn.

Người ta sẽ Cám Ơn khi đã biết ơn, nhớ ơn, ghi ơn và tri ơn, thậm chí đội ơn.

Biết ơn và cám ơn đều là tình cảm từ trong lòng, trong tâm con người, là lòng trắc ẩn ở tâm con người. Là sống tử tế và lịch sự.

Cám ơn cuộc đời vì đâu đó vẫn còn tình thương tràn trề, vì có tình thương mà loài người vẫn còn tồn tại.

Cám ơn ông bà tổ tiên Miền Nam đã dày công vun bồi cho chúng con có mảnh đất cắm dùi. Con cháu nguyện giữ gìn và bám riết lấy nó, đem quyền lợi và tự do, dân chủ, thanh bình về với nó.

Cám ơn những tiền nhơn đã băng rừng vượt sông, chém sấu chém rắn, vật lộn với thiên nhiên, đấu tranh với giặc giã mà tạo ra hào khí Nam Kỳ đầy hào sảng.

"Hò ... ơi! nào ai biết chăng
Những kẻ ngày xưa đã âm thầm
Hiến dâng cả đời trai giữa sa trường
Giờ còn lại chi đây?"

Đất Miền Nam là trọng, ông bà đã khai khẩn tạo ra văn minh Lục Tỉnh, thì con cháu giữ lấy, bảo vệ nó, có đổ máu xương cũng giữ lấy nó.

Từ quyền lợi chánh trị tới kinh tế, phải ý thức và chung tay.

Còn tục mua vàng, xếp hàng ra tiệm vàng ào ào mua vàng là từ Miền Bắc được truyền thông sau 1975 thổi bùng lên. Mà tục này chỉ có ở Hà Nội sau này thôi. Tra thư tịch lịch sử không thấy hồi xưa có.

Nếu người ta xa lạ, hững hờ, vô tâm thì không có tình yêu lớn đến dường đó. Chúng ta có một tình yêu vô bờ bến.

Chúng ta dân Miền Nam luôn bắt đầu từ câu "Tôi sanh ra ở...", "Tôi lớn lên tại...", và "Tôi sẽ chết ở đây".

Lòng tự hào và kiêu hãnh.

Nguồn: sưu tầm

Want your school to be the top-listed School/college in Bia Hoa?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Telephone

Website

Address


Bia Hoa