08/30/2026
Thích Nhuận Châu: Sa-môn bất kính vương giả luận
_______
(trích): "...Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam hiện đại, một chuyển biến có phần tương ứng diễn ra sau biến động năm 1963. Đại hội đầu năm 1964 đưa đến sự thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất; bản Hiến chương đầu tiên được công bố ngày 4 tháng 1 năm 1964. Điểm đáng chú ý của Hiến chương là ở cách Giáo hội tự định nghĩa sự tồn tại của mình. Lời mở đầu tuyên bố Giáo hội “không đặt sự tồn tại của mình nơi nguyên vị cá biệt mà đặt sự tồn tại trong sự tồn tại của nhân loại và dân tộc”; đồng thời xác lập nguyên tắc “điều hợp”, theo đó giáo lý, giới luật và nếp sống của Bắc tông, Nam tông cũng như của hai giới Tăng sĩ và Cư sĩ phải được tôn trọng và phát triển trong một sự kết hợp có tổ chức. Điều 4 lại xác định mục đích của Giáo hội là điều hợp Phật giáo để “phục vụ nhân loại và dân tộc bằng cách hoằng dương Chánh pháp.”
Ở đây xuất hiện một điểm gặp quan trọng với tinh thần của Huệ Viễn. “Phương ngoại” không còn có thể được hiểu là đứng ngoài xã hội; trái lại, một cộng đồng Phật giáo có bản sắc riêng phải chứng minh ý nghĩa của sự tự chủ bằng khả năng phục vụ con người mà không đánh mất Chánh pháp. Hiến chương 1964 không chủ trương hòa tan các truyền thống để tạo một cơ cấu đồng nhất; dùng chữ “điều hợp” và đặt việc tôn trọng giáo lý, giới luật, nếp sống của các truyền thống vào chính nguyên tắc thống nhất. Nếu ở Huệ Viễn, “phương ngoại” bảo vệ sự sai biệt cứu cánh của người xuất gia trước điển lễ vương quyền, thì trong Phật giáo Việt Nam năm 1964, tính độc lập của Phật giáo được chuyển từ uy tín cá nhân và sơn môn sang một hình thức thể chế có Hiến chương, Lưỡng viện và những Tổng vụ chuyên trách. Uy tín đạo hạnh bắt đầu được chuyển hóa thành thẩm quyền thiết chế.
Sự chuyển hóa ấy đặc biệt rõ trong lĩnh vực giáo dục. Viện Đại học Vạn Hạnh được hình thành năm 1964 trong chính môi trường của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, được hợp thức hóa bằng Nghị định của Bộ Giáo dục ngày 17 tháng 10 năm 1964; sau đó Viện Hóa Đạo cử Thượng tọa Thích Minh Châu làm Viện trưởng. Ban đầu Viện có hai Phân khoa Phật học và Văn học–Khoa học Nhân văn, rồi dần mở rộng sang khoa học xã hội, giáo dục và ngôn ngữ. Đây không chỉ là việc mở thêm một trường đại học. Nó biểu thị một thay đổi quan trọng trong cách Phật giáo Việt Nam hiểu trách nhiệm công cộng của mình: bảo tồn Chánh pháp phải đi đôi với đào tạo con người có tri thức đủ để bước vào các trường tri thức hiện đại.
Chính Thượng tọa Thích Minh Châu mô tả Vạn Hạnh như một đại học tuy có các giá trị chỉ đạo và triết lý bắt nguồn từ Phật giáo nhưng mở cửa cho mọi người, không phân biệt tôn giáo, và không phải một chủng viện chỉ dành cho Tăng Ni.[31] Ý nghĩa của lựa chọn này rất gần với cách “liên loại” của Huệ Viễn, tuy diễn ra trong một điều kiện tri thức hoàn toàn khác. Huệ Viễn không chỉ nói với người đã tin Phật; ông dùng ngôn ngữ mà giới danh sĩ đại phu có thể hiểu để đưa một cấu trúc nghiệp báo và giải thoát vào không gian tư tưởng chung. Vạn Hạnh cũng không đóng khung Phật học trong nội viện; Phật giáo được đặt vào đối thoại với triết học, văn học, xã hội học, chính trị học, giáo dục học và các ngôn ngữ hiện đại. Tự chủ Phật giáo, theo nghĩa ấy, không phải tự cô lập, mà là có đủ nội lực để bước vào trường tri thức chung mà không đánh mất điểm xuất phát của mình.
Thành quả đáng chú ý hơn cả vì vậy không chỉ là cơ sở vật chất hay số lượng sinh viên. Vạn Hạnh đã tạo ra một không gian hội tụ hiếm có giữa Tăng sĩ học giả và trí thức thế tục. Chung quanh Viện và đặc biệt qua tạp chí Tư Tưởng có thể thấy sự hiện diện của Thích Minh Châu, Thích Mãn Giác, Thích Tuệ Sỹ, Phạm Công Thiện, Lê Tôn Nghiêm, Nguyễn Đăng Thục, Ngô Trọng Anh, Tôn Thất Thiện, Đoàn Viết Hoạt cùng nhiều học giả và văn nghệ sĩ khác. Các chuyên đề của Tư Tưởng trải từ Trung quán, Thiền, hiện tượng học đến hòa bình, xã hội học, chính trị học và giáo dục. Không nên lý tưởng hóa tập hợp này như một khối tư tưởng đồng nhất; chính họ khác nhau rất xa về triết học, phương pháp và lập trường xã hội. Điều đáng lưu ý nằm ở chỗ khác: Phật giáo đã đủ sức tạo ra một không gian trí thức để những dị biệt ấy gặp nhau.
Ở điểm này, phép đối chiếu với Lô Sơn trở nên sáng rõ hơn. Chung quanh Huệ Viễn là các Sa-môn, dịch giả, học giả và danh sĩ cùng tham dự một mạng lưới trao đổi mà trong đó Phật học không bị tách khỏi những câu hỏi lớn của thời đại. Chung quanh Vạn Hạnh cũng hình thành một môi trường trong đó kinh điển, triết học Phật giáo, tư tưởng Đông–Tây, văn hóa dân tộc và những vấn đề xã hội hiện đại có thể cùng được khảo cứu. Hai môi trường không tương đương về cấu trúc: Lô Sơn là một cộng đồng tu viện–học thuật trong xã hội đế chế; Vạn Hạnh là một định chế đại học trong xã hội hiện đại. Nhưng chúng cùng cho thấy một quy luật đáng chú ý: khi đạo hạnh của Tăng sĩ kết hợp với thế học và khả năng thu hút trí thức, Phật giáo có thể tạo ra thẩm quyền văn hóa mà quyền lực chính trị không dễ dàng quy giản thành một tổ chức thuần túy nghi lễ.
Nếu Huệ Viễn chuyển uy tín của một bậc cao tăng thành một luận thuyết có thể được các thế hệ sau viện dẫn, thì kinh nghiệm GHPGVNTN cho thấy một bước chuyển tiếp theo: từ uy tín của các bậc cao tăng và cư sĩ lãnh đạo sang cơ cấu tổ chức có khả năng duy trì giáo dục, văn hóa và hoạt động xã hội vượt khỏi đời sống của một cá nhân.
Viện Đại học Vạn Hạnh là một trong những bằng chứng rõ nhất cho hiệu quả của sự chuyển đổi ấy. Giáo dục không còn chỉ có nghĩa hoằng pháp và đào tạo Tăng tài; nó trở thành việc tạo dựng con người có tri thức cho xã hội. Điều này đặc biệt phù hợp với tư tưởng của Huệ Viễn rằng Sa-môn tuy không trực tiếp đảm nhận chức năng của vương quyền vẫn có thể khiến “đạo thấm lục thân, ân trạch lưu thiên hạ”: công ích của đời sống tu hành không nhất thiết biểu hiện bằng quyền lực hành chính, nhưng có thể lan tỏa qua giáo dục và chuyển hóa con người.
Bởi vậy, khi tiếp nhận Sa-môn bất kính vương giả luận trong bối cảnh Việt Nam, “uy tín của Huệ Viễn” có thể giản lược thành mô hình vị cao tăng đủ đạo hạnh nên triều đình phải kính trọng. Giới hạnh khiến lời nói có trọng lượng; học lực khiến Phật giáo có khả năng tham dự tranh luận trí thức; cộng đồng Lô Sơn khiến uy tín cá nhân trở thành một môi trường văn hóa. Kinh nghiệm Phật giáo Việt Nam trước năm 1975 bổ sung thêm một tầng: Hiến chương biến lý tưởng thành thiết chế, còn Viện Đại học Vạn Hạnh biến thiết chế thành năng lực giáo dục và đào luyện tri thức.
Một Giáo hội chỉ có bộ máy mà thiếu đời sống học thuật rất dễ biến thẩm quyền thành hành chính; một cộng đồng chỉ có các cá nhân tài năng mà thiếu thiết chế lại khó truyền thừa thành quả qua nhiều thế hệ. Lô Sơn cho thấy sức mạnh của sự gặp gỡ giữa cao tăng và danh sĩ; Vạn Hạnh cho thấy khả năng hiện đại hóa cuộc gặp gỡ ấy thành giáo dục đại học, tạp chí, nghiên cứu, dịch thuật và đào tạo. Trong cả hai trường hợp, trí thức không đứng ngoài Tăng đoàn như một lực lượng trang trí. Họ là một phần của năng lực phiên dịch Phật pháp vào ngôn ngữ của thời đại.
Thiếu đạo hạnh, thiết chế mất cơ sở đạo đức. Thiếu học thuật, Phật giáo khó diễn đạt Chánh pháp trước những vấn đề mới. Thiếu thiết chế, thành quả của những bậc cao tăng và trí thức dễ tan biến khi thế hệ ấy qua đi.
Nhìn như vậy, Viện Đại học Vạn Hạnh trước năm 1975 không chỉ là một thành tựu đáng nhớ của lịch sử giáo dục Phật giáo Việt Nam. Nó là một minh họa quan trọng cho khả năng chuyển “uy tín đạo hạnh” thành “uy tín tri thức”, rồi chuyển uy tín tri thức thành một thiết chế phục vụ xã hội. Cũng như Lô Sơn khiến Huệ Viễn không chỉ là một Sa-môn đơn độc đứng trước Hoàn Huyền, Vạn Hạnh khiến các bậc giáo phẩm của GHPGVNTN không chỉ hiện diện như những người lãnh đạo tôn giáo, mà còn đứng sau một môi trường giáo dục đào tạo và tư tưởng có khả năng đối thoại với cả xã hội.
Từ Huệ Viễn đến kinh nghiệm Phật giáo Việt Nam thế kỷ XX, vì thế, có thể nhận ra một nguyên tắc xuyên suốt: thẩm quyền tinh thần không được bảo đảm bởi chức vị và cũng không thể được quyền lực chính trị ban phát trọn vẹn. Nó phải được tạo lại trong mỗi thế hệ bằng giới hạnh, trí tuệ và thành quả giáo dục.
Đó cũng là ý nghĩa sâu nhất của Sa-môn bất kính vương giả. Vấn đề cuối cùng không phải ai bái lạy ai, mà là một cộng đồng tu hành có đủ nội lực để giữ lý tưởng giải thoát của mình trước quyền lực, đồng thời có đủ trí tuệ và từ bi để biến sự độc lập ấy thành lợi ích cho xã hội hay không. Lô Sơn trả lời bằng Huệ Viễn và cộng đồng danh sĩ–dịch thuật quanh ông; Phật giáo Việt Nam trước năm 1975 đã từng trả lời bằng một Giáo hội có Hiến chương, một Viện Đại học Vạn Hạnh và một thế hệ Tăng sĩ–trí thức đưa Phật học vào giữa đời sống tư tưởng của dân tộc. Chính tại điểm gặp giữa đạo hạnh, trí thức và thiết chế ấy, “phương ngoại” mới có thể “thỏng tay vào chợ” mà không đánh mất bản chất xuất thế của Phật pháp."
________
Đọc toàn bài theo link:
https://thuvienphatviet.com/thich-nhuan-chau-sa-mon-bat-kinh-vuong-gia-luan/