Thầy Phan Danh Hiếu

Thầy Phan Danh Hiếu Dạy học, Bồi dưỡng học sinh giỏi Văn, luyện thi môn Văn, Ôn thi THPT Quốc Gia môn Văn.

Thầy giáo Phan Danh Hiếu đã xuất bản trên dưới 10 cuốn sách liên quan đến luyện thi môn Văn 9 và 12.

SO SÁNH HAI BÀI THƠ Về hai bài thơ "Chân quê" (Nguyễn Bính) và "Lời thề cỏ may" (Phạm Công Trứ)BÀI THAM KHẢOThơ ca, suy ...
23/09/2026

SO SÁNH HAI BÀI THƠ
Về hai bài thơ "Chân quê" (Nguyễn Bính) và "Lời thề cỏ may" (Phạm Công Trứ)

BÀI THAM KHẢO

Thơ ca, suy cho cùng, là hành trình người nghệ sĩ đi tìm một tiếng nói chỉ thuộc về mình giữa muôn vàn thanh âm của nghệ thuật. Nguyễn Linh Khiếu từng viết: “mỗi nhà thơ chỉ khai phá duy nhất một con đường / con đường chưa bao giờ có”; còn Lê Đạt gọi dấu ấn riêng ấy bằng một hình ảnh đầy ám gợi: “Mỗi người nghệ sĩ thứ thiệt / đều có một dạng vân chữ / Không trộn lẫn”. Bởi thế, trong khu vườn thi ca, mỗi bài thơ là một đóa hoa mang sắc màu và hương thơm riêng; có thể gặp gỡ nhau ở những rung động lớn của tâm hồn nhưng không bao giờ hòa tan vào nhau. Đến với "Chân quê"của Nguyễn Bính và "Lời thề cỏ may" của Phạm Công Trứ, người đọc vừa bắt gặp những miền cảm xúc đồng điệu, vừa nhận ra những “vân chữ” riêng làm nên vẻ đẹp của mỗi hồn thơ.

Trước hết, hai thi phẩm gặp nhau ở những mạch nguồn cảm xúc gần gũi. Cả hai đều đặt câu chuyện tình yêu trong không gian làng quê Việt Nam thân thuộc. Ở "Chân quê" là “con đê đầu làng”, “vườn chanh”, “hương đồng gió nội”; ở "Lời thề cỏ may" là tuổi thơ “chân đất đầu trần”, là cỏ may, bờ đê, trăng vàng. Làng quê vì thế không chỉ là phông nền của tình yêu mà còn là miền kí ức nâng đỡ tâm hồn con người. Đặc biệt, cả hai nhà thơ đều lựa chọn một tình huống gần như tương ứng: người con gái từ quê bước ra tỉnh rồi trở về với những đổi thay. Cô gái của Nguyễn Bính khoác lên mình “khăn nhung, quần lĩnh”, “áo cài khuy bấm”; cô gái của Phạm Công Trứ cũng trở về với “áo chẽn”, “quần bò”. “Tỉnh” và “quê” từ những địa danh đời thường bỗng trở thành hai miền biểu tượng: một bên là cái mới mẻ của đời sống thị thành, một bên là những giá trị nguyên sơ, thân thuộc của quá khứ.

Bởi thế, phía sau sự đổi thay của “em” trong cả hai thi phẩm đều là nỗi hụt hẫng của “tôi”. Nguyễn Bính thốt lên đầy xót xa: “Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi!”, rồi gần như van nài: “Van em! Em hãy giữ nguyên quê mùa”. Phạm Công Trứ lại đau trước một thái độ tưởng rất nhẹ mà hóa ra rất lạnh: “Gặp tôi, em hỏi hững hờ”. Một người đau vì dáng vẻ chân quê đang phôi pha, một người đau vì tình xưa đã khác; nhưng sâu xa đều là nỗi buồn của con người khi nhận ra cái đẹp mình từng nâng niu đang rời khỏi tầm tay. Vì thế, cả hai bài thơ đều vượt khỏi giới hạn của một câu chuyện tình. "Chân quê" tiếc nuối một bản sắc văn hóa đang phai nhạt; "Lời thề cỏ may" tiếc nuối miền tình cảm trong trẻo của tuổi thơ đã bị thời gian cuốn đi. Có lẽ thơ bắt đầu từ những điều rất riêng như thế, nhưng chỉ thực sự sống lâu khi nỗi riêng ấy chạm được vào một miền phổ quát của lòng người.

Thơ không chỉ sống bằng chiều sâu của tư tưởng, cảm xúc mà còn tỏa sáng bởi vẻ đẹp của hình thức nghệ thuật. Từ phương diện ấy, "Chân quê" và "Lời thề cỏ may" cũng tìm thấy ở nhau nhiều điểm cộng hưởng. Trước hết, cả hai đều lựa chọn thể thơ lục bát – nhịp điệu đã thấm sâu vào lời ru, câu hát và tâm thức dân tộc. Ngôn ngữ thơ mộc mạc, tự nhiên, đậm hơi thở thôn quê: Nguyễn Bính có “yếm lụa sồi”, “dây lưng đũi”, “áo tứ thân”, “khăn mỏ quạ”; Phạm Công Trứ có “cỏ may”, “chân đất đầu trần”, “bờ đê”. Những chất liệu tưởng rất đời thường khi bước vào thơ bỗng mang linh hồn và kí ức. Đồng thời, cả hai bài đều kết hợp nhuần nhuyễn tự sự với trữ tình: có nhân vật, có câu chuyện, có sự biến đổi của thời gian, nhưng tất cả cuối cùng đều quy tụ về một chữ “tình”. Chính sự hòa quyện ấy khiến câu chuyện riêng của nhà thơ trở thành câu chuyện mà nhiều người có thể bắt gặp bóng dáng mình trong đó.

Tuy gặp nhau ở một miền cảm hứng, hai thi phẩm vẫn tỏa ra những hương sắc riêng. Nếu "Lời thề cỏ may" chủ yếu day dứt trước sự đổi thay của tình yêu thì "Chân quê" lại gửi vào chuyện tình một nỗi niềm sâu xa hơn về bản sắc văn hóa. Nguyễn Bính cố ý dựng lên hai hệ thống trang phục đối lập: “khăn nhung, quần lĩnh”, “áo cài khuy bấm” của thị thành đối diện với “yếm lụa sồi”, “dây lưng đũi”, “áo tứ thân”, “khăn mỏ quạ” của làng quê. Chàng trai dường như không chỉ sợ mất người yêu mà còn sợ mất cả “hồn quê” trong người mình yêu. Bởi vậy, câu thơ “Van em! Em hãy giữ nguyên quê mùa” nghe vừa như lời yêu, vừa như một lời níu giữ. Nguyễn Bính từng được Hoài Thanh – Hoài Chân nhận xét trong "Thi nhân Việt Nam" là người đã “đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta”. Quả thực, đến "Chân quê", cái “nhà quê” ấy không phải điều đáng chối bỏ mà trở thành một giá trị thẩm mĩ đáng nâng niu.

Đặc biệt, vẻ đẹp riêng của Nguyễn Bính kết tinh trong những hình ảnh tưởng giản dị mà giàu sức biểu tượng: “Hoa chanh nở giữa vườn chanh”. Hoa chanh đẹp nhất khi được nở giữa chính khu vườn thuộc về nó; con người dường như cũng đẹp nhất khi không đánh mất cội nguồn làm nên mình. Vì thế, câu kết “Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” mang một sức ám ảnh vượt khỏi chuyện áo quần. Cái “bay đi” chính là chút hồn quê, chút nguyên sơ mà nhà thơ tha thiết muốn giữ lại. Chữ “ít nhiều” nhẹ tênh mà buồn đến nao lòng: chưa mất hẳn, nhưng đã không còn nguyên vẹn.

Nếu "Chân quê" đau đáu về sự phai nhạt của hồn quê thì "Lời thề cỏ may" lại xoáy sâu vào sự đổi thay của lòng người. Phạm Công Trứ dựng nên hai miền thời gian tương phản. Quá khứ là “Còn em lên bảy, theo tôi cả ngày”, là những đứa trẻ “chân đất đầu trần”, lấm láp mà trong veo; hiện tại lại là “Em ra tỉnh học em quên một người”. Đau nhất không phải “áo chẽn”, “quần bò”, mà là chữ “hững hờ” trong cuộc gặp lại. Nếu cô gái của Nguyễn Bính mới chỉ đổi thay dáng vẻ thì cô gái của Phạm Công Trứ dường như đã bước ra khỏi miền tình cảm cũ. Khoảng cách lớn nhất vì thế không phải khoảng cách giữa quê và tỉnh, mà là khoảng cách giữa hai trái tim từng rất gần nhau.

Nếu Nguyễn Bính để “hương đồng gió nội” bay đi thì Phạm Công Trứ lại để “một khoảng trời pha lê” vỡ xuống trong tâm hồn. Hình ảnh ấy đẹp mà đau: pha lê trong trẻo, lấp lánh nhưng cũng vô cùng mong manh, giống như mối tình tuổi nhỏ tưởng bền lâu mà chỉ một câu nói hững hờ cũng đủ làm tan vỡ. Và ám ảnh hơn cả là câu kết: “Có người ngồi gỡ lời thề cỏ may...”. “Cỏ may” vốn chỉ là thứ cỏ nhỏ bé ven đường, dễ mắc vào quần áo, nhưng qua bàn tay thi sĩ đã hóa thành biểu tượng của kí ức. Có thể gỡ những hạt cỏ may khỏi áo, nhưng làm sao gỡ được một lời thề khỏi trái tim? Câu thơ vì thế khép lại mà nỗi buồn vẫn mở ra, lan mãi vào khoảng trống của thời gian.

Những tương đồng và khác biệt ấy trước hết bắt nguồn từ sự gặp gỡ trong tình yêu đối với làng quê Việt Nam. Cả Nguyễn Bính và Phạm Công Trứ đều tìm thấy thi liệu từ những gì bình dị nhất của đồng đất, bờ đê, cỏ cây và con người. Tuy nhiên, mỗi nhà thơ thuộc một thời đại và mang một cảm quan nghệ thuật riêng. Nguyễn Bính là thi sĩ của phong trào Thơ mới nhưng hồn thơ lại neo sâu vào văn hóa làng quê truyền thống, vì thế câu chuyện tình trong "Chân quê" tự nhiên trở thành nỗi lo về sự phai nhạt của căn cước quê hương. Phạm Công Trứ thuộc thế hệ sau, nhìn tình yêu qua khoảng cách thời gian và hồi ức, nên "Lời thề cỏ may" đậm hơn nỗi buồn của trưởng thành, của kí ức và sự đổi thay lòng người. Thời đại tạo nên những miền cảm xúc khác nhau, còn cá tính sáng tạo quyết định cách mỗi thi sĩ cất tiếng.

Bởi vậy, đặt hai thi phẩm cạnh nhau không phải để tìm xem tiếng thơ nào hay hơn mà để nhận ra vẻ đẹp riêng của mỗi tiếng nói nghệ thuật. "Chân quê" là một kết tinh tiêu biểu cho hồn thơ Nguyễn Bính: dân dã mà tinh tế, mộc mạc mà sâu xa, qua tình yêu để nâng niu bản sắc văn hóa dân tộc. "Lời thề cỏ may" lại chinh phục người đọc bằng vẻ đẹp của kí ức, bằng nỗi buồn trong trẻo trước một tình yêu đã đi qua mà dư âm vẫn còn mắc lại trong lòng người. Một bài giữ “hương đồng gió nội”, một bài giữ “lời thề cỏ may”; khác nhau trong cách biểu đạt nhưng đều gặp nhau ở khát vọng lưu giữ những gì đẹp đẽ trước sức mạnh vô tình của đổi thay.

Có những bài thơ đọc xong, câu chữ khép lại nhưng một miền cảm xúc vẫn còn ở lại. "Chân quê" và "Lời thề cỏ may" là những bài thơ như thế. Đặt cạnh nhau, hai thi phẩm càng chứng minh vẻ đẹp của sáng tạo: thi sĩ có thể cùng bước vào một miền đề tài, cùng rung động trước một nỗi niềm, nhưng mỗi người phải để lại trên trang thơ một “vân chữ” của riêng mình. Và chính từ những “vân chữ không trộn lẫn” ấy, thơ vượt qua giới hạn của thời gian để còn mãi trong lòng người đọc.

Nguồn: thầy Phan Danh Hiếu

BỒI DƯỠNG HSG VĂNTừ đề thi của tỉnh Lâm Đồng.Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)Rất nhiều diễn viên hài thường có thói qu...
21/09/2026

BỒI DƯỠNG HSG VĂN

Từ đề thi của tỉnh Lâm Đồng.

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)

Rất nhiều diễn viên hài thường có thói quen phô ra những thiếu sót của bản thân để gây cười cho khán giả. Không phải họ đem khuyết điểm của mình ra cho người khác cười cợt chỉ để kiếm tiền. Cũng không phải nhờ những tràng cười để đạt được sự công nhận của người khác. Họ dùng cách tự châm biếm, tự trào phúng chính là để khiêu chiến với những khuyết điểm của bản thân.

(Trích Đừng lựa chọn an nhàn khi còn trẻ, Cảnh Thiên, Đặng Quân dịch, NXB Thế giới, 2025, tr.186)

Từ ngữ liệu trên, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận bàn về vấn đề: Dám khiêu chiến với khuyết điểm của bản thân.

BÀI THAM KHẢO

Không ai bước vào cuộc đời với một phiên bản hoàn hảo của chính mình. Mỗi người đều mang theo những giới hạn, thiếu sót, những khiếm khuyết riêng. Điều làm nên giá trị của con người không phải là không có khuyết điểm, mà là thái độ trước khuyết điểm ấy. Từ câu chuyện những diễn viên hài dám tự trào về chính mình, có thể nhận ra một thái độ sống đáng quý: dám khiêu chiến với khuyết điểm của bản thân.

Khuyết điểm là những hạn chế, thiếu sót, điểm yếu tồn tại trong mỗi người, có thể thuộc về ngoại hình, năng lực, tính cách, nhận thức hay cách ứng xử. Có những khuyết điểm ta sinh ra đã mang theo, có những khuyết điểm hình thành trong quá trình sống, lại có những giới hạn chỉ khi va đập với cuộc đời ta mới nhận ra. Còn “khiêu chiến” gợi một tư thế chủ động: nhìn thẳng, đối diện, không đầu hàng và quyết tâm vượt qua. Vì thế, dám khiêu chiến với khuyết điểm của bản thân là đủ can đảm nhận diện phần chưa hoàn thiện của chính mình, không che giấu, không tự ti, không viện cớ, đồng thời biến nó thành động lực để tự hoàn thiện.

Điều đáng nói trước hết nằm ở chữ “dám”. Nhận ra khuyết điểm đã khó, thừa nhận nó còn khó hơn. Con người thường dễ nhìn thấy vết xước trên khuôn mặt người khác nhưng lại muốn chiếc gương soi mình được phủ một lớp sương mờ. Khi thất bại, ta đổ lỗi cho hoàn cảnh; khi yếu kém, ta tìm lí do biện minh; khi bị chỉ ra thiếu sót, lòng tự ái thường lên tiếng trước khả năng tự vấn. Bởi thừa nhận một khuyết điểm cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận rằng hình ảnh ta từng xây dựng về chính mình chưa hẳn hoàn hảo. Carl Jung từng nói: “Cho đến khi bạn biến vô thức thành ý thức, nó sẽ điều khiển cuộc đời bạn và bạn sẽ gọi đó là số phận.” Điều đáng sợ nhất vì thế không phải là có khuyết điểm, mà là không biết mình có khuyết điểm, hoặc biết nhưng không thừa nhận.

Dám khiêu chiến vì vậy trước hết là dám nhìn vào mình. Đó là lúc con người thôi đứng trước chiếc gương chỉ để ngắm những ưu điểm mà đủ bình tĩnh nhìn cả những vết nứt. Ta không thể sửa điều mình không chịu nhận là sai, không thể vượt qua giới hạn mà mình cố tình phủ nhận. Người mạnh không nhất thiết là người không có điểm yếu; người mạnh là người biết điểm yếu của mình nằm ở đâu và không để nó âm thầm quyết định cuộc đời mình. Bởi thế, tự nhận thức luôn là điểm khởi đầu của mọi hành trình trưởng thành.

Nhưng nhìn thấy chưa phải là khiêu chiến. Khiêu chiến còn là biến nhận thức thành hành động. Nếu khuyết điểm là một bức tường, con người có thể ngồi dưới chân tường than trách, có thể quay lưng bỏ đi, nhưng cũng có thể tìm cách trèo qua. Sự khác biệt giữa những con người không hẳn nằm ở bức tường cao hay thấp mà nằm ở cách họ ứng xử trước bức tường ấy. Có người dùng khuyết điểm làm bằng chứng cho sự bất lực; có người lại lấy chính nó làm điểm xuất phát cho một hành trình vượt thoát. Một người nóng nảy học cách im lặng trước khi nổi giận; một người nhút nhát buộc mình bước lên bục phát biểu; một người thất bại trở về tìm nguyên nhân thay vì nguyền rủa số phận – mỗi hành động nhỏ ấy đều là một cuộc khiêu chiến.

Tôi nghĩ đến hình ảnh đại bàng khiêu vũ trong mưa. Khi giông tố kéo đến, trong cách hình dung đầy biểu tượng của con người, đại bàng không co mình trước gió dữ mà dang rộng đôi cánh, tận dụng những luồng khí mạnh để nâng mình lên cao. Hình ảnh ấy đẹp như một ẩn dụ về cách con người ứng xử với những bất toàn. Bởi trong đời người có những cơn mưa không thể tránh, những ngọn gió không thể bắt ngừng thổi, những giới hạn không thể chỉ bằng một lời ước mà biến mất. Khi ấy, bản lĩnh không nằm ở việc cầu mong bầu trời mãi bình yên mà ở khả năng học cách mở cánh trong giông gió. Nếu chỉ bay khi trời quang, đôi cánh sẽ chẳng bao giờ biết hết sức mạnh của mình. Nếu chỉ sống giữa thuận lợi, con người cũng khó biết giới hạn của mình có thể được đẩy xa đến đâu. Khuyết điểm, nhìn từ ý nghĩa ấy, đôi khi chính là “luồng gió ngược” buộc ta phải học một cách bay khác.

Bởi vậy, khiêu chiến với khuyết điểm không phải là phủ định bản thân mà trái lại, là một biểu hiện sâu sắc của lòng tự trọng và niềm tin vào khả năng tự kiến tạo. Ta muốn thay đổi bởi ta tin mình có thể tốt hơn. Ta sửa chữa mình bởi không muốn sống thấp hơn khả năng mà mình có thể đạt tới. Giữa câu “Tôi vốn là người như thế” và câu “Tôi chưa làm được nhưng tôi sẽ học”, tưởng chỉ khác vài chữ mà thực ra là khoảng cách giữa sự đầu hàng và tinh thần tự vượt lên. Con người không thể lựa chọn tất cả những gì mình nhận được từ cuộc đời, nhưng luôn còn một quyền tự do quan trọng: lựa chọn cách ứng xử với những gì mình nhận được.

Cuộc khiêu chiến ấy càng đáng quý khi con người phải đối diện những khuyết thiếu gần như không thể thay đổi. Lê Văn Công, lực sĩ cử tạ người khuyết tật Việt Nam, là một minh chứng. Di chứng bại liệt từ nhỏ khiến đôi chân anh không thể vận động như người bình thường. Ý chí không phải phép màu để một cơ thể khiếm khuyết bỗng trở nên nguyên vẹn; có những giới hạn khách quan con người buộc phải chấp nhận. Nhưng Lê Văn Công không để giới hạn của đôi chân trở thành giới hạn của cả cuộc đời. Anh tập trung sức mạnh vào đôi tay, trải qua hành trình tập luyện khắc nghiệt để vươn tới những thành tích lớn trên đấu trường Paralympic. Điều đáng quý trong câu chuyện ấy không chỉ nằm ở những tấm huy chương, mà còn ở cách một con người từ chối để phần cơ thể không hoàn thiện trở thành định nghĩa toàn bộ giá trị của mình. Anh không thể lựa chọn cơ thể mình được sinh ra như thế nào, nhưng có thể lựa chọn mình sẽ sống như thế nào với cơ thể ấy. Đó có lẽ là chiều sâu nhất của tinh thần khiêu chiến: không nhất thiết chiến thắng mọi giới hạn, nhưng nhất định không trao cho giới hạn quyền quyết định giá trị đời mình.

Từ đó, cần hiểu sâu hơn rằng khiêu chiến với khuyết điểm không đồng nghĩa với căm ghét bản thân. Đây là một ranh giới rất mong manh. Có người nhân danh “hoàn thiện mình” để liên tục phủ nhận chính mình: ghét khuôn mặt, ghét cơ thể, ghét tính cách, ám ảnh phải trở thành một phiên bản hoàn hảo trong mắt người khác. Đó không còn là trưởng thành mà là tự hành hạ. Khiêu chiến chân chính phải bắt đầu từ sự chấp nhận: Tôi biết mình chưa hoàn thiện, nhưng sự chưa hoàn thiện ấy không làm tôi mất đi giá trị. Chấp nhận không phải đầu hàng. Chấp nhận là xác định đúng tọa độ mình đang đứng để biết bước tiếp theo phải đi về đâu.

Cũng cần phân biệt khuyết điểm có thể sửa chữa với giới hạn cần học cách chung sống. Một thói quen trì hoãn cần thay đổi; sự ích kỉ cần điều chỉnh; kiến thức thiếu hụt cần bồi đắp. Nhưng một đặc điểm cơ thể, một biến cố không thể đảo ngược hay một phần quá khứ không thể viết lại đôi khi không phải thứ để “đánh bại”. Khi ấy, khiêu chiến chính là không để điều không thể thay đổi hủy hoại những điều ta vẫn còn khả năng kiến tạo. Trưởng thành không phải lúc nào cũng là biến mình thành một người khác; đôi khi là học cách trở thành phiên bản tốt đẹp nhất từ chính những gì mình đang có.

Thậm chí, có những khuyết điểm sau khi được đối diện và chuyển hóa lại trở thành nơi sản sinh sức mạnh. Người từng mặc cảm thường dễ thấu hiểu nỗi mặc cảm của người khác; người từng thất bại có thể học được sự khiêm nhường; người từng trải qua những bất toàn dễ biết bao dung trước sự bất toàn của tha nhân. Những diễn viên hài trong ngữ liệu dám đưa chính thiếu sót của mình vào tiếng cười đã thực hiện một cuộc chuyển hóa thú vị: điều từng có thể khiến họ xấu hổ trở thành chất liệu sáng tạo; nơi từng là điểm yếu trở thành nơi họ giành lại quyền làm chủ chính mình. Khi ta có thể bình thản gọi tên một khuyết điểm, khuyết điểm ấy đã mất đi một phần quyền lực đối với ta.

Tuy nhiên, trong đời sống hôm nay, con người lại rất dễ bị cuốn vào cuộc chạy đua về sự hoàn hảo. Những hình ảnh được chỉnh sửa, những thành công được phô bày, những cuộc đời dường như luôn rực rỡ trên mạng xã hội dễ khiến mỗi cá nhân tưởng rằng mình là người duy nhất có khiếm khuyết. Ta vô tình đem hậu trường lộn xộn của đời mình so sánh với “sân khấu” đã được chọn lọc của người khác. Từ đó sinh ra tự ti, đố kị hoặc nhu cầu che giấu thất bại. Một đời sống chỉ chăm chút cho vẻ ngoài hoàn hảo lại là một đời sống rất mong manh: chỉ một lời phê bình cũng có thể khiến ta sụp đổ, bởi ta chưa từng học cách sống hòa bình với phần không hoàn hảo của mình.

Ở cực đối diện, cũng có người lấy hai chữ “chấp nhận” để bao biện cho sự trì trệ: tôi nóng tính vì “tính tôi thế”; tôi lười biếng vì “tôi vốn vậy”; tôi làm tổn thương người khác rồi yêu cầu họ phải chấp nhận “con người thật” của tôi. Đó không phải yêu bản thân mà là nuông chiều bản thân. Yêu mình không có nghĩa là cấp giấy miễn trừ cho mọi khuyết điểm. Một tình yêu lành mạnh đối với chính mình phải bao gồm cả sự nghiêm khắc cần thiết để sửa chữa những gì đang khiến mình trở thành phiên bản tồi hơn.

Hemingway từng viết trong Giã từ vũ khí: “Thế giới làm tan vỡ tất cả mọi người, và sau đó nhiều người trở nên mạnh mẽ tại chính những nơi đã vỡ.” Con người không cần xấu hổ vì những “nơi đã vỡ” của mình. Điều quan trọng là sau những đổ vỡ ấy, ta để vết nứt tiếp tục lan rộng hay học cách mạnh mẽ lên từ chính nơi từng yếu đuối. Mỗi khuyết điểm được nhận diện là một câu hỏi; mỗi lần vượt qua chính mình là một câu trả lời. Và đời người, xét đến cùng, có lẽ là hành trình liên tục trả lời câu hỏi: hôm nay ta có thể đi xa hơn con người của ngày hôm qua bao nhiêu?

Vì thế, đặc biệt với người trẻ, cần học nghệ thuật tự phản tỉnh mà không tự hạ thấp, tự nghiêm khắc mà không tự hành hạ, chấp nhận mình mà không ngừng hoàn thiện mình. Hãy đủ thành thật để gọi đúng tên điểm yếu, đủ khiêm nhường để lắng nghe góp ý, đủ can đảm để sửa chữa và đủ kiên trì để thay đổi từng chút một. Đừng đợi đến khi hết sợ mới bước đi, bởi nhiều khi chính bước đi mới khiến nỗi sợ nhỏ lại. Đừng đợi đến khi hoàn hảo mới bắt đầu, bởi con người thường chỉ trở nên tốt hơn trong chính quá trình bắt đầu ấy.

Nelson Mandela từng nói: “Đừng đánh giá tôi bằng những thành công, hãy đánh giá tôi bằng số lần tôi ngã xuống và đứng dậy.” Có lẽ giá trị của một đời người cũng không nằm ở việc ta đã hoàn hảo đến đâu, mà ở việc đã bao nhiêu lần ta dám bước qua những giới hạn của chính mình. Không ai lựa chọn được mọi khuyết điểm mình mang theo, nhưng mỗi người có thể lựa chọn thái độ trước chúng. Hãy như cánh đại bàng giữa giông gió: không đòi gió ngừng thổi mà học cách mở rộng đôi cánh. Bởi chiến thắng đáng tự hào nhất đôi khi không phải vượt qua một người nào khác, mà là đến một ngày ngoảnh lại, ta nhận ra mình đã bước qua được giới hạn từng khiến chính mình cúi đầu.

Nguồn: Thầy Phan Danh Hiếu

20/09/2026

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LÂM ĐỒNG

KỲ THI CHỌN HỌC SINH VÀO ĐỘI TUYỂN
BỒI DƯỠNG THI HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA
NĂM HỌC 2026 - 2027

ĐỀ CHÍNH THỨC
(Đề thi có 01 trang)

Môn thi: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 180 phút
Ngày thi: 15/9/2026

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)
Rất nhiều diễn viên hài thường có thói quen phô ra những thiếu sót của bản thân để gây cười cho khán giả. Không phải họ đem khuyết điểm của mình ra cho người khác cười cợt chỉ để kiếm tiền. Cũng không phải nhờ những tràng cười để đạt được sự công nhận của người khác. Họ dùng cách tự châm biếm, tự trào phúng chính là để khiêu chiến với những khuyết điểm của bản thân.
(Trích Đừng lựa chọn an nhàn khi còn trẻ, Cảnh Thiên, Đặng Quân dịch, NXB Thế giới, 2025, tr.186)
Từ ngữ liệu trên, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận bàn về vấn đề: Dám khiêu chiến với khuyết điểm của bản thân.

Câu 2. Nghị luận văn học (12,0 điểm)

Con người dùng AI để tạo ra nghệ thuật, nhưng nghệ thuật đó không thể chứa kí ức người. Chỉ khi nào con người vắt kiệt mình, lục tung mình lên để viết, khi đó kí ức mới lên tiếng. Bởi vậy, chỉ có kí ức của nghệ thuật, trong nghệ thuật của con người mới mang nhân tính.

(Trích Còn chút gì cho nghệ thuật, Đinh Thanh Huyền, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 1089, tháng 7 năm 2026, tr.104)
Bằng trải nghiệm văn học, anh/chị hãy bàn luận ý kiến trên.
---- Hết ----

Phân tích nhân vật Ngô Tử Văn (Chuyện chức phán sự đền Tản Viên)
16/09/2026

Phân tích nhân vật Ngô Tử Văn (Chuyện chức phán sự đền Tản Viên)

Phân tích nhân vật Ngô Tử Văn Trong Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên, Nguyễn Dữ không xây dựng người anh hùng bằng chiến công nơi trận mạc mà đặt nhân vật vào một cuộc đấu tranh đặc biệt: cuộc đấu tranh giữa chính nghĩa và gia...

Phân tích nhân vật chị Hoài trong đoạn trích "Mùa lá rụng trong vườn" (SGK) 1. Chị Hoài là người con dâu hiếu thảo, ngườ...
14/09/2026

Phân tích nhân vật chị Hoài trong đoạn trích "Mùa lá rụng trong vườn" (SGK)

1. Chị Hoài là người con dâu hiếu thảo, người chị dâu được lòng các em
Chị Hoài vốn là vợ của anh Tường – người con trai cả của ông Bằng đã hi sinh. Sau đó, chị đã có một gia đình riêng, nhưng khoảng cách thời gian và sự thay đổi hoàn cảnh không làm chị quên mái nhà cũ. Chị vẫn trở về sum họp trong buổi chiều ba mươi Tết, vẫn có mặt trước bàn thờ tổ tiên như một thành viên thân thiết của gia đình. Nếu chỉ sống theo danh phận, chị có thể xem ngôi nhà ấy là một miền quá khứ đã khép lại; nhưng vì sống bằng nghĩa tình, chị vẫn coi nơi đây là một phần không thể tách rời khỏi cuộc đời mình.
Chị không trở về với tư cách một người khách mà trở về như một người con. Sự hiện diện của chị khiến mọi người hân hoan, xúc động bởi trong kí ức của các em, chị vẫn là người chị dâu dịu dàng, nhân hậu và chu đáo. Chị thấu hiểu từng người, hòa vào câu chuyện gia đình một cách tự nhiên. Lí thân mật ghé tai chị, “hí hửng” khoe mình biết khấn đúng bài kinh nhà Phật. Cử chỉ hồn nhiên ấy cho thấy giữa Lí và chị Hoài không hề có khoảng cách. Chị là người chị gần gũi, đáng tin cậy, có khả năng khiến người khác cảm thấy được sẻ chia.
Tình cảm của chị dành cho ông Bằng càng cho thấy tấm lòng hiếu thảo sâu nặng. Chị không chỉ kính trọng ông như cha chồng cũ mà thực sự xem ông là cha của mình. Bởi thế, sự trở về của chị trong chiều cuối năm là một sự trở về với người cha già, với các em và với mái ấm từng cưu mang tuổi trẻ của chị. Có những quan hệ được tạo nên bởi huyết thống, nhưng cũng có những tình thân được bồi đắp bằng năm tháng yêu thương; chị Hoài thuộc về gia đình ông Bằng bằng thứ tình thân bền chặt ấy.

2. Chị Hoài là người phụ nữ thủy chung, sống sâu nặng với quá khứ và cội nguồn
Vẻ đẹp nổi bật nhất của chị Hoài được thể hiện trong khoảnh khắc làm lễ trước bàn thờ tổ tiên. Khi ông Bằng cất lời khấn, “mắt chị Hoài đăm đắm ngước lên bàn thờ”. Từ láy “đăm đắm” không chỉ miêu tả một ánh nhìn chăm chú mà còn mở ra cả chiều sâu tâm trạng. Trong ánh mắt ấy có lòng thành kính đối với tổ tiên, có nỗi nhớ người chồng đã khuất, có sự xúc động khi được trở lại mái nhà xưa và có cả những kỉ niệm không dễ gọi thành lời.
Bàn thờ gia tiên trong giờ phút cuối năm không chỉ là một không gian tín ngưỡng mà còn là nơi quá khứ hiện về, nơi người đang sống được gặp lại những người đã khuất bằng kí ức và lòng biết ơn. Ngước nhìn bàn thờ, chị Hoài dường như đang nhìn lại cả một quãng đời của mình. Người chồng cũ không còn nữa, chị cũng đã đi qua nhiều đổi thay, nhưng ân nghĩa xưa vẫn nguyên vẹn trong trái tim chị. Thời gian có thể làm biến đổi hoàn cảnh sống, nhưng không thể xóa nhòa những tình cảm đã trở thành một phần máu thịt.
Đặc biệt, khi ông Bằng “vừa buông tay chắp, rút mùi xoa lau mắt, lui ra”, chị Hoài “liền thế chân ông cụ, hai tay nâng lên trước ngực”. Hành động “liền thế chân” diễn ra tự nhiên, thành kính, không một chút ngập ngừng. Chị không xem mình là người ngoài nên không cần ai mời gọi; chị tự nguyện tiếp nối nghi lễ của người cha, cúi mình trước tổ tiên của gia đình chồng cũ. Đôi tay “nâng lên trước ngực” là một cử chỉ nhỏ nhưng chứa đựng cả một nhân cách lớn: biết kính trọng người đã khuất, biết trân quý cội nguồn và biết giữ gìn những ân tình không thể đo đếm bằng danh phận.
Sự thủy chung của chị Hoài không phải là níu kéo quá khứ hay phủ nhận hiện tại. Chị đã có cuộc sống riêng nhưng vẫn gìn giữ những tình cảm cũ bằng một cách ứng xử đúng mực và nhân hậu. Chị sống trọn vẹn với hiện tại mà không phản bội kí ức; bước tiếp trên đường đời nhưng không quay lưng với những người từng là ruột thịt. Đó là sự thủy chung của một con người từng trải, hiểu rằng có những mối quan hệ tuy không còn được ràng buộc bằng danh nghĩa nhưng vẫn cần được gìn giữ bằng đạo lí.

3. Chị Hoài là hiện thân của vẻ đẹp truyền thống và sức mạnh gắn kết gia đình
Vẻ đẹp của chị Hoài càng trở nên nổi bật khi được đặt bên cạnh những rạn nứt trong gia đình ông Bằng. Trong lời khấn trang nghiêm, ông cụ đã không nhắc tên Cừ. Chi tiết “ông cụ đã gạt tên thằng Cừ” khiến mặt Luận biến sắc, gợi ra một nỗi đau âm thầm mà dữ dội. Cừ là con ruột nhưng lại xa rời gia đình, chối bỏ trách nhiệm và làm tổn thương truyền thống của mái nhà. Trái lại, chị Hoài tuy chỉ là con dâu cũ lại tha thiết trở về, thành kính đứng trước bàn thờ tổ tiên.
Sự đối lập ấy tạo nên một nghịch lí đầy day dứt: người có quan hệ huyết thống lại tự tách mình khỏi gia đình, trong khi người không còn ràng buộc về danh phận lại một lòng hướng về cội nguồn. Qua đó, Ma Văn Kháng cho thấy máu mủ có thể làm nên quan hệ ruột thịt, nhưng chỉ có tình yêu thương và trách nhiệm mới làm nên một gia đình thực sự. Chị Hoài vì thế trở thành minh chứng rằng tình thân không chỉ nằm trong huyết thống mà còn được tạo dựng từ lòng biết ơn, sự thủy chung và cách sống có trước có sau.
Sự hiện diện của chị góp phần đem lại không khí đoàn tụ cho bữa cơm tất niên. Mâm cỗ thịnh soạn do Lí dồn hết sự tỉ mỉ, tài hoa và tâm sức chuẩn bị không chỉ làm đầy chiếc bàn mà còn làm ấm căn nhà. Trong không gian ấy, chị Hoài không phải người trực tiếp chế biến các món ăn, nhưng sự trở về của chị đã góp phần khiến niềm vui sum họp trở nên trọn vẹn. Mọi người “hân hoan khác thường” vì bữa cơm không chỉ có thức ăn mà còn có sự trở về của tình nghĩa, có cuộc gặp gỡ giữa hiện tại và quá khứ, giữa những con người vẫn biết tìm về bên nhau sau bao cách trở.
Nếu Lí đem đến sự đủ đầy cho mâm cỗ bằng đôi tay khéo léo thì chị Hoài đem đến chiều sâu tinh thần cho buổi sum họp bằng tấm lòng son sắt. Chị giống như một sợi dây mềm mại mà bền chắc, âm thầm nối các thành viên, nối người còn sống với người đã khuất, nối hôm nay với những giá trị tốt đẹp của ngày xưa. Chị không lên tiếng giảng giải về đạo lí; chính sự trở về và cách ứng xử của chị đã trở thành một bài học sống động về đạo lí.

4. Nghệ thuật xây dựng nhân vật tinh tế, giàu sức gợi
Ma Văn Kháng khắc họa chị Hoài chủ yếu qua những chi tiết ngoại hiện được lựa chọn cô đọng: ánh mắt “đăm đắm”, hành động “liền thế chân”, đôi tay “nâng lên trước ngực”. Nhà văn không trực tiếp nói rằng chị hiếu thảo, thủy chung hay giàu tình nghĩa mà để vẻ đẹp ấy tự tỏa ra từ hành động. Cách viết này khiến nhân vật hiện lên chân thực, tự nhiên mà vẫn có chiều sâu.
Nhân vật còn được soi sáng qua tình huống đoàn tụ vào chiều ba mươi Tết – thời điểm thiêng liêng nhất của đời sống gia đình. Không gian bàn thờ, lời khấn, mâm cỗ và bữa cơm sum họp tạo nên một nền văn hóa truyền thống, từ đó làm nổi bật tấm lòng hướng về cội nguồn của chị Hoài. Thủ pháp đối lập giữa chị Hoài và Cừ cũng giúp nhà văn gửi gắm sâu sắc suy ngẫm về mối quan hệ giữa huyết thống và tình nghĩa, giữa danh phận và trách nhiệm.
Như vậy, chị Hoài là hình ảnh đẹp của người phụ nữ Việt Nam: hiếu thảo, thủy chung, nhân hậu và sống trọn vẹn với nghĩa tình. Chị đã rời khỏi gia đình ông Bằng về hình thức nhưng chưa bao giờ rời khỏi mái nhà ấy trong tâm tưởng. Giữa “mùa lá rụng” của những biến động và đổ vỡ, chị chính là phần rễ bền sâu còn ở lại, gìn giữ cho khu vườn gia đình không mất đi hơi ấm. Qua nhân vật, Ma Văn Kháng nhắn nhủ rằng: trước mọi đổi thay của cuộc sống, chỉ có tình thương, lòng biết ơn và ý thức hướng về cội nguồn mới giúp con người giữ được gia đình, đồng thời giữ được phần người đẹp đẽ nhất trong chính mình.

Những câu văn so sánh các em nên áp dụng vào bài nghị luận văn học để tăng tính gợi hình gợi cảm cho lời văn:(St từ cô T...
12/09/2026

Những câu văn so sánh các em nên áp dụng vào bài nghị luận văn học để tăng tính gợi hình gợi cảm cho lời văn:
(St từ cô Thêu)

🔸Văn học:
- Văn học là tấm gương phản ánh hiện thực cuộc sống
- Văn học là ngọn hải đăng định hướng cho người đọc đến với chân lý
- Văn học và cuộc sống là hai đường tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người
- Văn học và cuộc sống như thần Ăng- tê và Đất mẹ. Thần trở nên vô địch khi đặt chân lên Đất mẹ cũng như văn học chỉ cường tráng và dũng mãnh khi gắn liền với hiện thực cuộc sống
- Văn học là tấm gương di chuyển dọc theo đường đời
- Văn chương là phương thuốc chữa lành những vết thương lòng
- Giống như lúa, ngô, đậu,… những thứ cây gần gũi nhất trên cánh đồng quê, Văn chương chính là ngũ cốc trên cánh đồng người
- Văn chương cũng có lửa, làm tan chảy những bức tường thép mà mỗi người tự dựng lên; văn chương cũng là băng gắn kết những ốc đảo người thành một khối; văn chương là nước dịu dàng và mãnh liệt vượt qua những rào cản của lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ
- Văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực để vừa tố cáo và thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người được thêm phong phú hơn
- Văn chương không phải là liều thuốc an thần ru con người vào giấc ngủ, mà là sắp luôn bỏng rát thức tỉnh con người
- Văn chương cũng là nghề mộc. Anh đều làm việc với hiện thực một vật liệu cứng như gỗ

🔸Tác phẩm văn học:
- Tác phẩm văn học phải là một phát minh về hình thức và khám phá mới về nội dung
- Tác phẩm văn học là một công trình nghệ thuật ngôn từ, là tòa lâu đài chữ nghĩa
- Nếu ví tác phẩm văn học như một hạt ngọc tròn trặn, ánh người thì cái tạo nên nó là hạt cát hiện thực cuộc sống và nước mắt hạt trai - công phu của người nghệ sĩ
- Tác phẩm văn học là cánh diều bay bổng gắn với cuộc đời bằng sợi dây mong manh nhưng bền chặt
- Tác phẩm văn học đích thực là viên ngọc tỏa ánh hào quang trong tro bụi thời gian

🔸Thơ
- Thơ là viên kim cương lấp lánh dưới ánh mặt
- Thơ là đôi cánh nâng tôi bay. Thơ là vũ khí trong trận đánh
- Thư là ngọn lửa sưởi ấm và soi sáng
- Thơ ca là dòng sông cảm xúc
- Thơ là âm nhạc của tâm hồn
- Thơ ca là tiếng hát của trái tim
- Thơ là tiếng lòng người nghệ sĩ
- Thơ là phần người gửi vào trong ngôn ngữ
- Thơ là rượu của thế gian
- Thơ là tự truyện của khát vọng
- Thơ là cơn gió thổi mát tâm hồn
- Thư là cầu nối trái tim đến với trái tim
- Thơ đối với cuộc sống như người phụ nữ đối với gia đình. Cái để làm quen ban đầu là nhan sắc, nhưng cái để sống với nhau lâu dài là đức hạnh
- Mỗi bài thơ /phải là một cô cửa nhỏ /mở tới tình yêu
- Thơ là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn
- Thơ giống như hoa trên đồng nội, trên rặng núi Anpơ, nơi mỗi bước đi lại hứa hẹn thêm một bông hoa mới, diệu kỳ hơn

🔸Truyện
- Truyện ngắn giống như nước hoa quả cô đặc
- Truyện ngắn là một kỳ quan nghệ thuật nhỏ bé nhưng có sức chấn động phi thường
- Truyện ngắn là một giọt nước tuy bé nhỏ nhưng có khả năng phản chiếu tất cả những hình ảnh, sắc màu lung linh của cuộc sống
- Truyện ngắn là con đom đóm bay vụt trong đêm tối chỉ qua một vệt sáng mà thấy được cả bầu trời đêm mênh mông
- Truyện ngắn là bàn tay siết lại thành nắm đấm. Tuy ngắn gọn nhưng có sức công phá mãnh liệt vào thực tế đa sắc màu
- Mỗi truyện ngắn hảo hạng giống như một hạt cây trong đó có thân cây đại thụ đang ngủ yên

🔸Nhà văn- nhà thơ- người nghệ sĩ ngôn từ:
- Là người dẫn đường đến xứ sở của cái đẹp
- Là người đưa ánh sáng vào trái tim người đọc
- Là người bênh vực cho những người không có ai bênh vực, người nâng giấc cho những kẻ cùng đường tuyệt lộ
- Là sứ giả của tình yêu
- Là người đi chữa vết thương lòng cho người khác
- Là người đi tìm hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người
- Là người ru đưa và thức tỉnh người đọc
- Là người cho máu
- Là người truyền lửa
- Là nhà nhân đạo từ trong cốt tủy
- Là người thư ký trung thành của thời đại

(St từ cô Thêu)

Address

Biên Hòa
810000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Thầy Phan Danh Hiếu posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The School

Send a message to Thầy Phan Danh Hiếu:

Shortcuts

Share

Category