Cyamba - thuyết minh du lịch về Champa

Cyamba - thuyết minh du lịch về  Champa

แชร์

Diễn đàn nghiên cứu, trao đổi, và học tập kiến thức, kinh nghiệm thuyết minh du lịch về Cổ Vương Quốc CHAMPA

20/01/2023

"Quốc hoa" của vương quốc Cham-pa sao lại được ưa chuộng thế nhỉ ?

Từ Đại Nội Huế đến các lăng vua Nguyễn, đến tận hoàng cung Xiêm cũng thấy những cội sứ già.

* Có gì sai sai không ?

Ảnh : cội sứ già trong hoàng cung Xiêm (The Grand Palace, Bangkok, Thailand).

18/01/2023

Gia phả dòng vương triều sau cùng của Nưng-cần Chăm

Người Chăm hiện nay và tổ tiên là theo mẫu hệ, từ bình dân cho đến vương gia. Quyền nối ngôi cũng thế, ngai vàng được truyền cho chồng của con gái Út.

Khi Masero viết lịch sử Cham-pa (1928) ông cứ dựa trên quan điểm ‘truyền ngôi phụ hệ’ để mà từ đó có những lập luận như là : kẻ cướp ngôi, người được quần thần đưa lên ngôi, v.v. (do khi thấy người nam nối ngôi không phải là con trai của tiên vương). Cái sự lầm lẫn đó cứ được các thế hệ nghiên cứu hậu sinh "nhắm mắt" tin theo, mặc dù ai cũng biết hát điệp khúc "người Chăm theo mẫu hệ".

Không chỉ những người ngoại tộc, ngay cả Po Dharma là một nhà nghiên cứu Cham-pa nổi tiếng, là một người Việt Nam gốc Chăm, cũng đi theo lối mòn, hay cái "bẫy phụ hệ" đó. Điều này nhận ra khi ông viết bài giới thiệu về Biên niên sử Vua Cham-pa / Sakkarai Dak Rai Patao. Trong đó, ông lập luận vị vua này xuất thân không từ hoàng tộc, vị vua kia không biết từ đâu ra, v.v. Và nhất là khi ông nói rằng bà Nguyễn Thị Thềm (đã mất vào năm 1995) là dòng dõi vị vua sau cùng là Po Phaok The (?; 1828-1832) Nguyễn Văn Thừa.

Trong khi đó, theo Đại Nam Thực Lục thì bà thuộc dòng dõi từ (con gái của) vị vua Po Tisuntiraydapuran (?; 1786 - 1793), tên Việt là Nguyễn Văn Tá 阮文佐。

Và (giả thuyết) Nguyễn Văn Thừa là chồng của một công chúa được nối dòng mẫu hệ cũng từ Nguyễn Văn Tá, nhưng thuộc chi khác. Bà Thềm không phải là hậu nhân trực tiếp từ Nguyễn Văn Thừa !

* Thông tin lưu truyền hiện nay tại Bình Thuận (từ dân gian đến chính quyền), thì lại còn “nâng cao” hơn nữa (?!”) khi nói rằng bà Thềm là truyền nhân từ vua Po Klaong Mah Nai (?; 1622-1627) và kho báu hoàng gia mà nhà của bà đang gìn giữ là của vị vua này. Đây là một lập luận không đủ chứng cứ và còn nhiều thiếu sót (nếu như không muốn nói là sai).

Chỉ là những nhận định cá nhân. Mời quý vị góp ý, chém gió và ném đá !

Ảnh : sơ đồ giả thuyết về gia phải của dòng vương triều sau cùng của Chiêm Thành.

Mỗ NQT.

Chút rãnh rỗi một buổi sáng cuối năm Nhâm Dần.

Photos from Cyamba - thuyết minh du lịch về  Champa's post 10/11/2022

Champa tại Ấn Độ

DẪN : Có những sự việc, thế giới đã biết lâu rồi. Tại Việt Nam cũng thế. Riêng với NQT, người tự nhận bị "Chàm ám" từ cuối năm 2008, thì cũng đã vỡ lẽ được nhiều điều từ lúc bị "ám" đó.

Đến năm 2022, tức là 14 năm sau, có người đọc được những thông tin như thế (nghĩa là chả có gì mới) thì tưởng mình là người đầu tiên để mà mặc sức mạ lỵ thiên hạ, để rồi được Thạch Trung Tuệ Nguyên tặng cho một câu "Vơ được 1 đoạn đâu đó rồi xem thiên hạ chẳng ra gì !".

Trong 2 ảnh kèm theo là 2 trong số các thông tin về Champa ở Ấn Độ được NQT giới thiệu trong "Champa - Nhận diện", tài liệu lưu hành nội bộ, ấn hành lần đầu vào năm 2012, phiên bản nâng cấp hồi năm 2017.

NỘI DUNG : Xem thêm chi tiết tại mỗi ảnh, được trích từ tài liệu trên.

* Ảnh 1 : Thời cổ đại, Champa là tên kinh đô của vương quốc Anga, một trong mười sáu đại vương quốc (mahajanapadas) vào thế kỷ VI đến thế kỷ III trước công nguyên và là vương quốc phồn thịnh, nằm ở phía đông của tiểu lục địa Ấn Độ. Champa nằm ở hữu ngạn sông Hằng, gần nơi giao nhau với sông Champa (ngày nay có tên là Chandan). Là một trong sáu thành phố chính của Ấn Độ cổ đại, Champa được ghi nhận với sự giàu có, một trung tâm giao thương lớn và quan trọng.

Thương nhân Champa thường xuyên d**g buồm tới lui với vùng Kim Lân (Survanabhumi) để mua bán và trao đổi hàng hóa. Vị trí của thành phố Champa ngày nay có thể nhận ra qua hai ngôi làng có tên ‘Champanagara’ và ‘Champapura’ ở gần thủ phủ Bhagalpur thuộc bang Bihar, Ấn Độ.

* Ảnh 2 : Tiến sĩ Nhuế Truyền Minh, giáo sư Sử học đang giảng dạy tại trường đại học Khoa học Xã hội Thượng Hải, đã tra cứu, rồi gia công chú thích sách của nhà sư Trần Huyền Trang (thế kỷ VII). Ông Nhuế ghi rằng :

Chiêm Ba còn gọi là Chiêm Bà, Thiệm Bà, phiên âm tiếng Phạn Campa, dịch nghĩa là Thiên Thắng. Nước này có nhiều cây chiêm bà cho hoa màu vàng kim nên có tên ấy (*). Nước nầy là một trong mười sáu nước thời cổ ở Ấn Độ. Đô thành nước ấy nguyên là thủ đô nước cổ Uyên Già, vị trí nằm giữa sông Chiêm Bà (nay có tên là Chàndan) đến bờ sông Hằng. Di chỉ hiện nay là Chiêm Ba Na Gia Nhĩ, không xa về phía tây Ba Gia Nhĩ Phổ Nhĩ (Bhàgalpul) thuộc miền đông bang Tỷ Cáp Nhĩ. Có thuyết cho rằng Phật Thích ca từng hành hóa tại nước nầy.

(*) Chiêm Bác Ca : còn gọi là Chiêm Bà, Chiêm Bặc, Chiêm Bác, hoặc Chiêm Bà Ca, phiên âm tiếng Phạn Campaka nghĩa là hoa Kim Sắc, là một loại cây tỏa mùi hương. Tác giả Huyền Ứng trong sách “Am nghĩa – Quyển 21” viết : “Chiêm Bác hoa xưa gọi là Chiêm Bá Ca, Chiêm Bà Hoa, Chiêm Bặc, Chiêm Bá Ca, đó là Kim sắc hoa”. Sách “Đại Luận“ cho biết cây hoàng hoa to cao. Hoa rất thơm, theo gió tỏa đi rất xa.
- - - - -

Năm 2022, nhà khoa học trẻ Brian Wu (Việt kiều) đã sỉ vả không tiếc lời cho những nhà khoa học ở Việt Nam khi nói Champa là đặt theo tên loài hoa. Không rõ, người trẻ đó khi đọc Nhuế Truyền Minh thì có tiếp tục sỉ ông Nhuế hay không !

Xem bài của Brian Wu tại link https://www.facebook.com/brian.wu.121772/posts/pfbid0zRJMnjz6P9E8vZdb2fMQt4JaFBqqEpBG7RpPhrxwE4trxksqQ271sYgpsup8bGPwl

Photos from Cyamba - thuyết minh du lịch về  Champa's post 24/03/2022

Bởi một lời nguyền trong quá khứ, mà đã có một người đàn ông trở thành vua Cham-pa. Y đã cướp đất nước, thần dân và các vị thần của các ngôi thành Tralauṅ Svon, những đàn bò, đàn trâu. Và tất cả các hạt giống và mầm chồi tại tất cả các tỉnh của nước Cham-pa bị hủy diệt tận gốc rễ...... (dòng 1 và 2 trên minh văn Chiên Đàn).

MINH VĂN CHIÊN ĐÀN - Phiên âm

(1) [A.1] || hetu śanāpa di pūrvvakāla mam̃ n· ma(d)[ā urām̃ ] [B.1] (kā) ñu putau di nagara campa ñu paliṅyak· [naga](ra) urā(m̃ ) ṅan· yām̃ svon(·) hajai tral[au]ṅ[·] lumv(auv)[·] kru[vau ṅan·] sama(s)ta[vījā]ṅkura ru-
(2) [A.2] (ma)ṅ· pramāṇa (na)gara campa avista kā dhvasta nirmū[B.2][la] nau | mam̃ n· yām̃ po ku vijaya śrī harivarmmadeva yam̃ ṅ[·] devatājanma sī purāṇa āgama daḥ viṣṇumūrtti matam̃ l· aliṅyak· (śa)truma-
(3) [A.3] ṇḍala di nagara campa | mam̃ n· devatāmūrtti nan· kā pa(l)[A.3][i]ṅyak·kalikalaṅka avista | pakā bharuv· ra putau di nagara campa ra pajem̃ rumaḥ rājadhānī ṅan· hajai tralauṅ· svon· ṅan· sama-
(4) [A.4] stavījāṅkura kā paripūrṇṇa samū dhiluv· tra | (pa)[kā yām̃ ] [B.4] po ku īśāna ṅan· ya doṃ yām̃ ṅan· puṇya vukan· dadam̃ n· sthāna kā vr̥ddhi mulaṅ· tra | punaḥ ra mak· nagara kmīra lac· paści-
(5) [A.5] {17} [B.5] (sāra) sā vandaḥ niy· avista tra | ra mak· sumrāṅ· dakṣiṇa rumaṅ·krauṅ· patam̃ l· campeśvara avista nau tra | ra tmuv· lac·
(6) [C.1] [s]u(m)rāṅ(·) uttaradiśa rumaṅ· kr(auṅ·) dā {5} [B.6] (na)n· kā jem̃ maṇḍalīka nagara campa mam̃ n· yā(m̃ ) po ku vijaya śrī harivarmmadeva ra vuḥ yām̃ di madhurāpura di pak· (duna)[n·]
(7) [C.2] tra | ra pratiṣṭhā śivaliṅga di harināpura ka(ra)[ṇā] (k)[īr]tt[i] | [B.7] (pa)-kā ra vuḥ kmīra yvan· si mak· nan· di yām̃ hajai tralauṅ· svon· dadam̃ n· sthāna tra ra vuḥ urām̃ dinan· pajem̃ karadā yam̃ di nagara campa {3/4}
( 8 ) [C.3] [de]śāntara ṅan· vanyāga kā ñu tam̃ l· di nagara campa (sa)dāk[āla] [B.8] mam̃ n· nagara campa kā paripūrṇṇa luvaiḥ nariy· dhīluv· | ma(m̃ )n· yām̃ po ku vijaya śrī harivarmmadeva kā (sa)n[t]o[ṣa] {3/5}
(9) [C.4] {2/3} paribhoga ṅan· puṇyadāna nityapr̥tiḥ sadā[B.9](kā)la mam̃ n·

Bản quyền tiếng Anh và tiếng Việt
© Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp
Copyright of the English and Vietnamese Translation
© École française d’Extrême-Orient
All rights reserved

(1–2) Because of a curse in the past, for that reason there was a man who became king in the Campā country, who robbed the country, the people and the gods of the citadel of Tralauṅ Svon, the cows, the buffaloes. And all seeds and sprouts, from all the provinces of the Campā country, then went to radical annihilation.

(2–3) After that Y.P.K. the victorious Śrī Harivarmadeva, who is of divine birth — namely, [according to] the Purāṇas and Āgamas, an incarnation of Viṣṇu —, succeeded in expelling the coalition of enemies in the Campā country. Thereupon that divine incarnation went on to destroy all faults of the Kali (age).

(3–4) Only then (pakā bharuv) he was king in the land of Campā. He built an abode as capital and [he rebuilt?] the citadel of Tralauṅ Svon. And then all seeds and sprouts also (tra) became prosperous as before.

(4) Then my lord the god Īśāna and all the other gods and religious foundations (puṇya), of various places, also prospered again (?, mulaṅ).

(4–7) In turn he took the lac land of the Khmers country in the west ... all of this one part too. He took all of Southern direction from the river to Campeśvara too. He met (?) lac the northern direction, from the river ... then became vassals of the land of Campā. After that my lord his victorious majesty Śrī Harivarmadeva also offered to the gods of Madhurāpura in those four [directions]. He installed a liṅga of Śiva at Harināpura to make fame.

(7–8) Then he offered those Khmers and Viets whom he had captured to the gods of the citadel of Tralauṅ Svon [and those] of various [other] shrines too. He ordered these men to make subject to the taxes of the Campā country ... foreigners and the traders who arrive in the Campā country, always.

(8–9) So the Campā country became even more prosperous than before. Then my lord his victorious majesty Śrī Harivarmadeva became satisfied ... (royal) property and meritorious gifts, permanent pleasure, always!

ต้องการให้ธุรกิจของคุณ โรงเรียน ขึ้นเป็นอันดับหนึ่ง โรงเรียน ใน Bangkok?

คลิกที่นี่เพื่อเป็นสมาชิก?

ที่ตั้ง

ประเภท

เว็บไซต์

ที่อยู่


Bangkok
10200