Thư Viện Phật Việt

Thư Viện Phật Việt Mái chùa che chở hồn dân tộc
Nếp sống muôn đời của tổ tông. (Huyền Không - 1949)
(1)

Thích Nhuận Châu: Sa-môn bất kính vương giả luận_______(trích): "...Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam hiện đại, một chuyể...
08/30/2026

Thích Nhuận Châu: Sa-môn bất kính vương giả luận
_______
(trích): "...Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam hiện đại, một chuyển biến có phần tương ứng diễn ra sau biến động năm 1963. Đại hội đầu năm 1964 đưa đến sự thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất; bản Hiến chương đầu tiên được công bố ngày 4 tháng 1 năm 1964. Điểm đáng chú ý của Hiến chương là ở cách Giáo hội tự định nghĩa sự tồn tại của mình. Lời mở đầu tuyên bố Giáo hội “không đặt sự tồn tại của mình nơi nguyên vị cá biệt mà đặt sự tồn tại trong sự tồn tại của nhân loại và dân tộc”; đồng thời xác lập nguyên tắc “điều hợp”, theo đó giáo lý, giới luật và nếp sống của Bắc tông, Nam tông cũng như của hai giới Tăng sĩ và Cư sĩ phải được tôn trọng và phát triển trong một sự kết hợp có tổ chức. Điều 4 lại xác định mục đích của Giáo hội là điều hợp Phật giáo để “phục vụ nhân loại và dân tộc bằng cách hoằng dương Chánh pháp.”

Ở đây xuất hiện một điểm gặp quan trọng với tinh thần của Huệ Viễn. “Phương ngoại” không còn có thể được hiểu là đứng ngoài xã hội; trái lại, một cộng đồng Phật giáo có bản sắc riêng phải chứng minh ý nghĩa của sự tự chủ bằng khả năng phục vụ con người mà không đánh mất Chánh pháp. Hiến chương 1964 không chủ trương hòa tan các truyền thống để tạo một cơ cấu đồng nhất; dùng chữ “điều hợp” và đặt việc tôn trọng giáo lý, giới luật, nếp sống của các truyền thống vào chính nguyên tắc thống nhất. Nếu ở Huệ Viễn, “phương ngoại” bảo vệ sự sai biệt cứu cánh của người xuất gia trước điển lễ vương quyền, thì trong Phật giáo Việt Nam năm 1964, tính độc lập của Phật giáo được chuyển từ uy tín cá nhân và sơn môn sang một hình thức thể chế có Hiến chương, Lưỡng viện và những Tổng vụ chuyên trách. Uy tín đạo hạnh bắt đầu được chuyển hóa thành thẩm quyền thiết chế.

Sự chuyển hóa ấy đặc biệt rõ trong lĩnh vực giáo dục. Viện Đại học Vạn Hạnh được hình thành năm 1964 trong chính môi trường của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, được hợp thức hóa bằng Nghị định của Bộ Giáo dục ngày 17 tháng 10 năm 1964; sau đó Viện Hóa Đạo cử Thượng tọa Thích Minh Châu làm Viện trưởng. Ban đầu Viện có hai Phân khoa Phật học và Văn học–Khoa học Nhân văn, rồi dần mở rộng sang khoa học xã hội, giáo dục và ngôn ngữ. Đây không chỉ là việc mở thêm một trường đại học. Nó biểu thị một thay đổi quan trọng trong cách Phật giáo Việt Nam hiểu trách nhiệm công cộng của mình: bảo tồn Chánh pháp phải đi đôi với đào tạo con người có tri thức đủ để bước vào các trường tri thức hiện đại.

Chính Thượng tọa Thích Minh Châu mô tả Vạn Hạnh như một đại học tuy có các giá trị chỉ đạo và triết lý bắt nguồn từ Phật giáo nhưng mở cửa cho mọi người, không phân biệt tôn giáo, và không phải một chủng viện chỉ dành cho Tăng Ni.[31] Ý nghĩa của lựa chọn này rất gần với cách “liên loại” của Huệ Viễn, tuy diễn ra trong một điều kiện tri thức hoàn toàn khác. Huệ Viễn không chỉ nói với người đã tin Phật; ông dùng ngôn ngữ mà giới danh sĩ đại phu có thể hiểu để đưa một cấu trúc nghiệp báo và giải thoát vào không gian tư tưởng chung. Vạn Hạnh cũng không đóng khung Phật học trong nội viện; Phật giáo được đặt vào đối thoại với triết học, văn học, xã hội học, chính trị học, giáo dục học và các ngôn ngữ hiện đại. Tự chủ Phật giáo, theo nghĩa ấy, không phải tự cô lập, mà là có đủ nội lực để bước vào trường tri thức chung mà không đánh mất điểm xuất phát của mình.

Thành quả đáng chú ý hơn cả vì vậy không chỉ là cơ sở vật chất hay số lượng sinh viên. Vạn Hạnh đã tạo ra một không gian hội tụ hiếm có giữa Tăng sĩ học giả và trí thức thế tục. Chung quanh Viện và đặc biệt qua tạp chí Tư Tưởng có thể thấy sự hiện diện của Thích Minh Châu, Thích Mãn Giác, Thích Tuệ Sỹ, Phạm Công Thiện, Lê Tôn Nghiêm, Nguyễn Đăng Thục, Ngô Trọng Anh, Tôn Thất Thiện, Đoàn Viết Hoạt cùng nhiều học giả và văn nghệ sĩ khác. Các chuyên đề của Tư Tưởng trải từ Trung quán, Thiền, hiện tượng học đến hòa bình, xã hội học, chính trị học và giáo dục. Không nên lý tưởng hóa tập hợp này như một khối tư tưởng đồng nhất; chính họ khác nhau rất xa về triết học, phương pháp và lập trường xã hội. Điều đáng lưu ý nằm ở chỗ khác: Phật giáo đã đủ sức tạo ra một không gian trí thức để những dị biệt ấy gặp nhau.

Ở điểm này, phép đối chiếu với Lô Sơn trở nên sáng rõ hơn. Chung quanh Huệ Viễn là các Sa-môn, dịch giả, học giả và danh sĩ cùng tham dự một mạng lưới trao đổi mà trong đó Phật học không bị tách khỏi những câu hỏi lớn của thời đại. Chung quanh Vạn Hạnh cũng hình thành một môi trường trong đó kinh điển, triết học Phật giáo, tư tưởng Đông–Tây, văn hóa dân tộc và những vấn đề xã hội hiện đại có thể cùng được khảo cứu. Hai môi trường không tương đương về cấu trúc: Lô Sơn là một cộng đồng tu viện–học thuật trong xã hội đế chế; Vạn Hạnh là một định chế đại học trong xã hội hiện đại. Nhưng chúng cùng cho thấy một quy luật đáng chú ý: khi đạo hạnh của Tăng sĩ kết hợp với thế học và khả năng thu hút trí thức, Phật giáo có thể tạo ra thẩm quyền văn hóa mà quyền lực chính trị không dễ dàng quy giản thành một tổ chức thuần túy nghi lễ.

Nếu Huệ Viễn chuyển uy tín của một bậc cao tăng thành một luận thuyết có thể được các thế hệ sau viện dẫn, thì kinh nghiệm GHPGVNTN cho thấy một bước chuyển tiếp theo: từ uy tín của các bậc cao tăng và cư sĩ lãnh đạo sang cơ cấu tổ chức có khả năng duy trì giáo dục, văn hóa và hoạt động xã hội vượt khỏi đời sống của một cá nhân.

Viện Đại học Vạn Hạnh là một trong những bằng chứng rõ nhất cho hiệu quả của sự chuyển đổi ấy. Giáo dục không còn chỉ có nghĩa hoằng pháp và đào tạo Tăng tài; nó trở thành việc tạo dựng con người có tri thức cho xã hội. Điều này đặc biệt phù hợp với tư tưởng của Huệ Viễn rằng Sa-môn tuy không trực tiếp đảm nhận chức năng của vương quyền vẫn có thể khiến “đạo thấm lục thân, ân trạch lưu thiên hạ”: công ích của đời sống tu hành không nhất thiết biểu hiện bằng quyền lực hành chính, nhưng có thể lan tỏa qua giáo dục và chuyển hóa con người.

Bởi vậy, khi tiếp nhận Sa-môn bất kính vương giả luận trong bối cảnh Việt Nam, “uy tín của Huệ Viễn” có thể giản lược thành mô hình vị cao tăng đủ đạo hạnh nên triều đình phải kính trọng. Giới hạnh khiến lời nói có trọng lượng; học lực khiến Phật giáo có khả năng tham dự tranh luận trí thức; cộng đồng Lô Sơn khiến uy tín cá nhân trở thành một môi trường văn hóa. Kinh nghiệm Phật giáo Việt Nam trước năm 1975 bổ sung thêm một tầng: Hiến chương biến lý tưởng thành thiết chế, còn Viện Đại học Vạn Hạnh biến thiết chế thành năng lực giáo dục và đào luyện tri thức.

Một Giáo hội chỉ có bộ máy mà thiếu đời sống học thuật rất dễ biến thẩm quyền thành hành chính; một cộng đồng chỉ có các cá nhân tài năng mà thiếu thiết chế lại khó truyền thừa thành quả qua nhiều thế hệ. Lô Sơn cho thấy sức mạnh của sự gặp gỡ giữa cao tăng và danh sĩ; Vạn Hạnh cho thấy khả năng hiện đại hóa cuộc gặp gỡ ấy thành giáo dục đại học, tạp chí, nghiên cứu, dịch thuật và đào tạo. Trong cả hai trường hợp, trí thức không đứng ngoài Tăng đoàn như một lực lượng trang trí. Họ là một phần của năng lực phiên dịch Phật pháp vào ngôn ngữ của thời đại.

Thiếu đạo hạnh, thiết chế mất cơ sở đạo đức. Thiếu học thuật, Phật giáo khó diễn đạt Chánh pháp trước những vấn đề mới. Thiếu thiết chế, thành quả của những bậc cao tăng và trí thức dễ tan biến khi thế hệ ấy qua đi.

Nhìn như vậy, Viện Đại học Vạn Hạnh trước năm 1975 không chỉ là một thành tựu đáng nhớ của lịch sử giáo dục Phật giáo Việt Nam. Nó là một minh họa quan trọng cho khả năng chuyển “uy tín đạo hạnh” thành “uy tín tri thức”, rồi chuyển uy tín tri thức thành một thiết chế phục vụ xã hội. Cũng như Lô Sơn khiến Huệ Viễn không chỉ là một Sa-môn đơn độc đứng trước Hoàn Huyền, Vạn Hạnh khiến các bậc giáo phẩm của GHPGVNTN không chỉ hiện diện như những người lãnh đạo tôn giáo, mà còn đứng sau một môi trường giáo dục đào tạo và tư tưởng có khả năng đối thoại với cả xã hội.

Từ Huệ Viễn đến kinh nghiệm Phật giáo Việt Nam thế kỷ XX, vì thế, có thể nhận ra một nguyên tắc xuyên suốt: thẩm quyền tinh thần không được bảo đảm bởi chức vị và cũng không thể được quyền lực chính trị ban phát trọn vẹn. Nó phải được tạo lại trong mỗi thế hệ bằng giới hạnh, trí tuệ và thành quả giáo dục.

Đó cũng là ý nghĩa sâu nhất của Sa-môn bất kính vương giả. Vấn đề cuối cùng không phải ai bái lạy ai, mà là một cộng đồng tu hành có đủ nội lực để giữ lý tưởng giải thoát của mình trước quyền lực, đồng thời có đủ trí tuệ và từ bi để biến sự độc lập ấy thành lợi ích cho xã hội hay không. Lô Sơn trả lời bằng Huệ Viễn và cộng đồng danh sĩ–dịch thuật quanh ông; Phật giáo Việt Nam trước năm 1975 đã từng trả lời bằng một Giáo hội có Hiến chương, một Viện Đại học Vạn Hạnh và một thế hệ Tăng sĩ–trí thức đưa Phật học vào giữa đời sống tư tưởng của dân tộc. Chính tại điểm gặp giữa đạo hạnh, trí thức và thiết chế ấy, “phương ngoại” mới có thể “thỏng tay vào chợ” mà không đánh mất bản chất xuất thế của Phật pháp."
________
Đọc toàn bài theo link:
https://thuvienphatviet.com/thich-nhuan-chau-sa-mon-bat-kinh-vuong-gia-luan/

KINH HIẾU DƯỠNG*Tôi nghe như vầy: Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, cây Kỳ-đà thuộc nước Xá-vệ. Bấy giờ có Bà-la-môn...
08/25/2026

KINH HIẾU DƯỠNG*
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, cây Kỳ-đà thuộc nước Xá-vệ. Bấy giờ có Bà-la-môn trẻ tuổi tên là Uất-đa-la** đến chỗ Đức Phật. Sau khi chào hỏi xong, lui qua ngồi một bên, bạch Phật rằng:
“Bạch Thế Tôn, con thường đi khất thực như pháp, đem cúng dường cho cha mẹ, khiến cho ông bà được an vui, xa lìa khổ. Bạch Thế Tôn, việc làm của con như vậy có nhiều phước không?”
Phật bảo Uất-đa-la:
“Thật có nhiều phước. Vì sao? Vì nếu có người nào khất cầu đúng pháp, để cúng dường cha mẹ, làm cho an vui, trừ khổ não, thì thật là người có phước lớn.”
Bấy giờ, Đức Thế Tôn liền nói bài kệ rằng:
Như ngươi đối cha mẹ,
Cung kính và cúng dường,
Đời này lưu tiếng thơm,
Khi chết được lên trời.
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật đã dạy, hoan hỷ phụng hành.
______
* Ấn Thuận Hội Biên, tiếp theo Tụng 5 Bát chúng, 21. Tương ưng Bà-la-môn (Đại Chánh kinh 1151-1163, 88-102, 1178-1187). Đại Chánh, quyển 4, kinh 88, tương đương Pāli, S. 7. 19 Mātuposaka; Biệt dịch 100(88).
** Uất-đa-la 鬱多羅; xem kinh 282. Pāli: Mātupasako brāhmaṇo: Bà-la-môn tên là Mātupasaka.
______
Kinh số 88, quyển 4, Kinh Tạp A-hàm
Hán dịch: Tống, Tam Tạng Cầu-na-bạt-đà-la | Việt dịch: Thích Đức Thắng | Hiệu đính & Chú thích: Thích Tuệ Sỹ

Đọc Kinh Kim Cang hơn nghìn lần, Nguyễn Du mới nhận ra điều gì?Nguyễn Du từng viết:“Ta đọc Kim Cang hơn nghìn lần,Nghĩa ...
08/14/2026

Đọc Kinh Kim Cang hơn nghìn lần, Nguyễn Du mới nhận ra điều gì?

Nguyễn Du từng viết:

“Ta đọc Kim Cang hơn nghìn lần,
Nghĩa sâu trong ấy phần nhiều vẫn chưa tỏ;
Đến khi tới dưới Phân Kinh Thạch Đài,
Mới biết không chữ chính là chân kinh.”

“Vô tự chân kinh” có phải là phủ nhận kinh điển, phủ nhận chữ nghĩa?

Có lẽ không.

Điều Nguyễn Du nhận ra sâu hơn thế: đọc kinh không phải để chấp vào chữ, mà để đi qua chữ và thấy được điều chữ muốn khai mở.

Từ “Lương Chiêu Minh Thái tử phân kinh thạch đài” đến “Văn chiêu hồn”, Thượng toạ Thích Nhuận Châu lần theo dấu vết của Kinh Kim Cang trong tư tưởng Nguyễn Du, từ tinh thần phá chấp, vô trụ đến lòng từ bi và sự cứu độ không phân biệt.

Đặc biệt, bài viết đặt cạnh nhau hai hình ảnh tưởng như rất khác biệt:

“Vô tự thị chân kinh” và
“Độ cho nhất thiết siêu thăng”.

Một bên là trí tuệ phá chấp.
Một bên là lòng từ bi hướng đến tất cả chúng sinh.

Nhưng nhìn từ Kinh Kim Cang, hai điều ấy lại gặp nhau trong một chuyển động rất sâu: phát tâm cứu độ mà không chấp vào người cứu, người được cứu hay công đức của việc cứu độ.

Một khảo luận đáng đọc dành cho những ai quan tâm đến Kinh Kim Cang, Nguyễn Du, Văn chiêu hồn và sự lan tỏa của tư tưởng Đại thừa trong văn hóa Việt Nam.

📖 Đọc toàn văn tại Thư viện Phật Việt:
https://thuvienphatviet.com/thich-nhuan-chau-tu-vo-tu-chan-kinh-den-nhat-thiet-sieu-thang-phat-dai/

(HT Thích Tuệ Sỹ): Sinh vật, là một tổ chức có sự sống được tạo thành bởi một hay nhiều bộ phận có chức năng phản ứng đố...
08/11/2026

(HT Thích Tuệ Sỹ): Sinh vật, là một tổ chức có sự sống được tạo thành bởi một hay nhiều bộ phận có chức năng phản ứng đối với các kích thích từ ngoại giới, tiếp thu các yếu tố từ ngoại giới để chuyển hóa thành năng lượng duy trì sự sống, phòng hộ và phát triển. Những chức năng này được thực hiện bởi các bộ phận mà thuật ngữ Phật học Sanskrit gọi là indriya: căn.

Căn cứ trên tình trạng sở hữu bao nhiêu căn mà các sinh vật được phân chia thành các cấp bậc khác nhau trong chuỗi tiến hóa. Sinh vật hạ đẳng, tồn tại trong Dục giới, chỉ tồn tại với hai căn, là mạng căn (jīva-indriya) và thân căn (kāya-indriya).

Thân căn là một tổ chức hợp thành bởi các nguyên tố vật chất bao gồm bốn đặc tính (catvāri mahābhūtāni: bốn đại chủng) là khối lượng, hấp lực, nhiệt độ và vận động. Đặc tính của các nguyên tố nội giới hợp thành thân căn này không khác với các đặc tính của các nguyên tố ngoại giới hợp thành các vật thể vật chất. Chúng khác nhau ở chỗ, các yếu tố nội giới khi hợp thành một tổ chức mà từ trên đó mạng căn xuất hiện. Cho đến khi sự kết hợp của các yếu tố này tan rã, thân căn theo đó bị hủy, bấy giờ trạng thái chết xuất hiện. Trong nhận thức thông tục, hay trong nhiều tín ngưỡng tôn giáo, mạng căn này được hiểu là linh hồn (jīva). Khi linh hồn còn tồn tại trong thân thì sinh vật còn sống; khi linh hồn tách rời thân để đi đến một nơi nào đó bấy giờ thân trở thành xác chết.

Kinh Phật nói, tất cả sinh vật là tổ chức tồn tại bằng dưỡng chất (āhāra: thực). Nói theo ngôn ngữ thông tục, những dưỡng chất là các nguồn thực phẩm được tiếp thu từ ngoại giới thông qua các căn. Có loại dưỡng chất khi được tiếp thu vào nội giới phải được chuyển hóa để thành năng lượng cần thiết cho sự duy trì trạng thái cân bằng hòa điệu và phát triển các yếu tố của tổ chức nội giới như các loại thức ăn và thức uống có nguồn gốc từ thực vật, động vật, hay các chất vô cơ (kavaḍiṅkāra-āhāraḥ: đoàn thực). Thêm nữa, còn có loại dưỡng chất trực tiếp điều tiết trạng thái cân bằng các yếu tố nội giới của tổ chức để duy trì và phát triển sự sống, như ánh sáng, nhiệt độ. v.v. (sparśa-āhāraḥ: xúc thực).

Các sinh vật cao cấp trong Dục giới, như loài người, bắt đầu sự sống cũng chỉ với hai căn, mạng và thân căn. Các căn khác phát triển dần cho đến khi xuất thai thì có đủ năm căn. Căn thứ sáu, ý căn, chỉ phát triển tùy theo hoạt động của năm căn kia. Khi căn thứ sáu phát triển đến một mức nhất định, ý thức mới có thể y trên đó để hoạt động. Các cơ quan cần thiết cho hoạt động hướng thiện được phát triển tùy theo môi trường hoạt động của ý thức, dưới sự chi phối của môi trường, ảnh hưởng của xã hội; đó là năm thiện căn. Nó là một hệ thống bao gồm năm cơ quan.

Để phát triển cao hơn nữa thành các căn vô lậu, như tổ chức tồn tại nơi các Thánh giả để quán sát các Thánh đế và định hướng Niết-bàn, nhiều cơ quan tổ hợp thành hệ thống, trong đó chủ yếu gồm chín cơ quan cùng hợp tác: ý, hỷ, lạc, xả và năm thiện căn.

Loài người trong thời đại kiếp sơ xuất hiện chỉ với hai căn, thân và mạng. Trong quá trình phát triển, các căn phát triển dần song song với sự phát triển của các chủng loại vật chất được tiếp thu làm dưỡng chất; cho đến một giai đoạn nhất định, hai căn nữ và nam xuất hiện, bấy giờ mới có sự phân biệt tính phái.

Để hiểu rõ bản chất, cũng như sự cấu tạo và hoạt động của các căn, hay các cơ quan tổ chức thành sự sống này, được giới thiệu sau đây là đoạn dịch Việt trích từ luận Câu-xá, phẩm thứ hai: “Phân biệt căn”.

Bản dịch Việt được thực hiện bởi Nhóm Phiên dịch Phạn Tạng, dựa trên bản Hán dịch của Huyền Trang, A-tì-đạt-ma Câu-xá luận, quyển 3, Đại chánh 29, số hiệu 1558, tr. 13b11-18b8; đối chiếu với bản Sanskrit hiện hành Abhidharmakośabhāṣyam of Vasubandhu, tổng biên tập GS. Anantalal Thakur, Giám đốc Viện nghiên cứu K.P. Jayaswal, Patna, xuất bản K.P. Jayaswal Research Institute Patna, 1975, phần đầu của chương II, “Dvitīyaṃ kośasthānam”, đồng thời tham khảo bản sớ giải của Yaśomitra: “Abhidharmakośam Bhāsya Sphuṭārthā sahitam”, Abhidharmakośa & Bhāṣya of Acharya Vasubandhu with Sphutārthā Commentary of ācārya Yaśomitra, Part I, Critical eddited by Swami Dwarikadas Shastri, Bhauda Bharati, Varanasi, 1970.

Bản dịch Việt cũng tham khảo thêm các bản sớ giải Hán, 1. Câu-xá luận ký, quyển 3, Sa-môn Thích Quang (Phổ Quang) thuật, Đại chánh 41, số hiệu 1821; 2. Câu-xá luận sớ, quyển 3, Sa-môn Pháp Bảo soạn, Đại chánh 41, số hiệu 1822.

Ngoài ra, cũng tham khảo bản dịch Pháp, Louis de la Vallee Poussin, L’Abhidharmakośa de Vasubandhu, traduction et annotation, tome I, chapitre 2; Institut Belge des Hautes Etudes Chinoises, Bruxelles 1971. Bản dịch Anh căn cứ bản dịch Pháp, Abhidharmakośabhāṣyam, English translation by Leo M. Pruden, volume I, Asian Humanities Press, 1990.
______
(Tư liệu nghiên cứu Câu-xá)
Đọc toàn bài ở link trong phần bình luận 👇

BÓNG HẠC QUA ĐỒI-----độc hành qua ngàn dặmđường xưa bóng hao gầyđi, về theo chân phậtcung trời vàng áng mâytay xương chạ...
07/07/2026

BÓNG HẠC QUA ĐỒI
-----
độc hành qua ngàn dặm
đường xưa bóng hao gầy
đi, về theo chân phật
cung trời vàng áng mây
tay xương chạm đỉnh đá
hạt muối mặn chưa tan
cõi trọ đầy dối trá
lệ ngược dốc hai hàng
qua đồi vô quái ngại
xuống núi giỡn vô minh
lửa ngục trui tự tại
thơ nguồn rót ra kinh
trăng tàn bên nguồn suối
đèn thắp suốt mộng dài
cười nhân gian lần cuối
hạc về chốn thiên thai…
(2023)
Tâm Không Vĩnh Hữu
_____
https://thuvienphatviet.com/tam-khong-vinh-huu-22-bai-tho-tuong-niem-kinh-dang-duc-de-luc-tang-thong-ghpgvntn/

Thiền học, môi trường của nội quán nghiêm mật, nơi lột sạch mọi ảo ảnh giả tạo bên ngoài để bước vào cuộc thể nghiệm tâm...
07/03/2026

Thiền học, môi trường của nội quán nghiêm mật, nơi lột sạch mọi ảo ảnh giả tạo bên ngoài để bước vào cuộc thể nghiệm tâm thức cao độ. Thứ ý chí được nung nấu từ những khẩu quyết dứt khoát trong tính phủ định triệt để ấy không có chỗ cho sự tồn tại của những phút giây mềm lòng. Cái chất “lạnh lùng” của Thiền như lưỡi dao sắc bén có thể chặt đứt hoặc gạt phăng những yếu đuối ủy mị. Quả thật, những kẻ không đủ cá tính và nội lực, sẽ không bao giờ có khả năng để lĩnh hội thứ tinh thần quyết liệt và sâu thẳm nơi Thiền. Nhưng cũng chính trong cái không khí im lặng trầm lạnh này, người ta lại chứng kiến một hình ảnh lịch sử về tình thầy trò đầy thi vị và cảm động.

Trong đêm khuya, Huệ Năng âm thầm rời núi Hoàng Mai ngay sau khi được truyền y bát. Ngũ tổ hộ tống học trò giữa núi rừng thanh vắng, mang theo nỗi lo âu được gửi gắm qua những lời dặn dò trong thầm lặng. Giữa cảnh chia ly, chuyến đò tiễn biệt của Ngũ tổ đã vẽ nên bức tranh bi tráng của một giai thoại Thiền sử, nơi cái bi và cái hùng không tách rời nhau mà được hòa quyện thành thứ cảm xúc sâu lắng.

Gần chín tháng trước, Huệ Năng, một thanh niên hai mươi bốn tuổi người xứ Lĩnh Nam, vốn là một gã tiều phu quê mùa gầy guộc, đen đủi, giọng nói còn “rặc” thổ ngữ địa phương, nghe tiếng đại sư Hoằng Nhẫn đang ở núi Hoàng Mai mới tìm đến học đạo. Sau gần một tháng đi bộ, cuối cùng cũng đến nơi. Ở đây, chẳng ai để ý đến một gã nhà quê lầm lũi đang phục dịch âm thầm trong gian bếp với những công việc nặng nhọc như giã gạo, chẻ củi. Nhưng chẳng ai ngờ rằng, bên trong cái đơn sơ thô ráp ấy lại ánh lên một tấm lòng tìm đạo thuần khiết, nhưng đầy mãnh liệt.

Trong hàng nghìn môn đệ tại đạo tràng Hoàng Mai, Thượng tọa Thần Tú từ lâu đã là biểu tượng đại diện cho sự mẫu mực, là một ngọn đèn lớn của đại chúng, bấy giờ đã trên năm mươi. Vốn thuộc dòng dõi quý tộc, nên từ nhỏ đã hưởng thụ một nền học vấn vững chắc trước khi đến với Phật giáo. Bằng tri thức quảng bác và phẩm hạnh cao nhã, con người xuất chúng này trong vai trò là giáo thọ đã nhận được sự tín nhiệm cao không chỉ với đồ chúng Hoàng Mai, mà còn với cả giới Phật giáo đương thời. Đó là lý do mà vị Thượng tọa tài ba này có năng lực nhiếp chúng rất lớn. Vậy nên, không có gì khó hiểu khi đối với phần lớn đồ chúng tại đây, tâm thức của họ đã định sẵn tổ vị trong tương lai. Không còn ai nghi ngờ về khả năng kế thừa của Thần Tú.

Nhưng mọi thứ đã diễn ra thật bất ngờ. Sau vài lần đối thoại với gã tiều phu mới đến, bằng con mắt tinh tường và trực giác thâm sâu, Ngũ tổ đã nhận ra đây mới chính là truyền nhân đích thực. Nhưng ngài hiểu được sự phức tạp của môi trường tập thể sẽ có thể tổn hại đến Huệ Năng, nếu tôn vinh cậu thanh niên này trước đại chúng. Thương trò, nhưng không dám thổ lộ công khai mà chỉ âm thầm bảo vệ, vì ngài hiểu rằng bảo vệ Huệ Năng cũng chính là bảo vệ hạt giống chánh pháp. Hiểu được việc giữ chừng mực này của Ngũ tổ mới thấy được chỗ tình cảm kín đáo mà thầy dành cho trò. Tuy nhiên, để đảm bảo tính “khách quan và công bằng”, ngài vẫn bảo đại chúng làm kệ trình chỗ sở chứng, rằng kẻ nào thấy tánh sẽ được truyền y bát.

Như đã nói, uy tín của Thượng tọa Thần Tú quá lớn, đến mức không ai trong đạo tràng Hoàng Mai có ý niệm trình kệ. Thực ra, mọi người sẽ hưởng ứng nồng nhiệt nếu Ngũ tổ chọn Thần Tú là người kế thừa. Thậm chí, hậu thế cũng chẳng ai phản ứng hay trách cứ nếu chuyện này xảy ra, bởi Thần Tú cũng rất xứng đáng. Cần thầy rằng, khi Thần Tú là vị Thượng tọa danh tiếng đang hướng dẫn cho đông đảo đồ chúng, thì Huệ Năng vẫn là một cậu thanh niên cư sĩ vô danh quê mùa vừa mới đến chùa tìm đạo. Quả thật, có một sự cách biệt quá lớn giữa một học giả kinh viện và một tiều phu không biết chữ.

Nhưng nếu điều đó thực sự xảy ra thì giá trị lịch sử Thiền tông đã trở nên rẻ rúng, khi chân lý cao cả lại bị đánh đổi với hình thức bên ngoài, điều đó chính thức đi ngược lại với tôn chỉ mà Thiền xác lập. Do đó, khi nhận ra giới hạn của Thần Tú, Ngũ tổ thấy rằng đó chỉ mới là cái vỏ ước lệ bên ngoài mà chưa chạm đến chỗ tinh túy của Thiền. Tuy vậy, thì cách hành xử của Ngũ tổ cũng thật tinh tế, ngài ghi nhận và khen ngợi cũng như bảo đồ chúng hãy học theo tinh thần này, nó sẽ đem lại những lợi ích thực tế. Chỉ sau khi bài kệ của Huệ Năng được viết lên, nó mới xác thực trọn vẹn niềm thao thức mà Ngũ tổ mong đợi, nhưng điều này cũng đã khiến mọi người một phen kinh ngạc. Ngũ tổ thấy thế vội vã lấy giày chà đi hết, và không quên kèm theo câu: “bài kệ này cũng chưa thấy tánh”.

Ở đây, không phải Ngũ tổ không đủ bản lĩnh để công khai tuyên bố sự chứng ngộ của Huệ Năng, cũng không phải ngài e ngại vị Thượng tọa kia sinh tâm nhỏ nhen đố kỵ, mà vấn đề nằm ở tiềm năng nguy hiểm từ sự nhiệt tình mù quáng của đại chúng. Bởi riêng Thần Tú, thì đây vốn là bậc trượng phu đỉnh đạc. Chỉ qua việc ông ngập ngừng trình kệ kiến giải, cũng như sự giằng xé đấu tranh nội tâm khi sợ hiểu lầm rằng muốn tranh giành tổ vị đã cho thấy đó là một con người khiêm tốn, cần mẫn và thực tâm học đạo. Chính bản thân ông cũng nỗ lực không ngừng để không phụ sự kỳ vọng của thầy Hoằng Nhẫn và đông đảo đồ chúng. Có thể nói, uy tín và tài năng của Thần Tú là không cần bàn cãi, việc Võ Tắc Thiên sau này xem Thần Tú như quốc sư, và thể hiện sự tôn kính tột cùng có thể phần nào thấy được uy đức lẫy lừng của ông. Trong tâm lý của tập thể sống đông, ai chẳng muốn tôn vinh một người như vậy để làm trụ cột cho đạo pháp?
____
Mời xem nguyên bài trong link.

Trong đêm khuya, Huệ Năng âm thầm rời núi Hoàng Mai ngay sau khi được truyền y bát. Ngũ tổ hộ tống học trò giữa núi rừng thanh vắng, mang theo nỗi lo âu được

OpenTipitaka – Nền tảng tra cứu Tam tạng Pāli đa ngôn ngữ dành cho người học và nghiên cứu Phật giáo_____OpenTipitaka là...
07/02/2026

OpenTipitaka – Nền tảng tra cứu Tam tạng Pāli đa ngôn ngữ dành cho người học và nghiên cứu Phật giáo
_____
OpenTipitaka là một dự án số hóa và phổ biến Tam tạng Pāli (Tipiṭaka) theo hướng hiện đại, kết hợp công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) với hệ thống đọc song ngữ và hiệu đính cộng đồng. Mục tiêu của dự án là giúp người học Phật trên toàn thế giới có thể đọc, tra cứu, đối chiếu và nghiên cứu Tam tạng Pāli một cách thuận tiện trên mọi thiết bị, đồng thời xây dựng một kho dữ liệu dịch thuật ngày càng chính xác thông qua sự cộng tác của người dùng.

Dự án được phát triển dưới sự hướng dẫn của ngài Kumārābhivaṃsa Sayadaw, do ngài Sunanda (Sunanda Bhikkhu) phát triển ứng dụng và được vận hành bởi Dhamma Sarana LLC. Đây không chỉ là một website đọc kinh mà còn là một hệ sinh thái nghiên cứu Phật học hỗ trợ Windows, macOS, Linux, Android và iOS.

OpenTipitaka với những điểm nổi bật như sau:

1. Đọc Tam tạng Pāli song song nhiều bản dịch

Điểm mạnh nổi bật nhất của OpenTipitaka là khả năng hiển thị nguyên văn Pāli cùng nhiều bản dịch theo từng đoạn (paragraph-by-paragraph). Người đọc có thể lựa chọn đồng thời nhiều ngôn ngữ để đối chiếu, giúp việc nghiên cứu kinh điển trở nên trực quan hơn rất nhiều.

Hiện nền tảng hỗ trợ nhiều ngôn ngữ như: tiếng Việt, Anh, Hoa, Thái, Nhật, Hàn, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Miến Điện, Sinhala cùng nhiều ngôn ngữ khác đang tiếp tục được bổ sung.

2. Hệ thống tra cứu mạnh mẽ

OpenTipitaka cung cấp nhiều công cụ hỗ trợ nghiên cứu: tìm kiếm toàn văn trong Tam tạng; tra cứu từ điển Pāli tích hợp; điều hướng theo cây thư mục của Tam tạng; đánh dấu (bookmark); mở nhiều tab cùng lúc; chia đôi màn hình để so sánh nhiều bản kinh; đọc tự động (auto-scroll); đọc thành tiếng (Text-to-Speech) đối với bản dịch.

Những tính năng này đặc biệt hữu ích đối với giảng viên Phật học, dịch giả, nghiên cứu sinh và người học muốn tra cứu nhanh các thuật ngữ hoặc đối chiếu nhiều bản văn.

3. Hỗ trợ nhiều hệ chữ Pāli

Ngoài mẫu tự La-tinh (Roman), OpenTipitaka còn cho phép hiển thị văn bản Pāli bằng nhiều hệ chữ khác nhau như: Devanāgarī, Myanmar, Thái, Tây Tạng cùng nhiều dạng chữ truyền thống khác.

Điều này giúp người học ở nhiều truyền thống Phật giáo có thể tiếp cận kinh điển theo hệ chữ quen thuộc.

4. Làm việc ngoại tuyến

Một ưu điểm đáng chú ý là cơ sở dữ liệu được lưu trên thiết bị dưới dạng SQLite. Sau khi tải dữ liệu, người dùng có thể đọc và tra cứu không cần kết nối Internet, rất thuận tiện khi học tập hoặc nghiên cứu dài ngày.

5. Hiệu đính cộng đồng

Khác với nhiều thư viện số chỉ cung cấp nội dung để đọc, OpenTipitaka cho phép người dùng đăng ký tài khoản và tham gia hiệu đính bản dịch.

Các bản dịch hiện nay chủ yếu được tạo bằng AI, có tham khảo các bản Nissaya và bản dịch Miến Điện. Ban phát triển cũng thẳng thắn cho biết chất lượng bản dịch đã tiệm cận dịch thuật của con người ở nhiều phần, nhưng vẫn cần cộng đồng tiếp tục rà soát để nâng cao độ chính xác và thống nhất thuật ngữ.

6. Đối tượng phù hợp

OpenTipitaka đặc biệt hữu ích đối với: Tăng Ni và học giả nghiên cứu Tam tạng Pāli, giảng viên Phật học, dịch giả kinh điển, sinh viên các trường Phật học, cư sĩ muốn tiếp cận trực tiếp kinh điển nguyên thủy và những ai cần so sánh nhiều bản dịch để hiểu sâu nội dung kinh điển.

*

Trong bối cảnh các thư viện kinh điển Phật giáo ngày càng chuyển sang nền tảng số, OpenTipitaka nổi bật nhờ sự kết hợp giữa công nghệ AI, khả năng đọc song song đa ngôn ngữ và hệ thống nghiên cứu chuyên sâu. Đây không chỉ là một công cụ đọc kinh mà còn là một môi trường học thuật phục vụ việc tra cứu, đối chiếu và hiệu đính Tam tạng Pāli.

Đối với người dùng Việt Nam, việc có sẵn giao diện tiếng Việt cùng bản dịch tiếng Việt giúp giảm đáng kể rào cản tiếp cận nguồn kinh điển nguyên thủy. Tuy nhiên, do nhiều bản dịch vẫn đang trong quá trình hoàn thiện bằng AI và hiệu đính cộng đồng, người nghiên cứu chuyên sâu vẫn nên đối chiếu với nguyên văn Pāli hoặc các bản dịch học thuật đã được thẩm định khi sử dụng cho mục đích nghiên cứu và trích dẫn học thuật.

(Thư viện Phật Việt tổng hợp)
Ảnh: Quang Vinh (Pexels)

(TT. Thích Nhuận Châu): Phật sở hành tán (Buddhacarita; 佛所行讃; T.192) là một trong những kiệt tác sớm nhất của thi ca Phậ...
05/26/2026

(TT. Thích Nhuận Châu): Phật sở hành tán (Buddhacarita; 佛所行讃; T.192) là một trong những kiệt tác sớm nhất của thi ca Phật giáo Sanskrit, do Bồ-tát Mã Minh (Aśvaghoṣa; 馬鳴, khoảng thế kỷ I–II Stl.) trước tác theo thể loại đại sử thi (mahākāvya). Tác phẩm gồm 28 phẩm, thuật lại toàn bộ cuộc đời Đức Phật Gotama từ đản sinh, xuất gia, thành đạo, chuyển pháp luân cho đến nhập niết-bàn và phân chia xá-lợi. Với nghệ thuật thi ca tinh luyện cùng chiều sâu triết học, tác phẩm không chỉ phản ánh lý tưởng giải thoát của Phật giáo mà còn là dấu mốc quan trọng trong lịch sử văn học Sanskrit cổ điển.

Tác giả Mã Minh (Aśvaghoṣa) được xem là một trong những đại thi hào đầu tiên của Ấn Độ trước thời Kālidāsa, đồng thời là luận sư có ảnh hưởng sâu rộng trong lịch sử tư tưởng Phật giáo. Ngài xuất thân từ truyền thống Bà-la-môn tại Sāketa (Ayodhyā), về sau quy y Phật giáo và nổi tiếng với khả năng biện luận, giáo hóa và sáng tác thi ca. Ngoài Phật sở hành tán (Buddhacarita), ngài còn được biết đến qua các tác phẩm như Tôn-đà-lợi Nan-đà (Saundarananda) và Hí khúc Xá-lợi Tử (Śāriputraprakaraṇa).

Bản Hán dịch hiện lưu hành trong Đại Chính tạng do Tam tạng pháp sư Đàm-vô-sấm (Dharmakṣema; 曇無讖) dịch vào đời Bắc Lương, mang số hiệu T.192.

Nay nhân mùa Phật đản, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu phần đầu của tác phẩm, tức phẩm 1, “Phật đản sanh”, mô tả sự thị hiện ra đời của Đức Phật trong văn phong sử thi trang nghiêm và giàu chất thi ca của truyền thống kāvya Ấn Độ. Qua ngòi bút của Mã Minh (Aśvaghoṣa), sự đản sinh của bậc Giác giả không chỉ là một sự kiện lịch sử của nhân loại, mà còn được trình bày như sự xuất hiện của ánh sáng trí tuệ giữa thế gian đầy khổ đau và vô minh. Những mô tả về hoàng hậu Māyā, điềm lành đản sinh, thiên giới hoan hỷ và phẩm tính siêu xuất của Thái tử Tất-đạt-đa (Siddhārtha) đều được diễn tả bằng ngôn ngữ thi ca tinh luyện, phản ánh lý tưởng cao đẹp về một bậc Đại giác ngộ xuất hiện vì lợi ích của chư thiên và loài người.

Chúng tôi sẽ trình bày phần Việt dịch từ bản Hán của Đàm-vô-sấm (T.192) và đối chiếu 12 śloka đầu tiên của nguyên tác Sanskrit, nhằm làm nổi bật những yếu tố căn bản liên hệ đến thời gian, địa danh, nhân danh và các thuật ngữ văn hóa xuất hiện trong văn bản Phạn ngữ. Việc đối chiếu trực tiếp với nguyên tác Sanskrit là điều cần thiết, bởi khi chuyển dịch sang Hán văn, nhiều danh xưng và khái niệm đã được phiên âm hoặc diễn dịch theo truyền thống văn hóa Đông Á, đôi khi trở nên khó nhận diện đối với độc giả hiện đại. Thông qua việc đối chiếu Phạn–Hán–Việt, chúng tôi mong góp phần phục hồi phần nào bối cảnh văn hóa và ý nghĩa nguyên sơ mà tác giả Mã Minh (Aśvaghoṣa) muốn truyền đạt trong tác phẩm sử thi Phật giáo đặc sắc này.
_________
https://thuvienphatviet.com/thich-nhuan-chau-duc-phat-dan-sanh-qua-phat-so-hanh-tan-cua-ma-minh/
_________
Nguồn ảnh: Phước Nhẫn

(HT. THÍCH ĐỨC THẮNG): Đức Thế tôn đã thị hiện đản sinh nơi cõi Ta-bà đầy dẫy ô trược, tại vườn Lâm-tỳ-ni. Ngài xuất hiệ...
05/18/2026

(HT. THÍCH ĐỨC THẮNG): Đức Thế tôn đã thị hiện đản sinh nơi cõi Ta-bà đầy dẫy ô trược, tại vườn Lâm-tỳ-ni. Ngài xuất hiện với đại nguyện của một vị Bồ-tát Nhất sinh bổ xứ, bước đi bảy bước vững chãi trên bảy đóa sen, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất và tuyên bố: “Trên trời dưới đất, ta là bậc tôn quý duy nhất, đã giải thoát sinh tử, không còn tái sinh đời sau.”

Với sự thị hiện đản sinh này, Ngài đã trực diện năm sự ô trược của thế gian đó là: kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược. Tuy vậy, tất cả những ô trược ấy không thể ngăn trở tâm chí của bậc Đại trượng phu, không thể làm chùn bước chân của bậc Xuất trần thượng sĩ, cũng không thể ngăn cản đại nguyện từ bi rộng lớn của Bồ-tát Tất-đạt-đa trong những chặng đường: Xuất gia tầm đạo, Thành chánh quả và Chuyển vận Pháp luân, giáo hóa chúng sinh.

Với tâm kiên trì, nguyện lực trí tuệ và sức mạnh đại bi, Ngài đã tuyên thuyết chánh pháp, khai mở con đường để hóa giải sự tranh chấp của thời đại; đưa chúng sanh thoát khỏi tri kiến tà vạy, và lối học xa rời nhân bản; diệu dược Phật pháp đã bảo hộ tâm ý của chúng sanh không bị nhiễm đắm tham sân si, kiêu mạn, cùng tư tưởng ích kỷ, chấp ngã và phân biệt nhị nguyên, thiên về siêu thực hay hiện thực vật chất,…

Với tâm kiên trì, với nguyện lực trí tuệ và sức mạnh đại từ bi ấy, mỗi bước chân của Đức Thế Tôn đều là bước chân an lạc; mỗi ánh nhìn của Ngài là sự biểu hiện từ Pháp thân, hiển lộ đức tính bất động và từ bi; mỗi Báo thân của Ngài kết thành hoa trái trang nghiêm cho cuộc sống; và mỗi Ứng thân của Ngài, tùy theo căn cơ và quốc độ, đều nhằm nhiếp thọ chúng sinh, khiến xả tà quy chánh, bỏ vọng về chân, lìa ngu si tà kiến mà tiến đến phương trời trí tuệ vô biên.

Kính bạch chư Tôn đức và thưa quý Phật tử.

Phật đản Phật lịch 2570 năm nay lại trở về trên khắp địa cầu, với tất cả niềm hỷ lạc của người con Phật trên khắp năm châu. Trong giây phút thiêng liêng mầu nhiệm của ngày khánh đản đức Từ tôn, toàn thể Phật giáo đồ chúng ta cùng quán niệm:

Nhìn về quê hương Việt Nam: dù đất nước đã chấm dứt chiến tranh hơn 50 năm qua, nhưng chiến tranh miệng lưỡi vẫn còn tiếp diễn; sự nghèo đói và bất công xã hội vẫn chưa được hóa giải thấu đáo. Hận thù có phần gia tăng, còn nỗi sợ hãi của muôn dân vẫn chưa có phương dược hữu hiệu để chữa trị trong đời sống hằng ngày.

Nhìn ra thế giới bên ngoài, chiến sự giữa Ukraine và Nga chưa đến hồi kết thúc thì những căng thẳng và xung đột giữa Hoa Kỳ-Israel và Iran tiếp tục gia tăng, chiến tranh kinh tế với nhiều diễn biến tinh vi, khiến thế giới vốn đã nhiều biến động lại càng căng thẳng thêm lên. Vũ lực nối tiếp vũ lực, lòng tham tiếp nối lòng tham, hận thù chồng chất hận thù, si mê và tà kiến không ngừng sinh khởi. Không bên nào chịu nhường nhịn, ai cũng nêu cao chính nghĩa về phía mình. Nhưng thực chất, tất cả đều là những hành động khởi lên từ tham lam, sân hận, si mê, kiêu mạn và tà kiến. Hệ quả là người dân vô tội phải gánh chịu khổ đau: sinh ly tử biệt, nhà tan cửa nát, màn trời chiếu đất; tất cả bởi những cuộc chiến khốc liệt với các loại vũ khí ngày càng tân kỳ và tàn phá nặng nề.

Lại nữa, trong bối cảnh xã hội đang phát triển và ứng dụng mạnh mẽ nền văn minh trí tuệ nhân tạo (AI), bộ mặt thế giới biến đổi nhanh chóng, khiến thực-giả khó phân, chánh-tà khó biện. Điều này dễ làm con người trở nên thụ động, thậm chí có nguy cơ bị gạt ra bên lề; cơ hội đó tạo điều kiện cho những kẻ xảo trá lợi dụng để thỏa mãn tham dục, nguy hiểm hơn là con người đánh mất sự tự chủ, tự tín nơi chính mình.

Phật giáo từ chối mọi sự ủng hộ chiến tranh, vì Phật giáo vốn yêu chuộng hòa bình. Phật giáo từ chối mọi hành động tàn hại, vì Phật giáo vốn trân quý sự sống. Phật giáo từ chối mọi hư ngôn, vì Phật giáo vốn tôn trọng sự thật.

Để cúng dường Đại lễ Phật đản Phật lịch 2570, Tăng Ni, Phật tử chúng ta nguyện nỗ lực với tâm kiên trì, với nguyện lực trí tuệ và sức mạnh đại từ bi, thực hành Bát chánh đạo: nguyện nuôi dưỡng nhận thức đúng, suy nghĩ chân chánh, lời nói chân thật, hành động thiện lành, mưu sinh theo lời Phật dạy, siêng năng dứt ác làm lành, nhớ nghĩ chân chánh, tu tập thiền định đúng chánh pháp, để chuyển hóa “ngũ trược ác thế” trong đời này thành “năm sự thanh tịnh” , góp phần xây dựng hòa bình cho nhân loại.

Trong nguồn pháp lạc của mùa sen nở, hòa chung niềm hoan hỷ vô biên của hàng triệu tín đồ trên khắp thế giới hướng về ngày thị hiện của bậc Chánh Biến Tri, nhân danh Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương Viện Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất kính chúc chư Tôn đức Tăng-già nhị bộ và toàn thể đồng bào Phật tử các giới một mùa Phật đản: Giới thể trang nghiêm, Giới đức thâm mật, Giới hạnh thanh tịnh, Giới quả viên thành.

Nam Mô Vô Ưu Thọ Hạ Thị Hiện Đản Sanh Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
____
Link bài xem trong phần bình luận 👇

Address

3119 Alta Arden Expressway
Sacramento, CA
95825

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Thư Viện Phật Việt posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The School

Send a message to Thư Viện Phật Việt:

Shortcuts

Featured

  • Kumon

    Kumon

    1589 W El Camino Avenue

Share