Dạy - Tư Vấn - Can Thiệp Sớm Trẻ Đặt Biệt

Dạy - Tư Vấn - Can Thiệp Sớm Trẻ Đặt Biệt

Share

Nhận CAN THIỆP SỚM trẻ có Rối loạn phổ tự kỷ; tăng động, giảm chú ý; Chậm nói;ngọng...

22/07/2025

🌞MỘT SỐ BÀI TẬP GIÚP BÉ LUYỆN KHẨU HÌNH VÀ ÂM NGỮ: Giúp con tập phát âm – Luyện cơ hàm và môi
🚩Tập cơ hàm
Để nói được trước tiên cơ hàm của con phải hoạt động đúng cách, có chủ đích.
1. Cập răng:
Cha mẹ dạy con phải biết cập răng (nhấc hai hàm răng cập vào nhau). Mẹ ngồi trước mặt con rồi làm mẫu cho con. Yêu cầu con nhìn vào mẹ để bắt chước hoặc cùng làm trước gương để con nhìn và làm theo.
2. Đẩy hàm dưới qua lại hai bên:
Trước tiên, yêu cầu con há miệng rồi từ từ đưa hàm dưới qua hai bên. Hãy làm thật chậm rồi nhanh dần để con chú ý và làm theo.
3. Cắn môi dưới:
Hàm trên cắn nhẹ vào môi dưới rồi nhanh chóng bật môi dưới ra khỏi hàm răng giống như khi phát âm âm “v”.
🚩 Tập cơ môi
Môi cần phải được chuyển động đúng cách để bật được âm chuẩn, tránh trường hợp nói ngọng, nói không rõ từ.
1. Chu môi:
Các cha mẹ hãy luôn làm mẫu cho con trước: dạy con cách chu môi lên như khi phát âm âm.
Ví dụ: “u” hoặc “su su”, máy bay kêu “vù vù”. Mẹ có thể làm máy bay hoặc chơi máy bay – luôn có vật, tranh ảnh để con tương tác.
2. Tròn môi:
Rất nhiều bạn nói không rõ từ do không biết làm tròn môi, môi lúc nào cũng chỉ trong một trạng thái “rộng vành”. Vì vậy trước tiên mẹ dạy con cách làm tròn môi như âm “o” hoặc làm con gà gáy “ò ó o” để trẻ làm theo và bật âm ra.
3. Mím môi:
Trẻ phải biết mím môi để uống nước, hút sữa… Trước tiên mẹ dạy con mím môi vào tờ giấy, thìa… rồi mở môi để tờ giấy, thìa rơi xuống hoặc có thể cùng con hút, thổi ống nước để con thích thú học theo. Mẹ làm động tác gọi gà “bập bập” để con làm theo.
4. Phồng má: dạy con phồng má để lấy hơi.
🚩Giúp con tập phát âm – Khuyến khích phát âm (Phần 2)
Để giúp con nói cũng như rèn luyện để con nói rõ, các bậc phụ huynh không chỉ giúp con luyện cơ môi – hàm mà còn cần có một số các bài tập cũng như phương pháp phù hợp khuyến khích trẻ phát âm.
🚩Tập cơ lưỡi
Khi lưỡi hoạt động tốt thì trẻ mới có thể nói tốt. Vì vậy, gợi ý các phụ huynh một số các trò chơi giúp trẻ luyện cơ lưỡi.
1. Thò – thụt lưỡi:
Mẹ ngồi trước con rồi làm động tác thò thụt lưỡi từ chậm đến nhanh dần. Mẹ có thể “dụ” con làm bằng cách thò lưỡi ra và sau đó đặt lên lưỡi thứ mà con thích ăn nhất đề con học theo mẹ và làm theo để được cái mà con đang muốn.
2. Đá lưỡi sang hai bên:
Tương tự như các cách làm trên, mẹ đá lưỡi sang hai bên từ chậm đến nhanh để con làm và học theo.
3. Liếm môi trên/dưới:
Mẹ có thể bôi ngọt hoặc cái gì đó dính lên hai môi để con liếm môi.
🚩Dạy phát âm đơn giản
Cha mẹ nên dạy con bắt đầu từ 5 nguyên âm O, E, A, U, I cả khẩu hình và âm để con dễ bật âm hơn:
O: tròn môi
E: lưỡi đè nhẹ lên phần trong môi trên
U: chu môi
A: há rộng miệng
Khuyến khích phát âm
Khi tương tác với con mẹ tạo tình huống để phát ra các âm thanh quen thuộc giúp con có cơ hội bật được âm nhanh hơn như đưa tay lên miệng “oa oa”, gọi gà “bập bập”, “lêu lêu”, “ê ê”, tặc lưỡi…
• Bắt đầu các âm dễ với con như “và”, “vi vu”, “bơ”, “mơ”, “bà”, “ba”…
• Cho con đọc thơ, hát vuốt đuôi theo bài hát. Khi đến các từ cuối của câu thơ, câu hát mẹ nói to, rõ các âm đó dần dần mẹ nên chừa một khoảng trống (3-5s) ra để con nói vuốt đuôi từ đó theo mẹ vd: “hai vây xinh xinh” thì từ “xinh xinh” mẹ hát to, rõ từ rồi một thời gian sau khi hát đến từ đó mẹ chừa một khoảng trống ra để con nối từ vào. Mẹ nên nhớ rằng khi đọc thơ hay hát mà chú trọng bật âm cho trẻ thì ở những từ cuối của câu me phải nhìn vào mắt con để con giao tiếp mắt và để con bắt chước khẩu hình của mẹ để bật âm. Khi tương tác với con ở các động từ, các danh từ các mẹ nên nhấn mạnh vào từ cần truyền đạt một phần là để con hiểu rõ yêu cầu một phần là để con nghe rõ và bắt chước theo các từ đó (từ khóa). Hãy bắt đầu bằng các từ đơn giản, gần gũi và không có dấu, những từ có 1, 2 âm tiết để con dễ bật âm hơn.
🚩 Ngoài các kỹ thuật luyện âm trên thì các bài tập phục hồi chức năng áp dụng cho phần cơ môi, lưỡi, hàm cũng cần phải được thực hiện đồng thời và kiên trì hàng ngày. Đó là:
* Chườm nóng – lạnh vùng cằm; hàm; góc hàm: nhất là vói những bé xúc giác nhiễu loạn( cắn môi, thích cọ mặt, môi vào các vật cứng, thô ráp; cơ mặt thỉnh thoảng bị giật..) việc chườm nóng (70 đến 80oC) từ 3-6 lần trong ngày sẽ giúp con nhanh chóng giảm và hết những hành vi này.
* Mát xa xoay tròn theo chiều kim đồng hồ xuôi từ gốc hàm xuống tới cằm sau khi chườm nóng-lạnh sẽ giúp con vận động hàm tốt hơn, dễ bật âm hơn.
Lưu ý: Có một số trẻ rất muốn nói, hợp tác đưa khẩu hình khi được dạy nói nhưng không thể phát âm được thì có thể nghĩ tới việc con bị thiếu (hụt) hơi hay thắng lưỡi có vấn đề. Khi đó ngoài việc tích cực luyện tập với hàm, môi, lưỡi thì nhả phanh lưỡi hay tập thêm các bài luyện đẩy hơi (ép hơi, xiết đai…).
-ST-

06/07/2025

🎯 CÁC RỐI LOẠN PHỔ BIẾN Ở TRẺ EM – CHA MẸ CẦN BIẾT!
Phát hiện sớm – Can thiệp kịp thời – Giúp con phát triển trọn vẹn
🔹 1. Rối loạn phổ tự kỷ (ASD)
– Giao tiếp xã hội khó khăn: tránh ánh mắt, không đáp khi gọi tên
– Hành vi lặp đi lặp lại: vẫy tay, xoay vòng, xếp đồ vật theo trật tự lạ
– Nhạy cảm bất thường với âm thanh, ánh sáng, mùi vị
– Chậm nói hoặc có cách nói đặc biệt, lặp lại lời người khác
🔹 2. Rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD)
– Tăng động: Không ngồi yên, luôn chạy nhảy, nói nhiều
– Giảm chú ý: Mau xao nhãng, khó tập trung học tập
– Bốc đồng: Không chờ đến lượt, hành vi bộc phát, dễ cáu giận
🔹 3. Rối loạn học tập chuyên biệt
– Rối loạn đọc: Đọc chậm, hay nhầm chữ, không hiểu nội dung
– Rối loạn viết: Chữ xấu, viết sai chính tả, khó sắp xếp ý tưởng
– Rối loạn toán học: Nhầm lẫn số, đếm sai, khó làm toán
🔹 4. Rối loạn ngôn ngữ và lời nói
– Rối loạn ngôn ngữ: Khó hiểu lời người khác, khó diễn đạt ý mình
– Rối loạn lời nói: Nói ngọng, nói lắp, khó phát âm
🔹 5. Rối loạn lo âu ở trẻ em
– Lo lắng quá mức: Sợ đi học, lo bài tập, sợ bị đánh giá
– Sợ hãi vô lý: Sợ bóng tối, người lạ, xa cha mẹ
– Căng thẳng thể chất: Đau bụng, tim đập nhanh khi lo
– Tránh né: Từ chối đi học, né tránh giao tiếp

Nguồn: st

===================

04/07/2025

📣 ĐIỀU CHỈNH NGÔN NGỮ KHI CHƠI VỚI TRẺ 📣

Khi chơi với trẻ, việc điều chỉnh ngôn ngữ là rất quan trọng để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ và giao tiếp hiệu quả.

1️⃣ Hãy sử dụng cách nói bình luận thay vì đặt câu hỏi
Với một số trẻ, việc trả lời các câu hỏi thường khiến trẻ bối rối. Thay vì hỏi “Con đang làm gì”? Mẹ nói “Con chơi ô tô”. Cách nói theo kiểu bình luận, mô tả việc con đang chơi sẽ giúp cho con hiểu việc mình đang làm. Khi bình luận, cha mẹ nên nói về những thứ con đang quan tâm và chú ý tới. Ví dụ con đang thích quả bóng bay, hãy nói về chúng. Một cách nữa để bình luận đó là “gán ý nghĩa cho hành động của con” cha mẹ hãy gọi tên hành động của con “rót nước”, “đẩy xe” để cung cấp them thông tin cho con về những việc con đang làm.

2️⃣ Nói ngắn – nói chậm
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em bắt đầu từ những hành động, đến âm bập bẹ, từ đơn, từ đôi, cụm từ đơn giản, cụm từ có kèm từ miêu tả, và cụm lời nói phức tạp. Nếu con của cha mẹ chỉ đang giao tiếp với cha mẹ bằng hành động hay những âm bập bẹ. Cha mẹ nên giản lược ngôn ngữ của mình từ một câu dài “ Con chơi ô tô” thành “ Ô tô” và sử dụng hành động đẩy ô tô khi cha mẹ nói. Tương tự như vậy nếu con nói từ đơn thì cha mẹ chỉ sử dụng từ đơn hoặc từ đôi để bình luận hoạt động của con.
Nói chậm: cũng vì tốc độ xử lý thông tin của con chậm hơn, cha mẹ cần nói chậm, sau khi nói dừng lại (khoảng 15-30 giây) để con có thời gian phản hồi lại cha mẹ nhé. Cha mẹ cũng có thể sử dụng hình ảnh minh họa để giúp con hiểu tốt hơn.

3️⃣ Lặp đi lặp lại các từ/cụm từ
Việc nói lặp đi lặp lại những cụm từ sẽ giúp cho con hiểu về các bước chơi nhất quán, giúp con hiểu được bước tiếp theo là gì? Ví dụ, khi mẹ nói “ chuẩn bị… chạy….” và đuổi theo con. Khi mẹ lặp đi lặp lại, con sẽ hiểu rằng khi mẹ kết thúc từ “chạy” là lúc con có thể chạy thật vui vẻ trong sân. Lặp đi lặp lại cũng là cơ hội để con được nghe ngôn ngữ nhiều lần, giúp con học được ngôn ngữ nhanh hơn.

👉👉👉 Để hiểu chi tiết hơn về chiến lược này, cha mẹ có thể tìm hiểu thêm tại đây: https://a365.vn/huong-dan-can-thiep/bai-tap/ky-thuat-dieu-chinh-ngon-ngu-khi-choi-voi-tre-fb118b1cb9
------
A365 - Chăm sóc thông minh cho trẻ
💻Website: https://a365.vn/
👉Tiktok: a365lab_official
📭Email: [email protected]
☎️Hotline: 034 436 5229
🌈 Khóa học "Hỗ trợ hành vi tích cực" dành cho phụ huynh (Viết tắt là Khóa học PBS) hướng dẫn cho phụ huynh/người chăm sóc trẻ những kỹ năng và chiến lược hiệu quả để hỗ trợ hành vi tích cực cho con tại nhà. Khóa học được triển khai trực tuyến Online qua các video được quay sẵn và các buổi học Zoom, kéo dài trong 10 tuần. Tìm hiểu thông tin và đăng ký tham gia khóa học tại:https://a365.vn/assets/pdf/pbs.pdf

06/06/2025

CHIẾN LƯỢC VÀ KỸ THUẬT DẠY TRẺ TỰ KỶ CHỦ ĐỘNG GIAO TIẾP

🚳 Cảnh báo sai lầm thường gặp

❌ Dạy trẻ “lặp lại lời người lớn” → không giúp phát triển giao tiếp chủ động

❌ Cho mọi thứ trước khi trẻ yêu cầu → tước mất cơ hội giao tiếp

❌ Dạy kỹ năng giao tiếp tách biệt hoàn toàn khỏi đời sống → trẻ không biết áp dụng

✅ Giao tiếp phải được thiết kế vào dòng sinh hoạt hàng ngày, có thật, có nghĩa, có người tương tác.

1️⃣ Đặt lại câu hỏi bài trước: Chúng ta đang dạy “nói” hay dạy “giao tiếp”?

Nhiều người lầm tưởng rằng “trẻ tự kỷ chậm nói” thì chỉ cần dạy nói. Nhưng sự thật phức tạp hơn: nhiều trẻ có thể phát âm, đọc từ, nhắc lại câu – mà vẫn không biết dùng lời để giao tiếp có mục đích.

👉 Giao tiếp chủ động là khi trẻ:

✅ Hiểu được mình muốn gì, cần gì

✅ Chủ động chia sẻ, yêu cầu, hỏi, từ chối, mời gọi, thể hiện cảm xúc – với người khác

✅ Biết rằng: người đối diện là “người bạn cùng tương tác”, không phải “đối tượng phản ứng”

Đó là lý do, mục tiêu then chốt không phải “học nói nhanh”, mà là học giao tiếp có động cơ, có mục đích, có kết nối xã hội.

2️⃣ Tư duy chiến lược: 3 trụ cột của giao tiếp chủ động

(1) Giao tiếp phải có LÝ DO

Không ai giao tiếp vì bị bắt buộc. Trẻ cũng vậy.
Hãy luôn tự hỏi: “Trẻ có cần ta không? Trẻ có lý do để gọi tôi không? Trẻ có điều gì cần chia sẻ không?”

(2) Giao tiếp là HÀNH ĐỘNG XÃ HỘI

Nói từ một mình không phải giao tiếp. Giao tiếp cần người đối diện, phản hồi và cùng chia sẻ trải nghiệm.

👉 Cần tạo tình huống mà trẻ cần bạn để hành động xảy ra.

(3) Giao tiếp là QUÁ TRÌNH – không phải sản phẩm

Không phải học được 10 từ là xong. Trẻ cần được nhúng trong dòng chảy tương tác hàng ngày, để học dần từ lý do – đến phương thức – đến phản hồi.

3️⃣ Phương pháp cốt lõi: Hướng về giao tiếp chủ động

✅ Dạy bằng mô hình bộ 3: Người – Vật – Hành động có chủ đích

Thay vì tập trung dạy từ rời rạc, hãy tạo tình huống:

- Trẻ muốn cái gì đó (Ví dụ: b**g bóng)
- Bạn giữ nó (trẻ cần bạn)
- Bạn chờ trẻ ra tín hiệu (trẻ đưa tay, nhìn, ra hiệu, nói)
- Bạn phản hồi ngay (thổi bóng, đưa b**g bóng)

⏩ Lặp lại liên tục – trẻ hiểu: “Giao tiếp là cách để mình có được thứ mình muốn”.

4️⃣ Kỹ thuật cụ thể & cách vận dụng tại nhà, trường học

(1) Kỹ thuật “Cố ý quên”

Ẩn bớt một phần thông tin quan trọng trong hoạt động: Ví dụ: đưa sữa nhưng không mở nắp, đưa đồ chơi không pin, gắn khối hình sai chỗ.

Chờ trẻ ra tín hiệu: Trẻ sẽ phải nhờ, ra hiệu, gọi bạn → cơ hội giao tiếp.

✅ Dùng trong: giờ ăn, chơi xếp hình, hoạt động nhóm.

(2) Kỹ thuật “Giao tiếp bị trì hoãn”

- Khi trẻ nhìn bạn → hãy chờ vài giây trước khi giúp
- Không đoán trước nhu cầu → tạo cơ hội để trẻ tự diễn đạt

✅ Giúp trẻ học cách chủ động khởi xướng.

(3) Kỹ thuật “Mở rộng ngôn ngữ”

- Nếu trẻ nói: “Bánh” → bạn nói: “Con muốn bánh à?”
- Nếu trẻ chỉ ra hiệu → bạn nói thay bằng câu đầy đủ

✅ Trẻ học cấu trúc ngôn ngữ qua tương tác thực tế.

((4) Dạy dùng công cụ hỗ trợ giao tiếp (AAC)

- Sử dụng PECS, cử chỉ, bảng tranh hoặc thiết bị phát giọng

➡️ Dạy theo giai đoạn logic:
1. Yêu cầu vật mong muốn
2. Chọn lựa
3. Trả lời câu hỏi
4. Chủ động khởi xướng

- Không lo trẻ “lười nói” vì dùng tranh – Khoa học đã chứng minh AAC tăng khả năng nói về sau.
Lưu ý: Dành cho trẻ chưa có ngôn ngữ nói rõ ràng.

(5) Lặp từ khóa xuyên suốt hoạt động

- Chọn 3–5 từ khóa chính/ngày (VD: “con muốn”, “giúp con”, “xong rồi”, “chơi nữa”, “dừng lại”)
- Lặp đi lặp lại trong mọi tình huống, cả ở nhà và lớp

✅ Trẻ học được cách dùng từ trong ngữ cảnh thực.

(6) Dùng “kịch bản giao tiếp” ngắn – lặp lại

- Tạo đoạn hội thoại mẫu dễ nhớ:
Ví dụ:
Cô: “Con muốn gì?”
Trẻ: “Con muốn chơi ô tô”
Cô: “Được rồi, ô tô đây!”
- Lặp lại mỗi ngày trong giờ quen thuộc (ăn, chơi, dọn đồ)

✅ Giúp trẻ dễ ghi nhớ và sử dụng trong các tình huống tương tự.

Tóm lại: Dạy trẻ giao tiếp chủ động không phải dạy nói, mà là dạy sống có kết nối,

Giao tiếp là cầu nối giữa trẻ và thế giới. Với trẻ tự kỷ, việc dạy giao tiếp chủ động không thể trì hoãn, cũng không thể dạy kiểu cơ học, mà cần bắt đầu từ nhu cầu thực, tình huống sống, và kết nối cảm xúc thực sự. Cha mẹ và giáo viên chính là những “người dẫn dắt tương tác” đầu tiên. Dù trẻ có ngôn ngữ hay chưa, vẫn có thể học giao tiếp nếu người lớn kiên trì, sáng tạo và hiểu đúng bản chất của giao tiếp.

Sáng ngày 6/6/2025
TS Đỗ Thị Thảo - Trưởng khoa Giáo dục đặc biệt, trường Đại học Sư phạm Hà Nội

09/05/2025

Khi nào dùng thuốc khi nào không dùng thuốc?
Quý vị không tự nghe ai khuyên trên mạng, đặc biệt là các trang nhóm hội liên quan đến trẻ tự kỷ hay ADHD rồi dùng thuốc theo lời khuyên của những người không có chuyên môn hay lời khuyên của phụ huynh khác. Vừa rồi tôi thấy có status nào đó viết về sử dụng Melatonin để hỗ trợ giấc ngủ cho trẻ tự kỷ, có người nói là bác sĩ này, bác sĩ kia khuyên là Melatonin có thể uống liều đến 30mg (?) hay bạn này hiểu nhầm và viết nhầm 3mg thành 30mg (?). Hiện nay, Melatonin là thuốc có thể mua không kê toa (Over the counter) nhưng cũng không thể lạm dụng, tuỳ tiện hiểu sai về liều lượng, các thầy thuốc làm trong lãnh vực về phát triển thần kinh đều có thể biết được liều Melatonin như thế nào. Riêng đối với cá nhân, tôi không khuyên ai tự uống thuốc hoặc khuyên liều thuốc để tự uống một cách máy móc và liều bạn này viết như thế không đúng. Việc điều trị cần được đánh giá về chuyên môn và điều trị bởi nhà chuyên môn, rối loạn giấc ngủ là vấn đề thường gặp ở trẻ có rối loạn phổ tự kỷ, do nhiều nguyên nhân, cơ chế khác nhau về thần kinh, tâm lý, hành vi, giác quan, tự điều chỉnh, không đơn thuần chỉ là giấc ngủ. Việc tự uống thuốc hoặc tự dừng thuốc khi đang điều trị có thể gây những tác dụng nguy hiểm ví dụ như ngừng thuốc chống động kinh đột ngột có thể gây động kinh liên tục nguy hiểm. Việc có nên điều trị thuốc hay không nên cần được đánh giá kỹ lưỡng cụ thể, tuỳ theo vấn đề, tuổi, tình trạng hay vấn đề đi kèm, diễn tiến của vấn đề nếu không điều trị… không đơn giản là uống hay không uống. Có những tình huống người không có chuyên môn và kinh nghiệm hoặc không làm trong lãnh vực chuyên môn lại đi khuyên về dùng thuốc hay không dùng thuốc, ví dụ có những người làm can thiệp hay giáo viên lại khuyên là không được dùng thuốc trong khi trường hợp đó có thể có những lựa chọn khác nhau trong điều trị hoặc có tình huống cần có sự phối hợp giữa trị liệu thuốc và không dùng thuốc như trị liệu hành vi, tâm lý, có những trường hợp thuốc có vai trò quan trọng hơn là điều trị khác ví dụ như động kinh, rối loạn hành vi nặng nề, loạn thần, rối loạn cảm xúc… Điều trị thuốc đối với rối loạn phổ tự kỷ không phải là liệu pháp chính nhưng cũng có khi cần thiết trong một số tình huống, cần xem tuổi của trẻ, cần đánh giá kỹ, tìm kiếm các chứng cớ khoa học khi điều trị thuốc, theo dõi và điều chỉnh liều cho phù hợp, tư vấn cho phụ huynh và cuối cùng cần nhớ rằng thuốc không phải là “viên đạn phép màu” “Miracle bullet” vì tính phức tạp hay khó khăn của ca (Complex case). Sự phối hợp giữa nhiều lãnh vực trong can thiệp là điều cần thiết và cần biết cách phối hợp với nhau như thế nào?.
Nguồn: BS Gian Phan

02/05/2025

Bùng nổ hành vi và cảm xúc khi triển khai phương pháp Ngừng củng cố

02/05/2025

HIỂU ĐÚNG VỀ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ
(Bài viết khá dài, mọi người kiên nhẫn đọc nhé)

1️⃣ Tự kỷ là một rối loạn phát triển thần kinh suốt đời – không phải là một bệnh có thể “chữa khỏi”

Rối loạn phổ tự kỷ (Autism Spectrum Disorder) là một rối loạn phát triển thần kinh ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp, tương tác xã hội, xử lý cảm giác và hành vi. Đây không phải là một “bệnh” theo nghĩa truyền thống, do đó không thể “chữa khỏi” bằng thuốc hay can thiệp y học thông thường.

Tuy nhiên, can thiệp giáo dục đặc biệt đúng cách, trẻ có thể phát triển các kỹ năng cần thiết để thích nghi, giao tiếp hiệu quả hơn và nâng cao chất lượng cuộc sống. Mục tiêu không phải là “hết tự kỷ”, mà là phát triển tối đa tiềm năng của mỗi trẻ.

2️⃣ “Phổ” trong tự kỷ nghĩa là rất đa dạng, mỗi trẻ là một cá nhân riêng biệt

Tự kỷ là một phổ rối loạn, nghĩa là không có hai trẻ tự kỷ hoàn toàn giống nhau. Có trẻ có ngôn ngữ tốt, khả năng nhận thức cao, nhưng lại gặp khó khăn trong tương tác xã hội hoặc điều hòa cảm giác. Có trẻ lại chậm ngôn ngữ, chậm trí tuệ, kèm theo hành vi lặp lại hoặc thụ động nặng.

Do vậy, không thể áp dụng một phương pháp chung cho mọi trẻ tự kỷ. Giáo viên và cha mẹ cần dựa trên đánh giá toàn diện để xây dựng Kế hoạch giáo dục cá nhân (IEP) phù hợp với hồ sơ phát triển cụ thể của từng trẻ: điểm mạnh – điểm yếu – sở thích – nhu cầu hỗ trợ.

3️⃣ Tự kỷ không phải do cha mẹ “nuôi dạy sai” hay do tiêm vắc xin

Đây là một hiểu lầm phổ biến và gây tổn thương sâu sắc cho gia đình trẻ tự kỷ. Không có bằng chứng khoa học đáng tin cậy nào chứng minh rằng tiêm vắc xin hoặc phương pháp nuôi dạy gây ra tự kỷ.

Nguyên nhân của tự kỷ được xác định là do sự tương tác giữa yếu tố di truyền và các bất thường trong sự phát triển thần kinh từ giai đoạn bào thai. Một số nghiên cứu cho thấy có liên quan đến:

(1) Di truyền học (các biến thể gen đặc hiệu)
(2) Rối loạn kết nối giữa các vùng não bộ
(3) Yếu tố môi trường trước và trong sinh (nhiễm trùng, biến chứng thai kỳ…)

Điều quan trọng nhất là: gia đình không có lỗi. Thay vì đổ lỗi, cần tập trung vào đồng hành và hỗ trợ trẻ bằng cách tiếp cận khoa học, tích cực và nhân văn.

4️⃣ Trẻ tự kỷ có thể học được, nếu được dạy đúng cách và đúng thời điểm

Trẻ tự kỷ không mất khả năng học, mà là có cách học khác biệt. Não bộ của trẻ xử lý thông tin theo cách không điển hình, nên nếu người lớn dùng phương pháp dạy truyền thống sẽ dễ gặp thất bại hoặc nhầm tưởng rằng trẻ “không hiểu”, “không tiếp thu”.

Cách dạy đúng cần cá nhân hóa và dựa trên nguyên tắc giáo dục đặc biệt:

✅ Trực quan hóa nội dung (dùng tranh ảnh, biểu tượng, lịch trình bằng hình…)

✅ Cấu trúc hóa môi trường và hoạt động (rõ ràng về thời gian, không gian, trình tự)

✅ Sử dụng hỗ trợ thị giác và nhắc nhở cảm giác (giúp trẻ giảm lo âu, tăng khả năng tập trung)

✅ Chia nhỏ kỹ năng thành bước, dạy từng bước một cách hệ thống.

✅ Lặp lại nhất quán và có chiến lược củng cố tích cực phù hợp.

Không thể mong đợi trẻ tự kỷ tiến bộ nếu người dạy không kiên trì, không nắm đúng chiến lược hoặc chỉ áp dụng một chiều. Chính sự phối hợp giữa kiến thức chuyên môn, sự quan sát tỉ mỉ và sự đồng hành kiên định là chìa khóa giúp trẻ phát triển.

5️⃣ Can thiệp sớm là “cửa sổ vàng” quyết định cơ hội phát triển của trẻ tự kỷ

Nghiên cứu trong các lĩnh vực thần kinh học, tâm lý học phát triển và giáo dục đặc biệt đều thống nhất: giai đoạn từ 0–5 tuổi là thời kỳ não bộ có độ mềm dẻo thần kinh cao nhất (neuroplasticity). Đây là thời điểm vàng để giúp trẻ hình thành các kỹ năng nền tảng như: ngôn ngữ, giao tiếp, tương tác xã hội và kiểm soát hành vi.

Can thiệp càng sớm, cơ hội hòa nhập và độc lập càng cao. Tuy nhiên, “sớm” không có nghĩa là dạy nhiều hay ép trẻ học dồn dập. Một chương trình can thiệp hiệu quả cần:

✅ Toàn diện: bao phủ nhiều lĩnh vực phát triển (nhận thức, ngôn ngữ, cảm xúc – xã hội, vận động, hành vi…)

✅ Liên ngành: có sự phối hợp giữa các chuyên gia (giáo dục đặc biệt, tâm lý, âm ngữ, hoạt động trị liệu…)

✅ Cá nhân: thiết kế theo hồ sơ phát triển, điểm mạnh, điểm yếu riêng của từng trẻ

Can thiệp sớm không “chữa khỏi” tự kỷ, nhưng giúp trẻ phát triển tối đa tiềm năng và đạt mức độ độc lập cao nhất có thể.

6️⃣ Trẻ tự kỷ có thể sở hữu năng lực vượt trội ở một số lĩnh vực đặc thù

Một tỷ lệ đáng kể trẻ rối loạn phổ tự kỷ thể hiện năng lực nổi bật trong các lĩnh vực như toán học, nghệ thuật thị giác, âm nhạc, trí nhớ cơ học. Đây được gọi là các năng lực biệt lập hoặc hiện tượng “thiên tài cục bộ”.

Việc phát hiện và nuôi dưỡng đúng tiềm năng sẽ phát huy được tiềm lực vượt trội của trẻ, góp phần nâng cao sự tự tin và chất lượng cuộc sống của trẻ.

Tuy nhiên, bên cạnh năng lực nổi trội, phần lớn trẻ vẫn gặp khó khăn đáng kể trong các kỹ năng học tập, giao tiếp xã hội và điều chỉnh hành vi. Nếu không được can thiệp đúng thời điểm, đúng phương pháp và đúng cường độ, những rào cản này có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình hòa nhập và phát triển toàn diện của

7️⃣ Trẻ tự kỷ có cảm xúc nhưng cách thể hiện rất khác biệt

Nhiều người nghĩ trẻ tự kỷ “lạnh lùng”, “vô cảm”, nhưng thực ra trẻ có cảm xúc, có yêu thương, có tổn thương, chỉ là cách bộc lộ không giống như người bình thường. Trẻ có thể không ôm bạn khi vui, không khóc khi buồn, hoặc không biết cách an ủi người khác.

Do trẻ gặp khó khăn trong nhận biết, diễn đạt và hiểu cảm xúc – cả của bản thân lẫn người khác. Vì vậy, chương trình can thiệp cần ưu tiên dạy kỹ năng cảm xúc – xã hội thông qua:

➡️ Trò chơi tương tác có chủ đích
➡️ Dạy gọi tên cảm xúc (vui, buồn, sợ, giận…)
➡️ Luyện tập phản ứng phù hợp khi bản thân hoặc người khác có cảm xúc
➡️ Sử dụng tranh ảnh, gương mặt cảm xúc, video minh họa…

Phát triển cảm xúc – xã hội không phải là “phần phụ”, mà là một trong những trụ cột then chốt để trẻ học cách sống hòa nhập và xây dựng các mối quan hệ.

8️⃣ Rối loạn cảm giác là một khó khăn thường gặp và cần can thiệp đúng cách

Một số trẻ tự kỷ bịt tai khi nghe tiếng máy sấy? Nhảy liên tục? Ngửi đồ vật? Né tránh đụng chạm? Đó không phải “nghịch dại”, mà có thể là biểu hiện của rối loạn xử lý giác quan – có ở hơn 80% trẻ tự kỷ.

Trẻ có thể: Phản ứng quá mức (nhạy cảm cực độ với âm thanh, ánh sáng, đụng chạm…); Phản ứng kém (không nhận ra đau, không phản ứng khi gọi tên, cần kích thích mạnh để “tỉnh” lên); Tìm kiếm cảm giác liên tục (đập tay, xoay tròn, liếm đồ vật…)

Những khó khăn này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tập trung, học tập và kiểm soát hành vi. Nếu không được can thiệp đúng, trẻ dễ bị hiểu sai là “quậy phá” hoặc “cố tình”.

Do đó, trẻ cần được đánh giá giác quan kỹ lưỡng và có chương trình điều hòa cảm giác phù hợp.

9️⃣ Giao tiếp chức năng là nền tảng đầu tiên và quan trọng nhất khi can thiệp cho trẻ tự kỷ

Giao tiếp chức năng nghĩa là trẻ biết cách diễn đạt những điều mình cần trong cuộc sống hàng ngày, ví dụ như: “Con muốn uống nước”, “Con không thích”, “Con cần giúp”, “Con muốn chơi nữa”, hoặc “Con muốn dừng lại”.

Với trẻ tự kỷ, không nhất thiết phải bắt đầu bằng lời nói. Nếu trẻ chưa nói được, có thể dạy trẻ dùng hình ảnh (như PECS), cử chỉ, ký hiệu tay, hoặc thiết bị hỗ trợ (như máy phát giọng nói). Quan trọng nhất là trẻ hiểu: nói ra – bằng bất kỳ cách nào – sẽ giúp con được đáp ứng đúng nhu cầu.

Nếu trẻ không có cách để giao tiếp, trẻ dễ bị bức bối, dẫn đến la hét, ăn vạ, đánh người… Vì vậy, trước khi can thiệp hãy dạy trẻ cách “nói” điều mình cần.

🔟 Tự kỷ không đồng nghĩa với “kém thông minh” – Cần phân biệt rõ ràng giữa rối loạn phổ tự kỷ và khuyết tật trí tuệ

Nhiều người dễ nhầm lẫn giữa rối loạn phổ tự kỷ và khuyết tật trí tuệ (IQ thấp), dẫn đến đánh giá sai năng lực thực sự của trẻ. Trên thực tế, không phải tất cả trẻ tự kỷ đều có trí tuệ thấp. Nhiều trẻ có trí tuệ ở mức bình thường hoặc cao, nhưng gặp khó khăn trong giao tiếp, ngôn ngữ và tương tác xã hội nên không thể hiện được đầy đủ năng lực.

Tự kỷ là rối loạn ảnh hưởng đến chất lượng phát triển, còn khuyết tật trí tuệ là rối loạn về số lượng kỹ năng và tốc độ phát triển trí tuệ. Việc nhầm lẫn giữa hai tình trạng này có thể dẫn đến:

✅ Đánh giá sai tiềm năng học tập của trẻ

✅ Gán nhãn không chính xác, gây tổn thương tâm lý

✅ Thiết kế chương trình can thiệp không phù hợp, ảnh hưởng hiệu quả giáo dục

Vì vậy, cần có đánh giá phân biệt rõ ràng từ đội ngũ liên ngành chuyên môn, sử dụng các công cụ chẩn đoán, đánh giá chuyên biệt, trước khi đưa ra kế hoạch giáo dục và can thiệp phù hợp.

Tự kỷ không phải là “hết hy vọng”, mà là một quá trình phát triển cần can thiệp chuyên biệt, bền bỉ và đúng hướng. Khi hiểu đúng và hỗ trợ đúng, trẻ có thể đạt được những tiến bộ đáng kể và hòa nhập tốt trong cộng đồng.

Nguồn: TS Đỗ Thị Thảo

28/04/2025

Giai đoạn VÀNG - Can thiệp sớm cho trẻ

1. Tại sao gọi là giai đoạn vàng.?
Đây là giai đoạn phát triển mạnh nhất về ngôn ngữ, thể chất, các giác quan, tâm lý, thần kinh... cho nên nếu được can thiệp kịp thời sẽ dễ dàng hơn rất nhiều so với lứa tuổi lớn hơn.

2. Khi nào thì con nói được? sao con chưa chịu nói?
- Trước khi nói được, con cần phải nghe hiểu trước, con phải tập trung chú ý trước, phải biết giao tiếp mắt, giao tiếp bằng cử chỉ điệu bộ trước...
- Nếu không sẽ dẫn đến trẻ sẽ nhại lời là chủ yếu, trẻ nhại và không hiểu nghĩa của lời nói.
- Vậy trước khi đặt câu hỏi, sao con chưa chịu nói, thì bố mẹ hãy đặt câu hỏi về sự chú ý của trẻ, bắt chước của trẻ, về sự nghe hiểu của trẻ... trước đã nhé.

3. Nhập học cùng lúc sao tuổi phát triển khác nhau?
- Mỗi trẻ có một khó khăn khác nhau, có một kế hoạch, một mục tiêu khác nhau. Kể cả một đứa trẻ bình thường, cũng có bạn tốt bạn yếu.
Không thể đem ra so sánh giữa trẻ này và trẻ khác được.

4. Trẻ có ngôn ngữ là ngừng can thiệp.
- Trẻ có thể nói được vài ba từ, nhưng trẻ đã hiểu được câu hỏi và trả lời hay chưa? trẻ đã biết tự thể hiện nhu cầu bản thân chưa? biết đặt câu hỏi chưa?....
Đâu chỉ nói được là được, nói vô nghĩa, nói nhại lời cũng gọi là nói, nói nhảm, nói luyên thuyên,... vấn đề là trẻ nói như thế nào, có đúng ngữ cảnh hay không???
Bố mẹ cần tìm hiểu thật kỹ vấn đề này nhé.

5. Can thiệp ngắt quãng:
- Học 10 buổi nghỉ 5 buổi, học 2 tháng nghỉ 1 tháng... liệu có hiệu quả không ạ?
Câu trả lời rõ ràng là không, cùng một nội dung, thì bạn học liên tục sẽ khác hẳn bạn học ngắt quãng, đặc biệt trẻ của chúng ta lại cực kỳ chậm nhớ nhanh quên.

6. Không đồng hành cùng con.
Bạn có những lí do rằng công việc quá bận, đã dạy nhưng con không hợp tác hoặc con đã có thầy cô dạy ở lớp rồi.
Một đứa trẻ phát triển tốt nhất chỉ khi đạt được sự quan tâm, chăm sóc, dạy bảo của 3 bên: Gia đình- Nhà trường- Xã hội.

Nguồn: sưu tầm

25/04/2025

10 điều hiểu đúng và 10 hiểu chưa đúng về tăng động giảm chú ý (ADHD)

HIỂU ĐÚNG về ADHD

1️⃣ ADHD là một rối loạn phát triển thần kinh, không phải do lười biếng, bướng bỉnh hay “thiếu dạy dỗ”.

2️⃣ ADHD không phải lúc nào cũng kèm theo tăng động, nhiều trẻ chỉ có biểu hiện mất tập trung.

3️⃣ Trẻ ADHD có thể thông minh, sáng tạo và giàu tiềm năng, nhưng thường khó phát huy nếu không có hỗ trợ phù hợp.

4️⃣ Mức độ triệu chứng ADHD thay đổi theo môi trường, trẻ có thể tỏ ra ổn ở nơi yên tĩnh nhưng khó kiểm soát hành vi trong lớp học đông.

5️⃣ Can thiệp hành vi và hỗ trợ giáo dục đúng cách có thể cải thiện rất rõ rệt khả năng tập trung, kiểm soát hành vi và học tập của trẻ.

6️⃣ ADHD không thể “chữa khỏi” hoàn toàn, nhưng có thể quản lý hiệu quả bằng sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và chuyên gia.

7️⃣ Cha mẹ và giáo viên là hai nhân tố then chốt giúp trẻ xây dựng kỹ năng tự điều chỉnh và hòa nhập thành công.

8️⃣ Trẻ ADHD không cố tình gây rối, các hành vi tiêu cực thường do xung đột giữa năng lực và yêu cầu quá sức.

9️⃣ Chẩn đoán ADHD cần quy trình đánh giá chuyên sâu chứ không chỉ dựa vào quan sát ngắn hạn hay cảm tính (cần theo dõi đánh giá trong 2 tuần) và hành vi đó được cha mẹ và giáo viên cho biết có biểu hiện ít nhất trong 6 tháng.

🔟 Mỗi trẻ ADHD là một cá thể riêng biệt, không có một công thức chung cho tất cả, can thiệp cần được cá nhân hoá để phù hợp với mỗi trẻ.

Những điều HIỂU CHƯA ĐÚNG về ADHD

1️⃣ “ADHD là do cha mẹ không nghiêm khắc” - SAI

ADHD có nguồn gốc sinh học, không phải do cách dạy dỗ.

2️⃣ “Trẻ ADHD chỉ cần chăm hơn là được” - SAI
Các em cần phương pháp học riêng phù hợp với cách não bộ xử lý thông tin.

3️⃣ “ADHD chỉ là giai đoạn nhất thời, rồi cũng qua” –
SAI
ADHD kéo dài tới tuổi trưởng thành nếu không được hỗ trợ kịp thời.

4️⃣ “Con tôi có thể tập trung khi chơi điện tử, vậy chắc không bị ADHD” SAI
ADHD gây khó khăn khi duy trì sự chú ý với nhiệm vụ ít kích thích, không phải với mọi việc.

5️⃣ “Trẻ ADHD lúc nào cũng nghịch, phá” – SAI

Có trẻ ADHD thể không tăng động, chỉ mất tập trung, chậm chạp.

6️⃣ “Dùng thuốc là nguy hiểm, làm con đơ ra” – SAI

Nếu được chỉ định đúng và theo dõi chặt, thuốc có thể hiệu quả trong quản lý triệu chứng tăng động, cần được bác sỹ tư vấn, theo dõi và kê đơn, không nên tự ý mua thuốc cho con dùng. Tuy nhiên, không phải trẻ nào cũng nên dùng thuốc.

7️⃣ “Trẻ ADHD không thể học tốt như các bạn khác” – SAI
Với hỗ trợ phù hợp, nhiều em có thể học giỏi và thành công.

8️⃣ “Cha mẹ phải ở nhà canh chừng con ADHD suốt ngày” – SAI
Quan trọng là xây dựng kỹ năng và thiết lập hệ thống hỗ trợ giúp con tự lập dần.

9️⃣ “ADHD sẽ tự hết khi con lớn” – SAI.
ADHD có thể giảm nhẹ, nhưng phần lớn người lớn vẫn mang theo đặc điểm này trong cuộc sống.

🔟 “Chỉ có bé trai mới bị ADHD” – SAI.
Bé gái cũng bị ADHD, nhưng tỉ lệ ít gặp hơn.

Tóm lại: “ADHD không phải rào cản, hiểu sai về ADHD mới là điều cản bước trẻ.” “Thay đổi cách nhìn, bạn sẽ thay đổi cả cuộc đời của một trẻ.”

Chúc các thầy cô và cha mẹ thật nhiều kiên nhẫn, yêu thương và thành công trên hành trình đồng hành cùng con tiến bước. Mặc dù chậm, nhưng chắc chắn và đầy hy vọng.

Đỗ Thị Thảo

21/04/2025

DẤU HIỆU BÁO ĐỘNG ĐỎ TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỈ (0-6 TUỔI)

🍼 0–6 tháng tuổi: "Không kết nối – Thiếu phản ứng"

• Không nhìn chăm chú vào mặt người chăm sóc.

• Không có nụ cười xã hội (social smile).

• Không quay đầu khi có âm thanh quen thuộc.

• Không có cử chỉ đơn giản như mỉm cười, vẫy tay, phản ứng với giọng nói.

• Không đáp lại khi được gọi tên hay nhìn vào ánh mắt người khác.

👶 6–12 tháng tuổi: "Không tương tác – Không chủ động"

• Không bắt chước các biểu cảm như cười, nhăn mặt.

• Không biết chỉ tay để thể hiện mong muốn hay sự chú ý.

• Không sử dụng âm thanh như "ba-ba", "ma-ma".

• Không cố gắng thu hút sự chú ý của người khác.

• Không tìm kiếm sự an ủi hoặc chia sẻ cảm xúc với người thân.

🚼 1–2 tuổi: "Chậm lời nói – Không chia sẻ – Không chơi giả vờ"

• Không nói được từ đơn vào khoảng 16 tháng tuổi.

• Không sử dụng cử chỉ để giao tiếp (chỉ tay, lắc đầu…).

• Không đáp ứng lời gọi tên.

• Không bắt chước hành vi hay lời nói của người khác.

• Không biết chơi giả vờ đơn giản (giả vờ cho búp bê ăn, gọi điện…).

• Không chia sẻ sở thích hay điều thích thú với người khác.

👦 2–3 tuổi: "Lặp lại – Tách biệt – Hạn chế giao tiếp"

• Chậm phát triển ngôn ngữ: không nói được câu ngắn có ý nghĩa (2–3 từ).

• Thường xuyên lặp lại lời người khác (echolalia).

• Không chủ động trò chuyện hay đặt câu hỏi.

• Tránh tiếp xúc mắt, khó tương tác xã hội.

• Có hành vi lặp lại, cố định: xếp đồ chơi thành hàng, vẫy tay, xoay vòng.

• Gắn bó bất thường với đồ vật hoặc hoạt động quen thuộc.

👦 3–4 tuổi: "Khó hòa nhập – Ngôn ngữ khác thường – Hành vi đặc biệt"

• Có thể nói được nhưng lời nói không phù hợp ngữ cảnh.

• Thiếu khả năng tham gia trò chơi nhóm, không biết luân phiên khi chơi.

• Không hiểu được cảm xúc của người khác, không phản ứng với buồn/vui của bạn.

• Có sở thích giới hạn và đặc biệt (chỉ thích tàu hỏa, máy giặt…).

• Quá nhạy cảm hoặc ít phản ứng với âm thanh, ánh sáng, mùi vị.

👦 4–6 tuổi: "Giao tiếp bất thường – Hạn chế linh hoạt – Cô lập xã hội"

• Nói chuyện lặp lại, thiếu nội dung tương tác xã hội.

• Không có bạn thân hoặc không biết cách xây dựng tình bạn.

• Gặp khó khăn trong chơi đóng vai, giả vờ.

• Giao tiếp một chiều, không quan tâm đến phản hồi từ người khác.

• Khó thích nghi khi thay đổi thói quen, môi trường.

Nguồn: sưu tầm

Want your school to be the top-listed School/college in Biên Hòa?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Category

Telephone

Website

Address


Nguyễn Ái Quốc
Biên Hòa