09/02/2026
Gởi các ba mẹ file dạy bé đặt câu hỏi "Who, What, where"
Ai đây?
Đang làm gì?
Ở đâu?
Là người mẹ đồng hành cùng con vượt qua hội chứng rối loạn phổ tự kỷ. Đã chuyển ngành theo lĩnh vực:
Tâm lý giáo dục. Ngành tâm lý học, giáo dục đặc biệt
NHẬT NGỮ CHIKO (mũi tên tiến tới mục đích)
- Chương trình học tiếng Nhật giao tiếp cấp tốc
- Giáo viên nhiều kinh nghiệm
- Tập trung vào giao tiếp và kỹ năng sử dụng tiếng Nhật trong công việc như viết mail cho khách hàng, đọc báo cáo, thuyết trình.
- Có sinh hoạt cuối tuần với người Nhật
09/02/2026
Gởi các ba mẹ file dạy bé đặt câu hỏi "Who, What, where"
Ai đây?
Đang làm gì?
Ở đâu?
Từ một trẻ đặc biệt tự kỷ, tăng động, không chú ý, gọi không quay đầu, không ngôn ngữ. Sau một thời gian mẹ CAN THIỆP cho con đã giao tiếp được cơ bản và bắt đầu học chữ.
07/02/2026
Gởi các ba mẹ file dạy bé Miêu tả tình huống, ba mẹ tham khảo nhé!
友人の紹介で、出版関係に顔が広いという人を訪ねた。
Qua giới thiệu của người bạn, tôi đến thăm người quen biết rộng trong ngành xuất bản.
( なぜなら )僕は出版社に就職したいと思っているから、就職活動というわけだ。
Lý do là vì tôi muốn làm việc ở nhà xuất bản, và đang trong quá trình tìm việc.
友人が書いてくれた地図を見ながら、やっと目的の家に着き、少し緊張してドアホンを押した。
Vừa nhìn sơ đồ bạn tôi vẽ cho vừa kiếm, cuối cùng tôi cũng đến nhà mà tôi cần tìm, một chút hồi hộp, tôi nhấn điện thoại ngoài cửa.
( すると )、まもなくドアが開き、そこには真っ白な髪の身長が2mはありそうな大男がマスクをして立っていた。
Thế là chẳng lâu sau, cửa mở ra, đứng đó là một người đàn ông to lớn cao chừng 2 m tóc bạc phơ đeo khẩu trang.
僕は思わず「ど、どろぼう」と叫んでしまった。
Bất giác tôi hét lên "Cứ... cướp".
これで僕の出版社就職の夢は消えた。
Thế là giấc mơ làm việc ở nhà xuất bản của tôi tan biến.
現在の日本では、「リサイクル」ということばは、「使わなくなったものを人の手で回収し(※1 )、新しい製品を作る原料や材料として利用すること」という意味で使われている。
Ở Nhật hiện tại, từ "tái chế" được sử dụng với ý nghĩa "dùng sức người thu hồi những thứ không sử dụng, để làm nguyên nhiên liệu chế tạo sản phẩm mới".
読み終わった新聞や雑誌を集めて紙の原料を作り、トイレットペーパーなどの製品にする、というのが、一つの例だ。
Thu gom báo, tạp chí đã đọc xong để làm nguyên liệu giấy, làm thành các chế phẩm như giấy toilet, là một ví dụ.
江戸時代にも、古い紙から紙を作ったりすることはあったが、その量は、今ほど多くなかった。
Ở thời kì Edo, người ta cũng làm ra giấy từ giấy cũ, nhưng số lượng không nhiều như bây giờ.
原料がたくさんあったからとか、使う人が少なかったからとかいうわけではない。
Không phải là vì có nhiều nguyên liệu, hoặc là ít người sử dụng.
わざわざ古い紙を回収しなくても、人が普通に生活しているうちに、資源(※2)が自然に循環(リサイクル)していたのだ。
Mà là mặc dù không cố công thu hồi giấy cũ, trong lúc con người sinh hoạt bình thường, nguyên nhiên liệu đã quay trở lại tự nhiên (tái chế).
なぜそんなことができたかといえば、それは、資源のほとんどが、植物性のものだったからだ。
Tại sao lại như vậy, thì đó là vì hầu hết nguồn nguyên liệu đều mang tính thực vật.
食べたり、使って捨てたり、燃やしたりしても、それは、土に返り、また植物を育てる。
Dù mình ăn, xài rồi vứt đi, đốt cháy, thì nó vẫn trở về với đất, rồi lại nuôi lớn thực vật.
つまり、植物の自然の循環(リサイクル)に合わせて、人間が生活していたということなのだ。 Tức là, con người đã sinh hoạt ứng với tuần hoàn của tự nhiên (tái chế) của thực vật.
最近、ペットにウサギを飼っている人が増えています。
Gần đây, ngày càng có nhiều người nuôi thỏ làm thú cưng.
ウサギのかわいい顔と大きくて長い耳は、だれでもさわりたくなります。
Bất kì ai cũng muốn sờ vào khuôn mặt đáng yêu và đôi tai to và dài của thỏ.
しかし、ウサギ[ が ]飼われる理由は、かわいいというだけではないようです。
Thế nhưng lý do nuôi thỏ dường như không phải chỉ vì nó đáng yêu.
私たちが何かペットを[ 飼おう ]と思ったとき、まず家の広さが問題になります。
Khi chúng ta muốn nuôi thú cưng nào đó, thì vấn đề trước tiên là độ rộng của ngôi nhà.
広くなければ飼えない場合は、せまいマンションやアパートに住んでいる人は[ あきらめなければなりません ] 。
Trường hợp không rộng thì không nuôi được thì những người sống ở căn hộ hay chung cư chật hẹp phải từ bỏ ý định.
しかし、ウサギはあまり広いところでなくてもだいじょうぶなので、マンションやアパートでも安心して飼えるのです。
Thế nhưng, thỏ cũng không cần nơi rộng lắm nên căn hộ hay chung cư cũng có thể an tâm nuôi được.
それに、イヌやネコは鳴きますが、ウサギはほとんど鳴きませんから、近所にめいわくをかけることがありません。
Ngoài ra, chó hay mèo thì còn kêu sủa, chứ thỏ thì hầu như không kêu la, nên không có chuyện làm phiền nhà hàng xóm.
また、イヌ[ のように ]毎日散歩に連れて行く必要もありません。 Hơn nữa, cũng không cần dắt đi bộ mỗi ngày như với chó.
このような理由から、ウサギは世話がしやすいので、ペットに飼う人が増えているといえます。 Với lý do như vậy, thỏ dễ chăm sóc, nên có thể nói số người nuôi làm thú cưng đang tăng lên.
しかし、世話をする必要がないということではありません。 Tuy nhiên, cũng không phải là không cần chăm sóc.
愛情を持って育てることが一番大切です。 Nuôi lớn bằng tất cả tình yêu thương là quan trọng nhất.
また、ウサギといっしょに楽しく生活する[ ため ]には、ウサギのことをよく知っておくことも必要です。 Ngoài ra, để sống vui vẻ cùng với thỏ, cũng cần biết rõ về thỏ.
2011年現在、日本の人口1億2780万人のうち、65歳以上の高齢者は2975万人で、過去最高になった。
Hiện tại năm 2011, trong số 127,800,000 dân số Nhật Bản, số người cao tuổi từ 65 tuổi trở lên là 29,750,000 người, cao nhất từ trước đến nay.
また、65歳以上の高齢者がいる家庭のうち、約25%が一人暮らしの家庭、約30%が夫婦のみの家庭で、一人または夫婦のみで暮らす高齢者が年々増加している。
Ngoài ra, trong số gia đình có người già từ 65 tuổi trở lên, thì khoảng 25% là gia đình sống 1 mình, khoảng 30% là gia đình chỉ có 2 vợ chồng, số người già sống một mình hoặc chỉ có vợ hoặc chồng mỗi năm mỗi tăng.
①そうした状況の中で、利用者が増えているのが、配食サービスだ。
Trong tình trạng như vậy, cái mà người sử dụng đang tăng lên là dịch vụ cung ứng thức ăn.
配食サービスとは、栄養バランスのよい食事を定期的に届けるサービスで、1食400円ぐらいで利用できる。
Dịch vụ cung ứng thức ăn là dịch vụ đều đặn đem đến bữa ăn cân bằng dinh dưỡng.
配食サービスの主な目的は2つある。
Dịch vụ cung ứng thức ăn có 2 mục đích chính.
1つ目は、栄養バランスを一番に考えた食事を届けることによって、利用者の健康維持に役立つことだ。
Thứ nhất, nhờ vào việc đem đến bữa ăn suy nghĩ đến cân bằng dinh dưỡng trước hết, có lợi cho việc duy trì sức khỏe của người sử dụng.
その栄養バランスの良さが注目され、最近では、高齢者ばかりでなく、若い人の利用も増えているそうだ。
Cái tốt của việc cân bằng dinh dưỡng được chú ý, nên gần đây, không chỉ người cao tuổi, mà người trẻ cũng sử dụng ngày càng nhiều.
特に、子どもを産んだ直後の女性や、健康には気をつけていても忙しすぎる人などが利用しているという。 Đặc biệt là phụ nữ sau khi sinh, và những người quá bận rộn dù chú ý đến sức khỏe,... cũng đang sử dụng.
2つ目は、食事を届ける時に「お変わりありませんか」などと聞くことによって、利用者の健康状態を確認したり、社会的孤立(注)を防いだりすることだ。 Thứ hai là khi đem bữa ăn đến, bằng việc hỏi "Có đổi khác gì không ạ?", xác nhận trạng thái sức khỏe của người sử dụng, phòng tránh sự cô lập xã hội.
実際に、配食サービスの効果を調べたある調査によると、「定期的に人が来てくれるので、急に倒れても早く対応してもらえるという②安心感がある」「人と話す機会が増えた」などの回答が多かったそうだ。 Thực tế, theo cuộc điều tra nọ khảo sát hiệu quả dịch vụ cung ứng thức ăn, nhiều câu trả lời rằng "Người ta đều đặn đem tới nên có cảm giác an tâm rằng nếu đột ngột té xỉu cũng sẽ được xử lý sớm", "Cơ hội nói chuyện với người khác tăng lên".
配食サービスを行う企業や団体が増え、利用者は、自分に合った食事の味や費用、配食の回数などが選びやすくなっている。 Xí nghiệp, đoàn thể thực hiện dịch vụ cung ứng thức ăn đang tăng lên, người sử dụng dễ dàng lựa chọn số lần cung ứng thức ăn, chi phí cũng như vị của thức ăn phù hợp với mình.
今後、利用者はますます増えるだろう。 Từ nay về sau, người sử dụng chắc sẽ càng gia tăng.
家族であさひ湖にドライブに来た。
Cả gia đình tôi đã lái xe đến hồ Asahi.
近くに高原があり広々として気持ちがいいので、若いころからよく来ている。
Gần đó có cao nguyên, thật là thoáng đãng tâm hồn thư thái, nên từ hồi trẻ, tôi vẫn thường đến đây.
①不思議なことに、何度訪れても、その日の天気が気分によって毎回違う景色に出会うことができる。
Kì diệu thay, dù đến nhiều lần nhưng tôi có thể bắt gặp cảnh sắc mỗi lần mỗi khác tùy vào tâm trạng thời tiết hôm đó.
初めてこの湖に来たのは、高校生の時のことだ。
Lần đầu tiên tôi đến hồ này là hồi học cấp 3.
ある日、友だちが「バイク旅行に行こう」と言い出した。
Một hôm, bạn tôi rủ "mình đi du lịch bằng xe máy đi."
それで、休みの日に地図とおにぎりを持って、 行き先も決めずに出発したのだ。
Thế là vào ngày nghỉ, tôi mang theo bản đồ, cơm nắm, và xuất phát mà không quyết định nơi sẽ đi.
バイクは通学でしか使ったことがなく、遠くに行くのは初めてだった。
Tôi chưa từng sử dụng xe máy ngoài việc để đi học, đi xa như vậy là lần đầu tiên.
事故やトラブルが起きないだろうか、何か楽しいことが待っているに違いない、などと思いながら、②どきどきしたのを覚えている。 Tôi nghĩ ngợi nào là không biết có sự cố trục trặc xảy ra không, nào là chắc có cái gì đó thú vị đang chờ đón mình, tôi nhớ mình đã rất hồi hộp.
昼過ぎに着いたあさひ湖は、太陽の光を浴びてきらきらしていた。 Hồ Asahi chúng tôi đến vào lúc quá trưa, tắm mình trong ánh nắng mặt trời trông thật lấp lánh.
湖で写真を撮ったり、ほかの観光客と話したり、帰りに道に迷って知らないおばあさんに助けられたりと、私にとって新鮮な出来事の連続だった。 Một loạt những sự việc mới mẻ đối với tôi, nào là chụp hình ở hồ, nói chuyện với khách tham quan khác, rồi lúc về bị lạc đường được cụ bà không quen biết giúp đỡ nữa.
あさひ湖にはたくさんの思い出があるが、ある日の湖の輝きは一生忘れられないものだ。 Tôi có nhiều kỉ niệm ở hồ Asahi, nhưng sự lấp lánh của hồ vào một ngày nọ là kỉ niệm cả đời tôi không thể nào quên.
つぎの日は日曜日だった。
Ngày hôm sau là chủ nhật.
夫は日曜出勤(注1)だった。
Chủ nhật chồng đi làm.
送り出してから、小谷先生は出かけるしたくをした。
Sau khi tiễn xong, cô Otani chuẩn bị đi ra ngoài.
奈良へいくつもりだった。
Định là đi Nara.
学生のころ、古美術(注2)クラブに入っていたので、京都、奈良のお寺はよく歩いていた。
Hồi đi học, tôi đã tham gia câu lạc bộ mỹ thuật cổ, nên tôi thường đi chùa ở Kyoto và Nara.
結婚してからいちどもお寺にいっていない。
Kể từ khi kết hôn, tôi chưa một lần đi chùa.
結婚と学校につとめたのが一緒だったのでしかたがなかったのだが、なんだかさびしい気がしていた。
Kết hôn cộng với làm việc trong trường nên đành phải chịu, nhưng tôi cảm thấy có gì đó buồn buồn.
平成○○年10月5日
Ngày 5 tháng 10 năm Bình Thành ...
総務部
Bộ phận tổng vụ
社員各位
Gửi toàn thể nhân viên
社員旅行のお知らせ
Thông báo du lịch cho nhân viên
今年も社員旅行の日程が下記のとおり決まりましたので、お知らせいたします。
Tôi xin thông báo chuyến du lịch cho nhân viên năm nay được quyết định theo như lịch trình bên dưới.
日頃の疲れを温泉でとり、紅葉の美しい箱根で、社員そろってゆっくりとすごしたいと思います。
Tôi muốn toàn thể nhân viên nghỉ ngơi thư giãn ở Hakone có lá phong đẹp, ở suối nước nóng để lấy đi cơn mệt mỏi hàng ngày.
多くの皆さんのご参加をお待ちしております。
Tôi đang mong đợi nhiều sự tham gia của mọi người.
記 Ghi chú
1 日時 11月12日(土)~11月13日(日) 一泊二日
1 Ngày giờ: ngày 12/11 (thứ bảy) - ngày 13/11 (chủ nhật) 2 ngày 1 đêm
2 宿泊先 箱根温泉・松本館 (0×5×××-3939) 2 Chỗ trọ: suối nước nóng Hakone, quán Matsumoto (0x5 # # #-3939)
3 日程 11月12日(土) 3 Lịch trình trong ngày: ngày 12/11 (thứ bảy)
午前9時 本社正面玄関前にて集合、バス乗車
(雨天の場合は、2階大会議室集合) 9 giờ sáng: tập trung tại trước cửa chính công ty, sau đó lên xe buýt
(trường hợp trời mưa thì tập trung tại phòng họp lớn ở tầng 2)
箱根観光の後、午後5時 箱根温泉・松本館到着予定 Sau khi tham quan Hakone, 5 giờ chiều dự định đến suối nước nóng Hakone quán Matsumoto
11月13日(日) Ngày 13/11 (chủ nhật)
出発時間まで自由行動 Hoạt động tự do cho đến giờ xuất phát
ゴルフ(ふじゴルフクラブ 1人9,000円)、テニス大会など Golf (câu lạc bộ golf Fuji 9,000 yen/người), đại hội tennis,...
午後6時 本社正面玄関前に到着予定 6 giờ chiều, dự định tới trước cổng chính của công ty
4 申し込み 各部の参加人数を10月31日までに、総務部山田までEメールにてご連絡ください。(yamada@ # # #.co.jp)
4 Đăng kí: email liên hệt đến Yamada bộ phận tổng vụ số người tham gia ở từng phòng ban, hạn chót đến ngày 31/10 (yamada@ # # #.co.jp)
尚、申し込み後の変更は、内線305(総務部山田)に、 Ngoài ra, điều chỉnh sau khi đã đăng kí, hãy gọi số nội bộ 305 (gặp Yamada phòng tổng vụ)
当日不参加となった場合は、山田の携帯(000-8×87-5656)にご連絡をお願いします。 Trường hợp đến ngày đó không tham gia được thì vui lòng liên lạc đến số di động của Yamada (000-8x87-5656)
バスは定刻に出発しますので、出発時間に間に合わなかった場合は、松本館に直接お越しください。 Xe buýt sẽ khởi hành đúng giờ, trường hợp không kịp giờ xuất phát, hãy trực tiếp đến quán Matsumoto.
以上 Xin hết
(2)
相撲やチャンバラ遊びや鬼ごっこといったものは、室町時代(注1)や江戸時代(注2)から連綿(注3)として続いてきた遊びである。明治維新(注4)や敗戦、昭和の高度経済成長といった生活様式の激変にもかかわらず、子どもの世界では、数百年以上続いてきた伝統的な遊びが日常の遊びとして維持されてきたのである。
Sumo, đấu kiếm, trò đuổi bắt là những trò chơi duy trì từ thời Edo và Muromachi. Bất chấp sự thay đổi lớn trong hình thức sinh hoạt như thời Minh Trị Duy Tân, bại trận và tăng trưởng kinh tế cao độ, trong thế giới của trẻ em, những trò chơi truyền thống liên tục hàng trăm năm vẫn được duy trì như một trò chơi thường ngày.
しかし、それが1980年代のテレビゲームの普及により、①絶滅状態にまで追い込まれている。これは単なる流行の問題ではない。意識的に臨まなければ取り返すことの難しい身体文化の喪失である。かつての遊びは身体の中心感覚を鍛え、他者とのコミュニケーション力を鍛える機能を果たしていた。これらはひっくるめて②自己形成のプロセスである。
Tuy nhiên, do sự phổ cập của trò chơi truyền hình vào những năm 1980, chúng đã bị dồn vào trạng thái bị tiêu diệt. Đây không phải đơn thuần là vấn đề thịnh hành. Đó là sự mất mát về văn hóa cơ thể khó có thể lấy lại được nếu không nhìn vào một cách có ý thức. Những trò chơi ngày xưa chủ yếu là tập trung vào cơ thể, hoàn thành chức năng rèn luyện cảm giác, và khả năng giao tiếp với người khác. Tất cả những điều này là quá trình tự hình thành.
コミュニケーションの基本は、身体と身体の触れ合いである。そこから他者に対する信頼感や距離感といったものを学んでいく。たとえば、相撲を何度も何度も取れば、他人の体と自分の体の触れ合う感覚が蓄積されていく。他者と肌を触れ合わすことが苦にならなくなるということは、他者への基本的信頼が増したということである。③これが大人になってからの通常のコミュニケーション力の基礎、土台となる。自己と他者に対する信頼感を、かつての遊びは育てる機能を担っていたのである。
Điều cơ bản của giao tiếp là tiếp xúc cơ thể với cơ thể. Từ đó mình sẽ học được những cái gọi là cảm giác xa gần và cảm giác tin cậy đối với người khác. Chẳng hạn nếu nhiều lần đấu võ Sumo thì cảm giác tiếp xúc giữa cơ thể mình với cơ thể người khác sẽ được tích lũy. Việc tiếp xúc da với người khác không cảm thấy đau là do niềm tin cậy cơ bản với người khác đã tăng lên. Điều này sẽ là cơ sở, nền tảng của khả năng giao tiếp thông thường khi trưởng thành. Những trò chơi ngày xưa đảm nhiệm chức năng nuôi dưỡng cảm giác tin cậy của bản thân đối với người khác.
この身体を使った遊びの衰退に関しては、伝統工芸の保存といったものとは区別して考えられる必要がある。身体全体を使ったかつての遊びは、日常の大半を占めていた活動であり、なおかつ自己形成に大きく関わっていた問題だからである。歌舞伎や伝統工芸といったものは、もちろん保存継承がされるべきものである。しかし現在、より重要なのは、自己形成に関わっていた日常的な身体文化そのものの価値である。 Liên quan đến việc suy thoái của những trò chơi sử dụng cơ thể này, cần phải được suy nghĩ tách biệt với cái gọi là bảo tồn nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống. Những trò chơi sử dụng toàn bộ cơ thể là hoạt động chiếm hơn một nữa cuộc sồng thường ngày, ngoài ra còn là vì vấn đề liên quan to lớn đến quá trình tự hình thành. Những cái như kịch Kabuki và thủ công mỹ nghệ truyền thống dĩ nhiên cần phải được bảo tồn và kế thừa. Tuy nhiên, hiện tại, điều quan trọng hơn là giá trị của chính văn hóa cơ thể thường ngày có liên quan đến quá trình tự hình thành.
数百年以上にわたって継承されてきた日常における身体文化が、数十年のうちに急激に喪失されたことの意味は深刻である。21世紀を迎えた現在において、身体文化に対して明確な意識を持って臨む必要がある。そのことが、現在問題になっている様々な社会問題に対する対処法の根幹をなすと考える。
Văn hóa cơ thể trong đời sống hàng ngày được kế thừa hàng trăm năm chỉ trong hàng chục năm đã đột ngột mất đi mang một ý nghĩa nghiêm trọng. Trong hiện tại đón chào thế kỉ 21, cần có cái nhìn ý thức rõ ràng đối với văn hóa cơ thể. Tôi nghĩ điều đó sẽ là căn cơ của biện pháp đối với nhiều vấn đề xã hội mà chúng ta đang gặp phải.