02/06/2024
Bát thuần quái Quan quỷ sát:
Khảm long khôn thỏ chấn sơn hầu
Tốn kê càn mã đoài xà tẩu
Cấn hổ ly trư vi sát diệu
Bát phương lai thủy bất vọng cầu
Có sách viết khác:
Khảm long khôn thỏ chấn sơn hầu
Tốn kê càn mã đoài xà tẩu
Cấn hổ ly trư vi sát diệu
Phạm chi trạch, mộ nhất thời hưu
Khảm kị rồng, khôn kị thỏ (mão), chấn kị khỉ, tốn kị gà, càn kị ngựa, đoài kị rắn, cấn kị hổ, ly kị lơn. Nhà hoặc mộ phạm phải đều xấu.
Cách tính:
Kinh dịch có 64 quẻ kép, trong đó có 8 quẻ thuần quái. Cách tính quan quỷ sát là lấy các hào quan quỷ có trong 8 quẻ thuần (thuần càn, thuần khảm, thuần cấn, thuần chấn, thuần tốn, thuần ly, thuần khôn, thuần đoài) Mỗi quẻ có 6 hào thì có thể là hào huynh đệ, tử tôn, thê tài, quan quỷ, phụ mẫu... Quẻ khảm thấy thìn là quan quỷ, khôn thấy mão, chấn thấy thân, tốn thấy dậu, càn thấy ngọ, đoài thất tị, cấn thấy dần, ly thấy hợi. Để cho dễ nhớ dễ thuộc do vậy cổ nhân đã sáng tác ra bài thơ quan quỷ sát như giới thiệu ở trên và áp dụng chúng vào thực tế. Nếu ai bói kinh dịch lục hào sẽ hiểu cách thức tìm ra hào quan quỷ kiểu gì. Quẻ càn thuộc kim thì khởi đầu tính hào huynh đệ là kim, tiếp theo dùng ngũ hành tương sinh tính thuận các hào tử tôn, thê tài, quan quỷ, phụ mẫu...
Quẻ khảm thuộc thủy : huynh đệ thuộc thủy
Quẻ cấn, khôn thuộc thổ: huynh đệ thổ
Chấn, tốn thuộc mộc: huynh đệ mộc.
Quẻ ly hỏa: huynh đệ thuộc hỏa
Quẻ càn, đoài thuộc kim: huynh đệ kim.
Ví dụ cụ thể về quẻ càn thuộc kim thì huynh đệ kim, tử tôn thủy, thê tài mộc, quan quỷ hỏa, phụ mẫu thổ.
Nạp địa chi cho quẻ. Quẻ dương thì nạp địa chi dương thuận khởi, quẻ âm thì nạp địa chi âm nghịch khởi:
Càn, chấn từ tý khởi thuận
Khảm từ dần khởi thuận
Cấn từ thìn khởi thuận
Tốn từ sửu khởi nghịch
Ly từ mão khởi nghịch
Khôn từ mùi khởi nghịch
Đoài từ tị khởi nghịch
Ví dụ quẻ "càn, chấn" thuận khởi từ tý tính theo địa chi dương : Tý> dần> thìn> ngọ> thân> tuất
Hào 1: tý thủy
Hào 2: Dần mộc
Hào 3: Thìn thổ
Hào 4: Ngọ hỏa
Hào 5: Thân kim
Hào 6: Tuất thổ
Ta thấy bên trên nhắc tới quan quỷ thuộc hỏa thì trong quẻ càn có Ngọ thuộc hỏa, hào thứ 4 là quan quỷ, do đó ta lấy quẻ thuần càn có ngọ làm quan quỷ. Ta thấy câu thơ Tốn kê, càn mã, đoài xà tẩu. Thì hiểu là quẻ tốn có hào dậu là quan quỷ, quẻ càn có hào ngọ là quan quỷ, quẻ đoài có hào tị là quan quỷ... đại để các câu thơ khác cũng nên hiểu như vậy.
Còn áp dụng quan quỷ sát thì sao, xin thưa với các quý thầy, trong nhân gian thì vô vàn cách hiểu của các thầy nên hình thức áp dụng vào các trường hợp đều không giống nhau, và thầy nào cũng tự cho cách của mình là đúng, nên thường xẩy ra mâu thuẫn trên diễn đàn. Điều tệ hại là có cơ số gia đình bị các thầy hại mà không biêt. Tôi lấy ví dụ:
Áp dụng cho dương trạch có vài kiểu như sau:
Câu thơ: Khảm long, khôn thỏ, chấn sơn hầu.
Qua giao lưu tiếp xúc không ít các thầy nên tôi tổng hợp lại rất nhiều cách hiểu và cách áp dụng.
Ví dụ 1:
Từ: khảm long, ta hiểu là " khảm thì kị rồng "
Có thầy nói nhà tọa khảm thì đại kị khai môn vị trí cung thìn ( thìn, tốn, tị là phương vị quẻ tốn ) do ứng với câu " khảm long". Thậm chí có thầy còn vơ đũa cả nắm nói là nhà tọa khảm thì không được khai môn vị trí đông nam vì cho rằng vị trí " thìn" ở trong quẻ tốn thuộc hướng đông nam.
Có thầy nói : Nhà tọa khảm thì đại kị nước đến hoặc đi tại cung thìn. Có thầy thì nói nước đến tại thìn thì phạm quan quỷ sát nhưng nước đi tại vị trí này là tốt. Có thầy lại không cần quan tâm tới quan quỷ sát mà dùng đúng kiến thức dịch lý để vả vào lý thuyết quan quỷ sát cho rằng: Xét theo khía cạnh " trạch quái " nhà tọa khảm thì khai môn cung tốn sẽ là cung sinh khí, đại cát lợi. Tức vị trí cung tốn bao gồm cả cung thìn trong đó. Nếu như thầy này hiểu sâu một chút thì nói, nhà tọa khảm khai môn cung tốn sinh khí thì cần tránh cung thìn là do phạm quan quỷ sát. Tóm lại mở cổng tại cung tốn sẽ có 2 quan điểm trái ngược nhau.
Ví dụ 2:
Khảm kị rồng áp dụng cho xem ngày làm nhà, ngày cất nóc, ngày nhập trạch:
Có thầy cho rằng nhà nhìn hướng khảm tức hướng bắc thì tránh xây cất vào năm rồng, tháng rồng, ngày rồng, giờ rồng. Thậm chí người tuổi rồng cũng đại kị hướng này. Nếu nhà nhìn hướng khảm mà chọn giờ thìn động thổ hoặc cất nóc sẽ phạm phải quan quỷ sát. Có thầy còn kiêng kỹ hơn khi chọn tuổi làm nhà dù được tất cả các yếu tố tốt rồi nhưng tuổi này phạm quan quỷ sát với hướng nhà thì cũng bị loại.
Cách hiểu thứ 2 về chữ Khảm long khi áp dụng quan quỷ sát với câu khảm long, là nhà tọa khảm chứ không phải nhà hướng khảm. Tức nhà tọa bắc chứ không phải nhìn hướng bắc rồi vận dụng tất các tình huống tôi kể trên, nếu cái gốc này mà hiểu khác một chút thì ta sẽ có sự thiên biến vạn hóa trong đó, dẫn tới các thầy mặc sức làm theo cách hiểu riêng của mình trong nhân gian, và ai cũng tự vỗ ngực mình cho rằng ta đây mới là "chân thư".
Ví dụ 3: Khảm thì kị rồng áp dụng cho âm trạch. Lúc này thì phức tạp hơn dương trạch rồi đây. Có thầy nói mộ nhìn hướng khảm tức hướng bắc thì kị nước đến tại vị trí cung thìn và đi tại thìn. Nhưng có người nói chỉ kị đến tại thìn nhưng đi tại thìn thì tốt, nói vậy thì có hiểu biết một chút về hoàng tuyền cứu bần. Còn ông thầy nói cả đến và đi đều tốt thì cần xem lại. Có thầy cho rằng mộ nhìn hướng khảm thì kị vong mạng ( mạng người chết ) tuổi thìn, nếu vong mạng tuổi thìn mà nhìn hướng bắc sẽ phạm quan quỷ sát, ghê chưa. Có thầy cho rằng mạng người chết không được phép an táng vào năm thìn, tháng thìn, ngày thìn, giờ thìn vì phạm quan quỷ sát. Cứ dính đến chữ thìn tức phạm.
Lavkinh thấu giải viết về quan điểm áp dụng quan quỷ sát thì sao. Có câu viết tôi đã từng chụp ảnh sách và đăng trong nhóm về cách vận dụng Quan quỷ sát " Long kị lai thủy, lập hướng kị khắc long" nghĩa là khảm long sẽ kị nước đến tại thìn, nhưng về khảm long gồm có 3 long nhâm tý quý, tức lai long đến từ cung nhâm tý quý sẽ kị nước đến từ cung thìn. Câu lập hướng kị khắc long thì tùy các thầy thích hiểu kiểu nào thì hiểu, tôi không dám bàn vì thực sự sợ các thầy vả vào mồm. Tôi xin lấy hình ảnh 1 quẻ kinh dịch đăng phía dưới để các thầy cùng hiểu quan quỷ sát được rút ra từ 8 quẻ thuần kinh dịch. Trân trọng!